Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguyên nhân rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK là đa yếu tố: yếu tố sinh học, thần kinh, miễn dịch, di truyền, môi trường, thói quen nuôi dạy con không có lợi cho giấc ngủ nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK và y

Nguyên nhân rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK là đa yếu tố: yếu tố sinh học, thần kinh, miễn dịch, di truyền, môi trường, thói quen nuôi dạy con không có lợi cho giấc ngủ nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK và y

Tải bản đầy đủ - 0trang

69



Kỳ với mục tiêu tương tự như nghiên cứu của chúng tơi có tổng điểm CSHQ

của nhóm trẻ RLPTK là 67,36 ± 9,56 cao hơn của nhóm chứng 59,96 ± 5,26

[45]. Kết quả khảo sát được bằng thang CSHQ chỉ ra trẻ RLPTK gặp nhiều

vấn đề giấc ngủ hơn trẻ bình thường thuộc nhóm chứng. Với điểm cut-of là 41

điểm (theo Owens 2000) [42] trong nghiên cứu của chúng tôi có 95/117 trẻ

RLPTK có vấn đề về giấc ngủ chiếm tỉ lệ 81,2% cao gấp đơi so với nhóm

chứng là 42/117 chiếm tỉ lệ 35,9% (p<0,01). Trẻ RLPTK có vấn đề về giấc

ngủ gặp tỉ lệ cao so với trẻ bình thường trong nghiên cứu của chúng tơi đã

được chứng minh rất nhiều trong các nghiên cứu khác trên thế giới. Tại Hoa

Kỳ, năm 2006 khảo sát trên 167 trẻ RLPTK (sử dụng nhật ký giấc ngủ, thang

CSHQ, PSG) Liu X và CS ghi nhận tỉ lệ có vấn đề giấc ngủ là 40-80 % [6],

năm 2008 (sử dụng thang CSHQ khảo sát trên 303 trẻ RLPTK, 63 trẻ chậm

phát triển, 163 trẻ bình thường) Krakowiak và CS cũng cho thấy các vấn đề

về giấc ngủ ở nhóm trẻ RLPTK và nhóm chứng tương ứng là 53% và 32%

[10], Souder 2009 ghi nhận tỉ lệ có vấn đề giấc ngủ là 66 % ở trẻ RLPTK và

45% ở trẻ bình thường (sử dụng thang CSHQ và Actigraphy) [45]. Năm 2015,

Irwanto cũng sử dụng thang CSHQ khảo sát giấc ngủ của 25 trẻ RLPTK

( 4,8±1,5) ở Indonesia so sánh với 25 trẻ RLPTK (7,7 ±1,7 tuổi ) ở Nhật Bản,

cũng cho thấy tỉ lệ trẻ có vấn đề về giấc ngủ tương ứng là: 60% và 16%

(p<0.005) [51] Hay kết quả trong một nghiên cứu mới đây năm 2016 tại Hà

Lan (sử dụng thang CSHQ phỏng vấn cha mẹ 68 trẻ RLPTK, 44 trẻ tăng động

giảm chú ý, 243 trẻ bình thường 6-12 tuổi ) có 64,7% trẻ RLPTK có vấn đề về

giấc ngủ cao hơn rõ rệt so với trẻ bình thường chỉ có 25,1% và khơng khác

biệt rõ rệt so với trẻ tăng động giảm chú ý là 63,6% ( (Vander Heijden và CS)

[53].

4.2.1.5. Thời điểm xuất hiện các vấn đề về giấc ngủ ở trẻ.



70



Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận thời điểm xuất hiện các vấn đề về

giấc ngủ ở trẻ RLPTK thường là sau 24 tháng tuổi (54,8%) trong khi đó thời

điểm xuất hiện của nhóm chứng là trước 24 tháng (69%). Nhận định này của

chúng tôi cũng đã được khắng định trong báo cáo nghiên cứu dọc của

Humphreys JS và cộng sự (2013) tại Anh bằng cách phỏng vấn cha mẹ tại các

thời điểm độ tuổi 6tháng; 8tháng; 30 tháng; 42tháng ; 69 tháng ; 81tháng ;

