Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Có sự biểu hiện khác biệt rõ giữa tế bào LXM và tế bào bình thường về biểu hiện của các dấu ấn CD10 (77,08%), CD45 (77,08% + 14,58%), CD34/CD123 (54,2%), CD38/CD34 (52,08%).

Nhận xét: Có sự biểu hiện khác biệt rõ giữa tế bào LXM và tế bào bình thường về biểu hiện của các dấu ấn CD10 (77,08%), CD45 (77,08% + 14,58%), CD34/CD123 (54,2%), CD38/CD34 (52,08%).

Tải bản đầy đủ - 0trang

52



Tình trạng lui bệnh



Hồn tồn



48



100%



về mặt hình thái



Khơng hồn tồn



0



0,0%



< 0,01%



34



70,8%



0,01% - < 0,1%



7



14,58%



≥ 0,1%



7



14,58%



Tồn dư bệnh theo

miễn dịch ( MRD)



Nhận xét: Đánh giá tình trạng lui bệnh trên phương diện hình thái học

100% bệnh nhi đạt lui bệnh hồn tồn. Tuy nhiên khi đánh giá qua MRD

chúng tơi thấy có đến 14,58% bệnh nhi vẫn trong tình trạng nguy cơ cao tái

phát bệnh.

Bảng 3.24 Đánh giá mức độ nguy cơ trước điều trị và

theo MRD sau điều trị.

Nguy cơ

Rất thấp



Trước ĐT

n



Sau ĐT

%



n



%



34(5a)



70,83%



7(2a)



14,58%



41



85,42%



Cao



7



14,58%



7 (7b)



14,58%



Tổng



48



100%



48



100%



Thấp



5a: có 5 bệnh nhi khi chẩn đốn thuộc nhóm nguy cơ cao

2a: có 2 bệnh nhi khi chẩn đốn thuộc nhóm nguy cơ cao

7b: có 7 bệnh nhân khi chẩn đốn thuộc nhóm có nguy cơ thấp

Nhận xét: Tỷ lệ đánh giá nguy cơ trước điều trị dựa vào tuổi mắc bệnh

và số lượng bạch cầu khi chẩn đoán so với chỉ số MRD sau điều trị là như

nhau, tuy nhiên đối tượng bệnh nhân đã thay đổi.



53



Bảng 3.25 Số lượng BC máu ngoại vi và 3 nhóm nguy cơ theo MRD

SLBC máu ngoại vi (x109/l)



n

<0,01



% trong nhóm

SLBC máu



Chỉ số

MRD



0,01-<0,1 % trong nhóm

SLBC máu

n

>=0,1



% trong nhóm

SLBC máu

n



Tổng



% trong nhóm

SLBC máu



2-10



>10-50



>50



3



21



8



2



34



66.7%



50.0%



70.8%



100.0% 72.4%



n



Tổng



<2



0



4



1



2



7



.0%



13.8%



8.3%



50.0%



14.6%



0



4



3



0



7



.0%



13.8%



25.0%



.0%



14.6%



3



29



12



4



48



100.0% 100.0% 100.0% 100.0% 100.0%



Nhận xét: Trong nhóm có số lượng bạch cầu tăng cao ≥ 50 x10 9/l khơng

có bệnh nhi nào có nguy cơ cao theo chỉ số MRD, nhóm có nguy cơ tái phát

cao theo chỉ số MRD nằm chủ yếu trong nhóm bệnh nhi có số lượng bạch cầu

ngoại vi trong giới hạn bình thường.



54



Bảng 3.26 Tỷ lệ tế bào ác tính trong tủy và mức độ nguy

cơ theo chỉ số MRD

Tế bào ác tính tủy (%)

n

<0,01



% trong nhóm

TB ác tính tủy



Chỉ số

MRD



n

≥0,01-0,1 % trong nhóm

TB ác tính tủy

n

≥0,1



% trong nhóm

TB ác tính tủy

n



Tổng



% trong nhóm

TB ác tính tủy



Tổng



25 - <50



50-75



>75



0



0



2



2



.0%



.0%



5.9%



4.2%



3



8



26



37



75.0%



80.0%



76.5%



77.1%



1



2



6



9



25.0%



20.0%



17.6%



18.8%



4



10



34



48



100.0% 100.0% 100.0% 100.0%



Nhận xét: Trong nhóm có phần trăm tế bào ác tính trong tủy cao (>75%)

đa số bệnh nhân có nguy cơ tái phát thấp,nhóm nguy cơ tái phát cao theo chỉ

số MRD đều có mặt trong các nhóm tế bào tủy ác tính khác nhau. Chúng tơi

thấy tỷ lệ tế bào ác tính trong tủy xương khi chẩn đốn và các nhóm nguy cơ

đánh giá theo chỉ số MRD không tương quan.



