Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nghiên cứu được thực hiện trên hai nhóm trẻ: nhóm nghiên cứu gồm 117 trẻ rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) được chọn từ phòng khám chuyên khoa của khoa Tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung ương và nhóm chứng gồm 117 trẻ phát triển bình thường, không có biểu hiện RLPTK.

Nghiên cứu được thực hiện trên hai nhóm trẻ: nhóm nghiên cứu gồm 117 trẻ rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) được chọn từ phòng khám chuyên khoa của khoa Tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung ương và nhóm chứng gồm 117 trẻ phát triển bình thường, không có biểu hiện RLPTK.

Tải bản đầy đủ - 0trang

56



ở độ tuổi từ 24-35 tháng gặp phổ biến (64,1%) cho thấy ở Việt Nam hiện nay,

cha mẹ đã tăng cường nhận thức về tự kỷ và cho trẻ đi khám phát hiện sớm

khi thấy trẻ chậm nói. Số trẻ phát triển bình thường, khơng có biểu hiện

RLPTK được lựa chọn vào nhóm chứng trong nghiên cứu của chúng tơi cũng

được chọn trong độ tuổi từ 24 tháng đến 60 tháng. Tuổi trung bình của nhóm

chứng là 35,35 ± 9,46 tháng, không khác biệt so với trẻ RLPTK (p > 0,05).

Trên thế giới cũng có một số tác giả tiến hành nghiên cứu với mục tiêu và

phương pháp tương tự chúng tôi. Năm 2009, Souder và CS cũng tiến hành

nghiên cứu trên 59 trẻ RLPTK và 40 trẻ bình thường làm nhóm chứng. Tuy

nhiên trẻ RLPTK có độ tuổi trung bình 7,5 ± 1,92 tuổi và của nhóm chứng là

7,09 ± 2,09 tuổi, cao hơn nhóm trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi [45] do tác

giả lựa chọn mẫu ngẫu nhiên từ một trung tâm can thiệp tự kỷ ở cộng đồng.

4.1.2. Giới

Tỷ lệ trẻ trai trong nhóm RLPTK là 85,5%, nhiều hơn rõ rệt so với trẻ gái,

tỉ lệ nam/ nữ là 5,9/1. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Việt Nam

gần đây, như Nguyễn Thị Hương Giang (2012): tỷ lệ nam/ nữ là 6,4/1 [55].

Lê Thị Thu Phương (2013) tỉ lệ nam/nữ là 4,4/1 [56]; Vũ Thương Huyền (2014) tỉ

lệ nam/nữ là 7,1/1 [57]. Đồng thời, các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy tỷ

lệ nam/nữ tương tự như trong nghiên cứu của chúng tôi. Jonhson và CS (2007)

cho rằng tỷ lệ trẻ trai mắc RLPTK nhiều hơn trẻ gái với tỷ lệ 6,5/1[19]. Trong

nghiên cứu của Souder và CS (2009) cũng có tỉ lệ trẻ trai mắc RLPTK nhiều

hơn trẻ gái, tỉ lệ nam/nữ là 4,4/1 [45]. Sự khác biệt giới tính này cũng phù hợp

với đặc điểm chung của bệnh lý RLPTK, gặp phổ biến ở trẻ trai [62].

4.1.3. Khu vực sống

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 37,6% trẻ RLPTK sống ở thành phố

và 62,4% trẻ RLPTK sống ở nông thơn. Tuy nhiên, nhận định này khơng có ý



57



nghĩa dịch tễ với sự khác biệt thành thị - nông thôn về sự xuất hiện của rối

loạn phổ tự kỷ vì nghiên cứu của chúng tôi chỉ lấy mẫu trên các ca bệnh đến

khám tại phòng khám Tâm bệnh, bệnh viện Nhi Trung ương.

Do phương pháp chọn lựa chủ đích nhóm chứng là những trẻ phát triển

bình thường, khơng có biểu hiện RLPTK tương đương về tuổi, giới, khu vực

sống (thành thị - nông thôn) với tỷ lệ 1:1 nên đặc điểm tuổi, giới, khu vực

sống của nhóm chứng hồn tồn tương đồng với nhóm trẻ RLPTK.

4.1.4. Tuổi chẩn đốn tự kỷ của nhóm trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 88 trẻ được chẩn đốn lần đầu tại

phòng khám chuyên khoa của khoa Tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung Ương tại

thời điểm phỏng vấn và 29 trẻ được ghi nhận chính xác thời điểm chẩn đoán

lần đầu trong sổ theo dõi khám bệnh. Tuổi thấp nhất được chẩn đoán là 20

tháng và cao nhất là 60 tháng, tuổi trẻ được chẩn đốn trung bình là 31,68 ±

8,72 tháng, trong đó nhóm được chẩn đốn RLPTK trước 36 tháng chiếm tỷ

lệ cao nhất 76,1%. Tuổi chẩn đốn của nhóm trẻ RLPTK trong nghiên cứu

của chúng tơi tương tự tuổi chẩn đoán trong nghiên cứu của Vũ Thương

Huyền (2014) với tuổi chẩn đốn trung bình là 30,35 ± 8,65 tháng, trong đó

nhóm được chẩn đốn RLPTK trước 36 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 78,2%.