115tháng và 140 tháng tuổi ghi nhận trẻ RLPTK từ 30-140 tháng ngủ ít hơn từ

17 đến 43 phút/ ngày so với trẻ bình thường. Sự khác biệt có ý nghĩa ngay cả

khi đã xem xét các đặc điểm về giới tính, dân tộc thậm chí cả chứng động

kinh và kéo dài đến cả tuổi vị thành niên. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về

thời gian ngủ của 2 nhóm trẻ ở giai đoạn sơ sinh. Ở trẻ RLPTK giảm thời gian

ngủ ban đêm nhiều hơn ban ngày. Thời gian ngủ ban đêm giảm là do trẻ

RLPTK đi ngủ muộn và thức dậy sớm hơn so với trẻ bình thường. Trẻ

RLPTK ở 30 tháng tuổi có 13% thức dậy từ 3 lần trở lên/đêm cao hơn so với

nhóm trẻ bình thường (5%) tuy nhiên lúc 81 tháng sự khác biệt này càng rõ

với tỉ lệ tương ứng là 11% và 0,5%. Những thay đổi trong mơ hình ngủ của

trẻ RLPTK thể hiện rõ nhất trong giai đoạn từ 18 đến 42 tháng tuổi [50].

4.2.1.6. Ảnh hưởng các vấn đế về giấc ngủ của trẻ đến cha mẹ.

Các vấn đề về giấc ngủ của trẻ có ảnh hưởng rõ rệt đến cảm xúc của

cha mẹ trẻ. Cảm xúc khó chịu/ căng thẳng, mệt mỏi, lo lắng, buồn chán của

cha mẹ trẻ RLPTK có vấn đề về giấc ngủ cao hơn có ý nghĩa với p<0,05 so

với nhóm trẻ bình thường. Tuy nhiên cảm xúc cáu giận khác biệt khơng có ý

nghĩa với p>0,05. Cảm xúc nổi bật nhất là cha mẹ trẻ RLPTK cũng như trẻ

bình thường đều cảm thấy lo lắng về con mình có biểu hiện các vấn đề về giấc

ngủ với tỉ lệ 64,2% và 40,5%. Ngoài ra các vấn đề về giấc ngủ của trẻ cũng

gây ảnh hưởng đến giấc ngủ của cha mẹ đặc biệt là việc khó vào giấc ngủ.

Cha mẹ trẻ RLPTK có vấn đề về giấc ngủ bị ảnh hưởng rõ hơn so với cha

mẹ trẻ bình thường có vấn đề về giấc ngủ như khó vào giấc ngủ 63,2% và



71



42,9%; thức giấc giữa đêm 57,9% và 38,1%; thời gian ngủ ít 53,1% và 31%

(p<0,05). Tuy nhiên khơng có sự khác biệt rõ rệt về thời gian thức dậy sớm

của cha mẹ hai nhóm trẻ trên. Có lẽ do cha mẹ hai nhóm trẻ trên vẫn đang

trong độ tuổi lao động lo kinh tế gia đình nên họ vẫn phải đảm bảo giờ thức

dậy phù hợp cho công việc của mình. Một nghiên cứu năm 2008 tại Hoa Kỳ

trên 303 trẻ RLPTK và 163 trẻ bình thường cũng đã ghi nhận sự ảnh hưởng

của các vấn đề về giấc ngủ của trẻ bao gồm 21% vấn đề giấc ngủ ảnh hưởng

đến sinh hoạt hằng ngày ở trẻ, 23% ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình trẻ