Chương 4

BÀN LUẬN



55



4.1 Một số đặc điểm dịch tễ nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

4.1.1 Đặc điểm về tuổi.

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi của trẻ. Trong đó

lứa tuổi gặp nhiều trong khoảng 2 đến 5 tuổi mà đỉnh tuổi mắc bệnh là >2-3

tuổi, tỷ lệ này giảm dần theo tuổi. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả một

số nghiên cứu trong nước và nước ngồi. Tác giả Nguyễn Cơng Khanh (1988)

thấy rằng gần 50% trẻ mắc bệnh trước 5 tuổi và giảm dần ở trẻ lớn, tác giả

Trần Thị Hồng Hà (2004)[53] tỷ lệ mắc bệnh cao ở lứa tuổi 2-5 tuổi và đỉnh

mắc bệnh là > 4-5 tuổi. David G. Poplack (1993) và Clavel J. (2000)[63] đã

tổng kết thấy đỉnh tuổi mắc bệnh khoảng 4 tuổi hoặc từ 2-5 tuổi. Cũng theo

một số tác giả cho rằng đỉnh tuổi mắc bệnh thay đổi ở các nước khác nhau

vào những thời điểm khác nhau.

4.1.2 Đặc điểm về giới.

Kết quả nghiên cứu thấy tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ, tỷ lệ

Nam/Nữ là 1,2/1. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của nhiều

tác giả. Theo Nguyễn Ngọc Minh, tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm 52,8%, Nguyễn

Thị Minh An thì tỷ lệ Nam /Nữ là 1,3/1. Kết quả nghiên cứu Nguyễn Công

Khanh và Dương Bá Trực cho biết tỷ lệ Nam/Nữ là 1,5/1 và Trần Thị Hồng

Hà (2004) là 1,6/1. Theo Gunz F (Mỹ) , từ năm 1974 đã thấy tỷ lệ mắc bệnh

của nam cao hơn nữ và cho rằng nguyên nhân chính là do vai trò của nội tiết

tố giới, tuy nhiên giả thiết này còn chưa được đánh giá một cách rõ ràng.



56



4.1.3 Đặc điểm xếp loại thể bệnh trong nhóm nghiên cứu.

Xếp loại thể bệnh dựa vào miễn dịch học, trong nghiên cứu này do sự

hạn chế của panel dấu ấn miễn dịch sử dụng chúng tôi không phân tách được

dưới nhóm B sớm, do đó chúng tơi chỉ xếp thành 2 dưới nhóm là Pre-B và B

trưởng thành, kết quả cho thấy đa số thuộc dưới nhóm Pre-B (chiếm 95,83%),

dưới nhóm B trưởng thành rất ít gặp (chỉ chiếm 4,17%), kết quả này tương

đối phù hợp với nghiên cứu Nguyễn Phương Liên (2011) cho thấy tỷ lệ bệnh

nhân nằm trong dưới nhóm B trưởng thành là 3%, của Hồng Chí Cương

(2014) là 6,8% [58],[64].