[57] Nhận định này cho thấy: càng ngày nhận thức của cộng đồng về lợi ích

của việc tiếp cận chẩn đốn, can thiệp sớm càng được nâng cao. Do đó, trẻ

được chẩn đốn RLPTK sớm trong độ tuổi < 36 tháng sẽ được can thiệp sớm,

mang lại kết quả tốt hơn về cải thiện giao tiếp và hành vi, trong đó có cả các

rối loạn giấc ngủ, tạo điều kiện cho tăng cường khả năng hòa nhập xã hội.

4.1.5. Mức độ nặng của tự kỷ ở nhóm trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

Để đánh giá mức độ tự kỷ, chúng tôi sử dụng thang điểm CARS. Kết

quả cho thấy điểm CARS thấp nhất là 33 điểm, cao nhất là 50 điểm, trung

bình là 39,82 ± 3,75 điểm. Như vậy, theo phân loại mức độ nặng dựa vào

điểm CARS thì hầu hết trẻ nhóm RLPTK trong nghiên cứu của chúng tôi



58



(75,2%) là RLPTK mức nặng (≥ 37 điểm). Có lẽ do trong nghiên cứu này

chúng tơi thu thập số liệu tại phòng khám chun khoa Tâm thần, bệnh viện

Nhi Trung ương, chủ yếu trẻ đến khám là RLPTK điển hình (88,9%), nên hầu

hết là mức độ nặng. Điều này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Vũ

Thương Huyền (2014) trên 130 trẻ RLPTK đến khám tại khoa Tâm bệnhbệnh viện Nhi Trung Ương với điểm CARS thấp nhất là 32 điểm, cao nhất là

48 điểm, trung bình là 39,99 ± 2,8 điểm cũng tương tự kết quả nghiên cứu của

chúng tôi [57].

4.1.6. Mức độ phát triển của nhóm trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

100 % số trẻ RLPTK trong nghiên cứu của chúng tôi không phát triển

phù hợp tuổi ở lĩnh vực ngôn ngữ và cá nhân xã hội. Hầu hết là mức dộ nặng

và rất nặng (DQ <70) gặp với tỷ lệ 96,6%. Điều này cho thấy phát triển tâm –

vận động không phù hợp so với lứa tuổi là một biểu hiện gặp ở phần lớn trẻ

RLPTK, phản ánh mức độ khiếm khuyết các mặt liên quan đến tư duy logic

và tương tác ở trẻ. Vì vậy, đánh giá sự phát triển toàn diện trong tất cả các lĩnh

vực theo mốc lứa tuổi của trẻ cũng là một cách để phát hiện sớm trẻ bị

RLPTK , có thể sử dụng để phổ biến cho cha mẹ và các cán bộ y tế nhi khoa.

4.1.7. Các rối loạn đi kèm khác ở trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

Bên cạnh các biểu hiện chính của RLPTK, trong nghiên cứu của chúng tơi

còn ghi nhận trẻ RLPTK hay gặp các rối loạn đi kèm, phổ biến là tăng động

giảm chú ý (76,9%). Các nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra rằng có 5072% gen di truyền của trẻ RLPTK và tăng động giảm chú ý có mối liên quan