trong nhóm trẻ RLPTK và tỉ lệ này là 1,2% và 2,5% trong nhóm trẻ phát triển

bình thường (Krakowiak và CS )[10]. Cũng tại Hoa Kỳ, theo nghiên cứu của

Hall và Graff (2011) tại Alabama- một tiểu bang vùng Đông Nam trên 75

người chăm sóc chính của trẻ RLPTK (trong đó 50 người mẹ, 23 là bố, 2 là

người khác) bằng cách sử dụng thang đo mức độ căng thẳng CHIP (Coping

Health Inventory for Parents) cho thấy có 62,7% cho thấy sự căng thẳng khi

chăm sóc trẻ RLPTK [71]. Người ta cũng nhận thấy mức độ căng thẳng của

bà mẹ được báo cáo là cao hơn sự căng thẳng của người cha [77]. Năm 2008,

bằng cách đánh giá mối tương quan của điểm CSHQ của trẻ và điểm PSQI

(The Pittsburgh Sleep Quality Index)- thang đo chất lượng giấc ngủ của cha

mẹ trẻ trên 106 trẻ RLPTK (8,2 ± 2,7 tuổi) và 168 trẻ bình thường ( 8,6 ± 3,3

tuổi ) tại miền nam California (Mỹ), nghiên cứu của Lopez-Wagner M và CS

đã cho thấy sự ảnh hưởng các vấn đề về giấc ngủ của trẻ rõ rệt đến giấc ngủ

của cha mẹ trẻ đặc biệt là ở trẻ RLPTK với r=0.46, p<0,001 [11]. Một nghiên

cứu khác tại Úc năm 2013 trên 50 trẻ RLPTK (2-5 tuổi) và người chăm sóc

chúng cũng ghi nhận ni dưỡng trẻ RLPTK là một thách thức đáng kể đối

với cha mẹ trẻ, so với các cha mẹ của trẻ phát triển bình thường cha mẹ trẻ

RLPTK cho thấy sự mệt mỏi cao hơn đáng kể. Các yếu tố liên quan đến sự

mệt mỏi như : chất lượng giấc ngủ kém, nhu cầu được giúp đỡ về mặt xã hội

cao, chất lượng hoạt động thể lực kém ngồi ra còn có các căng thẳng, lo lắng,

trầm cảm và làm giảm hiệu quả hài lòng của cha mẹ (Giallo và CS) [78]. Chăm



72



sóc một trẻ mắc RLPTK đã khiến cho nhiều cha mẹ và các thành viên trong

gia đình phải đối mặt với sự căng thẳng, mệt mỏi. Tuy nhiên căng thẳng này

còn trầm trọng hơn nữa khi chăm sóc một trẻ RLPTK có kèm theo rối loạn

giấc ngủ [9]. Do đó rối loạn giấc ngủ khơng chỉ ảnh hưởng đến chất lượng

cuộc sống của trẻ RLPTK mà còn gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống

của người chăm sóc trẻ và gia đình [10]. Vì vậy, quan tâm, phát hiện và chẩn

đoán sớm các rối loạn đi kèm đặc biệt là các vấn đề về giấc ngủ ở trẻ RLPTK

là việc làm cần thiết khơng chỉ góp phần nâng cao hiệu quả can thiệp điều trị

giúp trẻ hòa nhập cộng đồng mà còn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của

người chăm sóc trẻ và các thành viên trong gia đình.

4.3. Mợt sớ ́u tớ liên quan đến giấc ngủ của trẻ RLPTK.

4.3.1. Mối liên quan giữa 1 số yếu tố xã hội học và vấn đề giấc ngủ ở trẻ

RLPTK.

Nghiên cứu của chúng tơi ghi nhận khơng có sự khác biệt về tuổi, giới,

chỗ ở liên quan đến vấn đề giấc ngủ của trẻ RLPTK (p>0,05). Tuy nhiên có

thể thấy rằng các vấn đề về giấc ngủ không chỉ phụ thuộc vào tuổi hiện tại của

trẻ mà còn phụ thuộc vào tuổi trẻ được chẩn đoán tự kỷ và vấn đề can thiệp

sớm. Vì trẻ được chẩn đốn muộn, mức độ tự kỷ nặng thì các rối loạn hành vi

sẽ rất nặng nề trong đó có các vấn đề về giấc ngủ, bên cạnh đó những trẻ độ

tuổi nhỏ hơn được chẩn đốn và can thiệp sớm hơn thì các biểu hiện hành vi

của trẻ sẽ được cải thiện đáng kể trong đó có cả các vấn đề về giấc ngủ. Ngồi

ra các nghiên cứu trên thế giới còn chỉ ra rằng rối loạn phổ tự kỷ có mối liên

quan với nhiễm sắc thể giới tính X [18] nên tỷ lệ RLPTK là nam gặp nhiều

hơn nữ tuy nhiên khi trẻ RLPTK là nữ thì mức độ tự kỷ thường rất nặng và

hay gặp nhiều các rối loạn đi kèm khác hơn, trong đó có cả các vấn đề về giấc

ngủ. Mặt khác những trẻ RLPTK sống ở thành phố bố mẹ có cơ hội tiếp xúc

với các dịch vụ y tế cũng như các phương tiện truyền thông nhiều hơn nên

ngồi việc nhìn nhận về các dấu hiệu điển hình của bệnh thì trẻ thành phố sẽ

được đánh giá tốt hơn về các rối loạn đi kèm.



73



4.3.2. Mối liên quan giữa một số yếu tố của bệnh lý tự kỷ với các vấn đề

giấc ngủ.