57



4.2 Một số đặc điểm tế bào máu và tủy xương trước và sau điều trị tấn công.

4.2.1 Một số đặc điểm tế bào máu ngoại vi trước và sau điều trị.



58



Nhận xét chung trung bình về các chỉ số huyết học trước điều trị chúng

tôi thấy nhóm bệnh nhân nghiên cứu có biểu hiện thiếu máu mức độ vừa, số

lượng bạch cầu tăng, số lượng tiểu cầu giảm. Tuy nhiên số lượng bạch cầu có

giải phân bố khá rộng (SLBC trung bình 15,98 ± 23,94 x109/l), dao động

trong khoảng 1,0 - 126,78 x109/l, tương tự số lượng tiểu cầu trung bình giảm

ở mức nhẹ ( 96,27 ± 99,53 x10 9/l) và khoảng dao động từ 7 - 459 x10 9/l, tỷ lệ

tế bào non ác tính ra máu ngoại vi dao động từ 0 - 90%. Số lượng tế bào tủy

tăng cao và dòng hạt máu ngoại vi và trong tủy xương đều giảm. Kết quả này

tương đồng với kết quả của một số nghiên cứu trước và cũng phù hợp với

hình ảnh lâm sàng của bệnh. Tuy nhiên khi phân tích chi tiết từng chỉ số huyết

học chúng tơi thấy vẫn có một số điều cần lưu ý. Nghiên cứu về chỉ số bạch

cầu máu ngoại vi chúng tơi thấy khi chẩn đốn số bệnh nhi có số lượng bạch

cầu tăng cao (>50x109/l) và tăng trung bình (>10-50 x10 9/l) chỉ chiếm 7,3%

và 23,6%, đa số bệnh nhi có số lượng bạch cầu trong giới hạn bình thường

(chiếm 63,6%) và chủ yếu gặp trong nhóm tuổi bênh nhi 1-5 tuổi. Bệnh LXM

cấp là bệnh lý ác tính dòng bạch cầu với đặc trưng là sự tăng sinh và lấn át

của các tế bào đầu dòng trong tủy xương, Tuy nhiên ta thấy rằng số lượng

bạch cầu ở máu ngoại vi không hẳn đã tăng cao cùng với sự tăng số lượng

bạch cầu trong tủy. Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy đa phần số bệnh

nhân có số lượng bạch cầu trong giới hạn bình thường. Cũng như đặc điểm số

lượng bạch cầu ngoại vi trong nhóm nghiên cứu, số lượng bạch cầu hạt trung

tính còn ≥0,5x 109/l chiếm tỷ lệ cao (54,5%), số bệnh nhân có SLBC trung

tính ngoại vi giảm rất nặng (<0,2x 109/l) chỉ chiếm (16,4%).Tỷ lệ bệnh nhi

có số lượng bạch cầu tăng cao và số lượng bạch cầu hạt trung tính giảm nặng



59



ở máu ngoại vi trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn sơ với nghiên cứu

của một số tác giả trước đó : nghiên cứu của Trần Thị Hồng Hà năm 2004 cho

thấy tỷ lệ bạch cầu cao > 50 x109/l chiếm 31,68%, tỷ lệ bạch cầu trung tính

ngoại vi <0,2x109/l chiếm 27,95%; nghiên cứu của David G. Poplack (1993) ,

Berg S.L (2000) cho thấy SLBC cao >10x10 9/l khoảng 50%, tỷ lệ SLBC tăng

rất cao chiếm khoảng 20-25%. Tỷ lệ thấp hơn trong nghiên cứu này so với các

tác giả trước đó phải chăng bệnh đã có sự thay đổi hay do nhờ vào nhiều kỹ

thuật tiên tiến các bệnh nhi đã được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm hơn. Sau

điều trị đa số bênh nhi có số lượng bạch cầu trở về bình thường, khơng còn

bệnh nhi nào có số lượng bạch cầu tăng >50x10 9/l, gần 100% bệnh nhân có số

lượng bạch cầu trung tính > 0,5x109/l.