Nghiên cứu của chúng tơi ghi nhận trẻ RLPTK ở mức độ nặng, điển

hình, hay gặp các vấn đề về giấc ngủ hơn trẻ RLPTK thể khơng điển hình,

mức độ nhẹ và trung bình (p<0,05). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng

chỉ ra có mối liên quan thuận (r =0,349) giữa tổng điểm các vấn đề về giấc

ngủ của trẻ RLPTK và điểm CARS, trẻ RLPTK có điểm CARS càng cao thì

càng gặp nhiều vấn đề rối loạn trong giấc ngủ. Có lẽ do khi mức độ nặng của

tự kỷ tăng lên (điểm CARS tăng) thì trẻ RLPTK càng có nhiều các rối loạn

cảm giác giác quan, có nhiều rối loạn đi kèm khác, đặc biệt là các hành vi

xung động, tăng động, la hét, khóc…những vấn đề này diễn ra khi trẻ thức

càng nhiều, càng góp phần làm tăng thêm các vấn đề về giấc ngủ của trẻ

RLPTK. Một báo cáo năm 2004 tại Hoa Kỳ khi nghiên cứu 55 trẻ RLPTK có

vấn đề về giấc ngủ cho thấy tổng thời gian ngủ ít hơn trong đêm của trẻ

RLPTK là yếu tố nguy cơ làm gia tăng các rối loạn hành vi ban ngày

(RR=0,19 ; p<0,01) hay các khó khăn hòa nhập xã hội (RR=0,12; p<0,01) và

tăng thêm các triệu chứng chung của chứng RLPTK (RR=0,11; p<0,02) [79].

Điều này có nghĩa là có vấn đề về giấc ngủ cũng góp phần làm tăng lên mức

độ nặng của RLPTK (CARS tăng).

Nghiên cứu của chúng tơi cũng ghi nhận có một mối tương quan nghịch

(r = -0,334) giữa tổng điểm các vấn đề về giấc ngủ của trẻ RLPTK và chỉ số

phát triển DQ. Trẻ RLPTK có DQ càng thấp thì càng có nguy cơ gặp nhiều

các vấn đề rối loạn trong giấc ngủ hơn. Điều này là do trẻ RLPTK mức độ

càng nặng, DQ càng thấp sẽ thường có các rối loạn đi kèm nhiều hơn và

gây ra nhiều các vấn đề về giấc ngủ hơn trẻ RLPTK mức độ nhẹ và vừa

(DQ cao hơn).

Phần lớn trẻ RLPTK phối hợp với nhiều rối loạn khác như tăng động

giảm chú ý, động kinh, táo bón, nơn trớ…Người ta nhận thấy rằng có 50-72%

gen di truyền của trẻ RLPTK và tăng động giảm chú ý có mối liên quan với



74



nhau vì vậy triệu chứng của chúng thường đan xen, chồng chéo và che lấp

nhau [63]. Trên thực tế có nhiều trẻ RLPTK có chẩn đốn ban đầu là tăng

động giảm chú ý và ngược lại. Tăng động giảm chú ý là một rối loạn đi kèm

phổ biến thường gặp ở trẻ RLPTK chiếm tỉ lệ từ 41-83 %[64], [65]. Trẻ tăng

động giảm chú ý đơn thuần đã có thể gặp các vấn đề về giấc ngủ với tỷ lệ rất

cao từ 50-80 % [80]. Chính vì vậy mà trẻ RLPTK có kèm theo tăng động

giảm chú ý càng gặp các vấn đề về giấc ngủ nhiều hơn. Một báo cáo năm

2016 tại Úc của Reynolds và CS khi nghiên cứu mối liên quan giữa một số

triệu chứng của RLPTK với tăng động giảm chú ý ở 164 trẻ tăng động giảm

chú ý tuổi trung bình là 7,7 ± 1,1( trong đó có 35 trẻ được chẩn đoán

RLPTK+ tăng động giảm chú ý) cũng ghi nhận triêụ chứng của RLPTK là

yếu tố nguy cơ làm gia tăng các vấn đề giấc ngủ ở trẻ tăng động giảm chú ý

với OR= 1,5 (1,0 -2,2), p = 0,04 [81].Táo bón là một trong những biểu hiện

rối loạn tiêu hóa thường gặp ở trẻ RLPTK chiếm tỉ lệ 36-45% [66], [67].Các

rối loạn tiêu hóa ở trẻ RLPTK có thể gây ra các đau bụng mãn tính ở trẻ (49%)

hay các triệu chứng đầy hơi, nôn trớ, không dung nạp thức ăn điều đó gây ảnh

hưởng đến giấc ngủ của trẻ RLPTK [66]. Nghiên cứu của Liu X năm 2006 tại

Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng các vấn đề về tiêu hóa là yếu tố gia tăng các vấn đề về

giấc ngủ đặc biệt là mất ngủ ở trẻ RLPTK (OR=1,6; CI=1,0-2,4; p<0,05) [6].