Phân tích biểu hiện mức độ thiếu máu dựa vào chỉ số Hb trong nghiên

cứu này chúng tôi thấy hầu hết có biểu hiện thiếu máu, nhưng chỉ ở mức độ

vừa phải (60-100 g/l) chiếm 65,5%, thiếu máu nặng (Hb< 60g/l) chỉ chiếm

7,3%. SLTC giảm giảm chiếm khoảng 2/3 số trường hợp, trong đó tiểu cầu

giảm nặng chiếm đa số, có 5 bệnh nhi SLTC chỉ còn < 20x10 9/l. Tuy nhiên

vẫn có đến 34,5% số bệnh nhi có SLTC trong giới hạn bình thường. Sau điều

trị hầu hết số bệnh nhi có SLTC trở về mức bình thường, thậm chí có nhiều

bệnh nhi có SLTC cao > 500 x10 9/l. Khơng còn bệnh nhi nào có biểu hiện

thiếu máu nặng, tỷ lệ Hb >100g/l lên đến 47,3%. Tỷ lệ tế bào ác tính là một

yếu tố quan trọng để có thể chẩn đốn LXM cấp. Theo bảng 3.5 tỷ lệ tế bào ác

tính máu ngoại vi < 25% trong công thức phân loại bạch cầu là chủ yếu

(chiếm 78,2%), tỷ lệ bệnh nhi có % tế bào ác tính > 75% chiếm tỷ lệ thấp

(5,5%), trong nhóm có tỷ lệ tế bào ác tính < 25% có đến 2/3 trong số đó



60



khơng xuất hiện tế bào ác tính trong máu ngoại vi. Trong nghiên cứu này ta

thấy có một tỷ lệ khá cao số bệnh nhi có biểu hiện máu ngoại vi SLBC trong

giới hạn bình thường hoặc SLTC bình thường, thiếu máu nhẹ hoặc khơng

thiếu máu và khơng có tế bào ác tính nhưng vẫn được chẩn đoán là LXM cấp.

Bệnh LXM cấp là một bệnh có biểu hiện khơng đồng nhất về các chỉ số máu

ngoại vi do đó cần hết sức thận trọng trong chẩn đốn để tránh bỏ sót bệnh.

4.2.2 Một số đặc điểm tế bào tủy xương trước và sau điều trị.

Xét nghiệm tủy đồ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chẩn đoán cũng

như trong theo dõi tiến triển của bệnh trong quá trình điều trị. Với đặc trưng

của bệnh là sự tăng sinh quá mức của các tế bào đầu dòng trong tủy xương

như vậy sự rối loạn về số lượng tế bào tủy sẽ xảy ra, mức độ rối loạn có khác

nhau trên các bệnh nhi, nghiên cứu này chúng tơi thấy có đến 2/3 trường hợp

có rối loạn về số lượng tế bào trong tủy, trong đó chủ yếu là tăng rất cao

(>200x109/l) chiếm 34,5%, chỉ có 7,3% số ca có sự giảm số lượng tế bào tủy

(<30x109/l). Nghiên cứu cho thấy rằng có tỷ lệ cao tế bào ác tính trong tủy, có

đến 67,3% số trường hợp có tế bào ác tính >75%, theo bảng 3.9 cho thấy

trong nhóm có tỷ lệ tế bào ác tính máu ngoại vi < 25% (43 trường hợp) có đến

28/43 số trường hợp (chiếm 65,1%) ở tủy xương có tế bào ác tính > 75%,

trong nghiên cứu này chúng tơi chưa xét được tính tương quan giữa của hai

chỉ số này có thể do số lượng mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn nhưng ta thấy

chúng cũng khơng có sự tương đồng khi nhận định sơ bộ. Các tế bào ác tính

này lấn át các dòng tế bào khác trong tủy như dòng bạch cầu hạt, dòng hồng

cầu và dòng tiểu cầu. Dòng hạt tủy xương bị lấn át mạnh, dòng hạt chỉ còn 0



61



-20% trong nghiên cứu này chiếm tới 94,5%, chỉ còn 1 trường hợp có dòng

hạt trong giới hạn bình thường (chiếm 2,1%). Sự lấn át dòng hồng cầu và tiểu

cầu biểu hiện là tỷ lệ bệnh nhân có thiếu máu dựa trên Hb là 72,7%, tỷ lệ bênh

nhân có giảm tiểu cầu ngoại vi là 62,5%. Kết quả này tương đối phù hợp với

nhận xét của các tác giả Trần Thị Hồng Hà (2004), Leblanc T.(2000) [62],[53]