Ngoài ra, các rối loạn đi kèm khác như động kinh cũng dễ gây cho trẻ RLPTK

các rối loạn về giấc ngủ khi mà các cơn giật xảy ra về đêm (động kinh thùy

trán, thùy thái dương) [82] và làm gia tăng tình trạng buồn ngủ ban ngày của

trẻ RLPTK (OR=10,7, CI=3,1-36,7; p<0,05) [5]. Trẻ RLPTK có các vấn đề về

giấc ngủ đặc biệt là ngủ ít lại gây ra ảnh hưởng xấu đến việc kiểm soát cơn

động kinh [83]. Bên cạnh đó, một số rối loạn đi kèm khác như dị ứng cũng

làm gia tăng các vấn đề về giấc ngủ ở trẻ RLPTK (OR=1,4; CI 1,1-1,7;

p<0,05) đặc biệt là hen suyễn (OR=3,1; CI 1,2-8,1; p<0,05) [6]. Tuy nhiên độ

tuổi của trẻ trong nghiên cứu của chúng tơi là dưới 60 tháng nên việc chẩn



75



đốn hen là một vấn đề khó khăn nên chúng tơi khơng đánh giá rối loạn đi

kèm này.

4.3.3. Mối liên quan giữa một số thói quen khi bắt đầu đi ngủ và vấn đề

giấc ngủ của trẻ RLPTK.

Giấc ngủ bị ảnh hưởng từ nhiều yếu tố : mơi trường sống , thói quen

và hành vi khi bắt đầu đi ngủ cũng đã được nhiều nhà khoa học về giấc ngủ

chứng minh các tác động của chúng đến giấc ngủ. Trẻ RLPTK trong nghiên

cứu của chúng tơi được ghi nhận có nhiều thói quen trước khi đi ngủ không

tốt cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng và có lẽ chính điều này đã gây ra các

vấn đề về giấc ngủ cho trẻ RLPTK. Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ năm 2006 cũng

đã ghi nhận 68% trẻ RLPTK có các thói quen khi đi ngủ như là 1 “nghi thức”

để ngủ và các thói quen này cũng góp phần làm gia tăng các vấn đề về giấc

ngủ ở trẻ đặc biệt là các rối loạn “cận giấc ngủ” (parasomnias) (OR=2,4;

CI=1,2-5,0; p<0,05) [6].Trẻ RLPTK có uống sữa trong vòng 1 giờ trước khi

đi ngủ tối có biểu hiện các vấn đề về giấc ngủ cao hơn rõ rệt so với trẻ

RLPTK không uống sữa đặc biệt là với lượng sữa ≥ 150 ml. Do có các rối

loạn về cảm giác-giác quan nên trẻ RLPTK thường xuyên kén chọn thức ăn,

lười nhai, từ chối thức ăn thơ. Trẻ RLPTK được ghi nhận có các rối loạn

về ăn uống gấp 5 lần so với trẻ bình thường [57]. Do lo lắng sự tăng

trưởng về chiều cao, cân nặng của trẻ, cha mẹ trẻ tự kỷ thường xuyên cho

trẻ uống sữa trước khi đi ngủ. Ngoài ra, bên cạnh các rối loạn đi kèm như

rối loạn giấc ngủ, rối loạn hành vi, rối loạn cảm giác-giác quan trẻ RLPTK

cũng được ghi nhận thường xuyên có các vấn đề tiêu hóa. Một nghiên cứu

năm 2006 tại Newyork trên 50 trẻ RLPTK (7,6 ± 3,6 tuổi ), 50 trẻ chậm

phát triển (7,5 ± 3,6 tuổi) và 50 trẻ bình thường (7,9 ± 4 tuổi ) làm nhóm

chứng đã ghi nhận tỉ lệ có vấn đề về tiêu hóa tương ứng là 70%; 42% và

28% [84]. Trẻ RLPTK có thể gặp tình trạng nơn trớ từ 26% - 54% [70],[72]