thấy rằng ở tủy xương thường thấy tỷ lệ lymphoblast từ 70-100% khiến các

dòng tế bào bình thường bị lấn át nặng, thậm chí hồn tồn, trong nghiên cứu

này chúng tơi thấy có trường hợp khơng còn bạch cầu hạt trung tính trong

máu ngoại vi, nhiều trường hợp dòng hạt trong tủy xương chỉ còn < 5% thậm

chí khơng còn. Sau giai đoạn điều trị tấn cơng bằng hóa trị liệu khơng còn

bệnh nhân nào có số lượng tế bào tủy tăng, số trường hợp có số lượng tế bào

tủy trở về bình thường chiếm 60,0%, có đến 25,5% có số lượng tế bào tủy

giảm < 30 x109/l, số trường hợp có dòng hạt tủy xương trở về bình thường >

30% chiếm đa số (69,1%), vẫn còn 12,7% số trường hợp có giảm dòng hạt tủy

< 20% đa số những trường hợp này có tỷ lệ tế bào ác tính trong tủy tăng rất

cao ( % tế bào ác tính trong tủy >85%)

4.3 Một số đặc điểm miễn dịch tế bào trong nhóm nghiên cứu trước và

sau điều trị.

4.3.1 Đặc điểm miễn dịch tế bào của nhóm nghiên cứu khi chẩn đoán,

Nhận xét chung về các dấu ấn miễn dịch được nghiên cứu chúng tơi thấy

tế bào non ác tính trong LXM cấp dòng lympho biểu hiện dương tính với các

dấu ấn non CD10,CD38 và CD34 với tỷ lệ rất cao lần lượt là 95,83%, 89,58%

và 66,67%, kết quả này cũng tương tự nghiên cứu của Ludwig WD và cs



62



(1997), tỷ lệ CD34 dương tính là 58% [59]. Một nghiên cứu khác cũng cho

thấy, CD34 dương tính trong 70% các trường hợp [60],[61]. Dấu ấn CD10

dương tính trong hầu hết các trườn hợp, có 10,42% các bệnh nhi âm tính với

dấu ấn CD38 và dấu ấn CD34 âm tính trong 33,33% số trường hợp. Từ đó

chúng tơi thấy rằng một quần thể tế bào non ác tính khơng nhất thiết phải có

đủ các dấu ấn non, hay nói một cách khác một tế bào non ác tính có thể mang

một hoặc nhiều dấu ấn non. Trong số các dấu ấn đặc trưng dòng lympho B

được khảo sát 100% dấu ấn CD19 có biểu hiện dương tính và mức độ biểu

hiện phần lớn ở mức bình thường (87,5%), có 12,5% có biểu hiện quá mức.

Như vậy ta thấy dấu ấn CD19 là một dấu ấn rất đặc trưng cho tế bào dòng

lympho nói chung và tế bào ác tính dòng lympho nói riêng, đây là dấu ấn rất

tốt để chúng tôi sử dụng để “khoanh vùng” tế bào dòng lympho trong q

trình xác định MRD. Khi phân tích mức độ biểu hiện của dấu ấn non dòng

lympho B là CD10 chúng tơi cũng thấy 95,8% các trường hợp dương tính của

CD10 thì đa số các trường hợp có biểu hiện quá mức chiếm 77,08%, có 9/47

trường hợp có biểu hiện ở mức bình thường, kết quả này phù hợp với kết quả

nghiên cứu của Trần Thị Hồng Hà và cs (2014)[45]. Cũng tương tự như dấu

ấn CD10, dấu ấn CD79a dương tính hầu hết trong các quần thể tế bào ác tính

nghiên cứu chiếm 97.92%. Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong và ngồi

nước cũng cho tỷ lệ dương tính cao, điều này cũng dễ hiểu bởi các dấu ấn này

xuất hiện trong hầu hết các giai đoạn phát triển và biệt hóa của tế bào dòng

lymphoB. Phân tích mức độ biểu hiện của dấu ấn tế bào gốc CD34 chúng tôi

cũng thấy tỷ lệ cao số các trường hợp dương tính của CD34 có biểu hiện q

mức (58,3%), số trường hợp có mức độ biểu hiện bình thường chỉ chiếm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Có sự biểu hiện khác biệt rõ giữa tế bào LXM và tế bào bình thường về biểu hiện của các dấu ấn CD10 (77,08%), CD45 (77,08% + 14,58%), CD34/CD123 (54,2%), CD38/CD34 (52,08%).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×