. Vậy tại sao trẻ RLPTK lại hay gặp các biểu hiện về vấn đề tiêu hóa như

vậy? Người ta thấy rằng trẻ RLPTK có nguy cơ dị ứng cao hơn so với trẻ



76



bình thường [85] Trong đó có một mối liên quan giữa thức ăn và vấn đề

trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ RLPTK [86]. Trẻ RPLTK được ghi nhận

thường có phản ứng quá mẫn với 1 số thành phần thức ăn như gluten (lúa mỳ)

và casein (sữa ). Nhiều bằng chứng khoa học đã chứng minh loại bỏ gluten và

casein góp phần cải thiện triệu chứng của trẻ RLPTK [87]. Một nghiên cứu tại

Anh năm 2014 trên 258 trẻ RLPTK cho thấy chế độ ăn không chứa gluten và

casein có thể gây cải thiện các triệu chứng về dạ dày-ruột (54%), tăng động

giảm chú ý (42%), vấn đề giao tiếp (29%) và tương tác xã hội (25%)

[88].Chính vì vậy việc trẻ uống sữa trước khi đi ngủ có thể là nguyên nhân

gây ra các trào ngược dạ dày thực quản cho trẻ và điều này lại góp phần gia

tăng các vấn đề về giấc ngủ ở trẻ RLPTK. Hiện nay, trên thế giới các nhà

khoa học cũng đang đi sâu vào tìm hiểu các loại sữa có thể làm cải thiện các

triệu chứng của trẻ RLPTK trong đó có việc sử dụng sữa lạc đà. Năm 2015

trong một nghiên cứu mù đôi tại Ả Rập trên 65 trẻ RLPTK (60 nam-5 nữ , từ

2-12 tuổi, trung bình là 7,8 tuổi) bằng cách sử dụng thang đo mức độ tự kỷ

(CARS), thang điểm thích ứng xã hội-Social Responsiveness Scale (SRS) và

bảng kiểm đánh giá điều trị RLPTK- Autism Treatment Evaluation Checklist

(ATEC) cho thấy việc sử dụng sữa lạc đà trong vòng 2 tuần liên tiếp có thể

gây cải thiện đáng kể các biểu hiện của chứng RLPTK[89].Ngoài ra việc trẻ

RLPTK tiếp xúc với điện thoại/tivi cũng như để đèn sáng bình thường khi đi

ngủ cũng gây ảnh hưởng đến nhịp sinh học tiết Melatonin và gây ảnh hưởng

đến giấc ngủ của trẻ. Do sự rập khuân máy móc cùng sở thích bị thu hẹp mà

trẻ RLPTK có vấn đề về giấc ngủ được ghi nhận trong nghiên cứu của chúng

tôi việc yêu cầu mẹ ngủ cùng cũng như yêu câu thú bông/đồ chơi/ vật đặc biệt

để đi vào giấc ngủ cao hơn. Ngồi ra, tiền sử có vấn đề về giấc ngủ của cha

mẹ cũng đã được chứng minh có nguy cơ làm gia tăng vấn đề về giấc ngủ của

trẻ RLPTK (OR=3,3; CI=1,3-8,2; p<0,05) [6].

Tại Hoa Kỳ , năm 2013, Jennifer Delahaye và CS đã ghi nhận mối

tương quan nghịch giữa tống điểm CSHQ đánh giá các vấn đề về giấc ngủ và



77



thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống PedsQL (…..) trên 86 trẻ RLPTK

(từ 4-12 tuổi ) với r = -0,65, p<0,01. Điều đó cho thấy rằng khi các vấn đề về

giấc ngủ của trẻ được cải thiện thì chất lượng cuộc sống của trẻ cũng được

nâng cao [90]. Ngày nay, bên cạnh chẩn đoán, phát hiện sớm các vấn đề về

giấc ngủ cũng đã có rất nhiều các nghiên cứu can thiệp điều trị về giấc ngủ ở

trẻ RLPTK trên thế giới. Các phương pháp điều trị được nói đến như: liệu

pháp hành vi, “vệ sinh giấc ngủ”, yoga trị liệu……….và đặc biệt là việc sử

dụng melatonin bổ sung [16], [38]. Tuy nhiên ở Việt Nam, chưa có đủ phương

tiện để đánh giá định lượng sự thiếu hụt nồng độ của melatonin. Chính vì vậy

mà vấn đề điều trị giấc ngủ cho trẻ RLPTK bằng việc bổ sung melatonin hợp

lý là một vấn đề cần thiết trong tương lai của ngành y học nước nhà nói chung

và Nhi khoa nói riêng.

Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu của chúng tôi chỉ sử dụng thang

CSHQ và bệnh án nghiên cứu được xây dựng dựa trên thang CSHQ để đánh

giá các vấn đề về giấc ngủ của trẻ RLPTK mà khơng có các phương tiện đánh

giá giấc ngủ tốt hơn như : Actigraphy hay PSG để có thể đánh giá tồn diện

và nhiều vấn đề của giấc ngủ hơn.



KẾT LUẬN

Bằng phương pháp nghiên cứu tiến cứu, so sánh bệnh – chứng, sử dụng

thang CSHQ khảo sát đặc điểm giấc ngủ của 117 trẻ tự kỷ và 117 trẻ phát triển

bình thường lứa tuổi từ 24 – 60 tháng, chúng tôi rút ra những kết luận sau:

1. Đặc điểm giấc ngủ của trẻ tự ky:



78



• Trẻ tự kỷ ít có thói quen đi ngủ đúng giờ, ít ngủ trưa, so với trẻ bình

thường.

• Trẻ tự kỷ thường đi ngủ muộn hơn (sau 22 giờ), thức dậy sớm hơn (trước

6 giờ) cả ngày thường và ngày nghỉ cuối tuần so với trẻ bình thường.

• Tổng thời gian ngủ của trẻ tự kỷ trong 24 giờ là 9,85 ± 1,41 giờ, ít hơn rõ

rệt so với nhóm trẻ bình thường (10,83 ± 1,02 giờ) và chỉ có 44,5% có

tổng thời gian ngủ đủ theo qui định của lứa tuổi.

• Trẻ tự kỷ có nhiều thói quen khơng tốt khi bắt đầu đi ngủ như uống sữa,

để đèn sáng, xem Ipad /điện thoại/tivi…hơn so với trẻ bình thường.

• Trẻ tự kỷ có biểu hiện các phần đề về giấc ngủ (81,2%) cao hơn rõ rệt so

với trẻ bình thường, thường xuất hiện ở tuổi sau 24 tháng (54,8%).

• Trẻ tự kỷ có nhiều rối loạn hành vi trước và trong giấc ngủ hơn như khó

vào giấc ngủ (64,1%), chống đối đi ngủ (19,7%), kích thích/cử động

(24,8%), nghiến răng, thức giấc trong đêm (45,2%) so với trẻ bình

thường.

• Các vấn đề về giấc ngủ của trẻ tự kỷ gây các tác động tiêu cực lên cảm

xúc và giấc ngủ của cha mẹ trẻ.

1. Một số yếu tố liên quan làm gia tăng các vấn đề giấc ngủ của trẻ rối

loạn phổ tự ky:

• Trẻ tự kỷ thể điển hình, mức độ nặng, chỉ số phát triển DQ thấp

• Kèm theo rối loạn tăng động, táo bón

• Thói quen trước ngủ như: uống sữa > 150 ml, ngủ muộn sau 21 giờ, để

đèn sáng, xem Ipad, Điện thoại, Tivi…



KHUYẾN NGHỊ

Từ các kết luận trên chúng tơi có các khuyến nghị sau:

•Rối loạn giấc ngủ là biểu hiện phổ biến ở trẻ tự kỷ vì vậy cần quan tâm

đến phát hiện, chẩn đốn và điều trị các vấn đề giấc ngủ cho trẻ tự kỷ, bên

cạnh các chiến lược can thiệp hành vi, ngơn ngữ và kỹ năng xã hội.

• Cần điều trị phối hợp các rối loạn đi kèm như tăng động, táo bón…để

làm giảm nguy cơ rối loạn giấc ngủ ở trẻ tự kỷ.



79



•Cần tư vấn cho gia đình và người chăm sóc trẻ biết cách sửa chỉnh các

thói quen khơng tốt và huấn luyện các thói quen tích cực liên quan đến giấc

ngủ cho trẻ tự kỷ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguyên nhân rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK là đa yếu tố: yếu tố sinh học, thần kinh, miễn dịch, di truyền, môi trường, thói quen nuôi dạy con không có lợi cho giấc ngủ nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK và y

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×