với nhau (Lichtenstein và CS 2010) [63]. Có lẽ chính vì thế, trẻ RLPTK

hay gặp rối loạn đi kèm là tăng động giảm chú ý. Nhiều nghiên cứu trên thế

giới cũng ghi nhận tăng động giảm chú ý đi kèm ở trẻ RLPTK gặp tỷ lệ cao

như Ronald và cộng sự (2008) tại Anh gặp tỉ lệ 41% [64], Matson và cộng sự

(2013) gặp tỷ lệ 83% [65]. Đứng thứ 2 trong các bệnh lý thường cùng xuất

hiện ở nhóm trẻ RLPTK trong nghiên cứu của chúng tơi là táo bón, gặp với tỷ



59



lệ 43,6%. Nhận định này tương tự như trong nghiên cứu của Afzal và CS

năm 2003, gặp tỷ lệ táo bón ở 103 trẻ RLPTK là 36%, trong đó

chỉ có 13,6% trẻ mắc RLPTK có táo bón được điều trị [66]. Vũ

Thương Huyền nghiên cứu hành vi ăn uống ở nhóm trẻ RLPTK

cùng địa điểm nghiên cứu với chúng tôi, nhưng tiến hành năm

2014, tác giả thông báo song hành với rối loạn hành vi ăn

uống, tỷ lệ táo bón gặp 38,5% [57]. Trong một báo cáo tổng

hợp mới nhất của Holinque và CS năm 2017, khi phân tích

gợp 144 nghiên cứu trên Pubmed, đã nhận thấy mức độ phổ

biến của táo bón ở trẻ RLPTK dao đợng từ 4,3% đến 45,5%

(trung bình là 22%) [67]. Có lẽ trẻ RLPTK có tỉ lệ táo bón cao

do chế đợ ăn thu hẹp, ăn rất ít hoặc từ chối hồn tồn chất

xơ, ít ăn hoa quả hoặc uống rất ít nước. Cảm giác giác quan

của trẻ RLPTK thường bị rối loạn nên cảm giác và hành vi đại

tiện của trẻ RLPTK cũng bị ảnh hưởng gây trầm trọng thêm

tình trạng táo bón.

Các nghiên cứu trên thế giới còn ghi nhận trẻ RLPTK

có các rối loạn đi kèm khác như động kinh 6,3% - 22%

(Mei SL 2017; Botton PF 2011) [68],[69], nôn trớ 26% 54% (Kang 2014;Hall 2011) [70],[71], bại não và RLPTK

xuất hiện liên quan với nhau là 6,7% [72]. Tuy nhiên, trong

nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ trẻ RLPTK có kèm

theo đợng kinh khơng cao, chỉ gặp ở 5,1%, nơn trớ gặp

6,0% và khơng có trẻ nào kèm theo bị bại não. Có lẽ bởi

khi trẻ RLPTK xuất hiện các biểu hiện bệnh động kinh với

các cơn co giật rõ trên lâm sàng, nôn trớ nhiều hay bại não,

cha mẹ thường cho những trẻ này đi khám ở các phòng khám



60



chun khoa thần kinh, tiêu hóa hay phục hồi chức năng, mà

không đến khám ở chuyên khoa tâm bệnh.

4.1.8. Đặc điểm của người cha mẹ trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu thập thông tin về đặc điểm giấc

ngủ của nhóm trẻ RLPTK và nhóm chứng đều thơng qua phỏng vấn trực tiếp

cha mẹ trẻ, do đó đặc điểm về xã hội học của cha mẹ của các nhóm trẻ là

những yếu tố có ảnh hưởng nhất định đến thông tin thu thập được trong

nghiên cứu. Qua phân tích, các đặc điểm về tuổi, giới, hôn nhân, nghề nghiệp,

thời gian làm việc của cha mẹ nhóm trẻ RLPTK và nhóm chứng trong nghiên

cứu của chúng tôi là tương tự nhau (p>0,05). Như vậy, kết quả so sánh các

đặc điểm về giấc ngủ và thang khảo sát giấc ngủ CSHQ sẽ rất ít bị ảnh hưởng,

cho phép tin cậy hơn vào kết quả thu được.

4.2. Đặc điểm giấc ngủ của trẻ rối loạn phổ tự ky.

4.2.1.Đặc điểm mơi trường, thói quen và hành vi liên quan đến giấc ngủ

của trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

4.2.1.1.Đặc điểm môi trường ngủ.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, cả hai nhóm trẻ đều chủ

yếu ngủ ở nhà riêng, ngủ cùng với cha mẹ, cha mẹ thường xuyên có mặt khi

trẻ bắt đầu ngủ và hầu như phần lớn cha mẹ đều quan tâm đến giấc ngủ của

trẻ. Ở cả hai nhóm, đa số trẻ đều đòi hỏi cha mẹ nằm cùng khi ngủ tuy nhiên

nhóm trẻ tự kỷ đòi hỏi sự có mặt của cha mẹ khi bắt đầu đi ngủ cao hơn

(93,2% và 87,2%) và cho thấy sự gắn bó ngủ với mẹ (80,3%) cao hơn so với

nhóm trẻ bình thường (59%) (p<0,05). Năm 2009 tại Philadelphia ( Hoa Kỳ),

Souder và CS tiến hành khảo sát bằng thang CSHQ và dụng cụ đo Actigraphy

trên 59 trẻ RLPTK và 40 trẻ phát triển bình thường làm nhóm chứng cũng cho

thấy nhóm trẻ RLPTK và nhóm trẻ bình thường chủ yếu ngủ ở nhà riêng

chiếm tỉ lệ tương ứng là 76,3% và 90%, tuy nhiên khác với nghiên cứu của



61



chúng tơi trẻ phần lớn ngủ 1 mình (74,6% và 67.5%) và / hoặc ngủ cùng

giường của anh chị em (71,2% và 90%) và rất ít trẻ ngủ cùng bố mẹ (6,8% và

10%) cha mẹ có quan tâm đến giấc ngủ của trẻ nhưng không cao bằng nghiên

cứu của chúng tôi (57,6% và 12, 5%). Người đưa trẻ đi ngủ trong nghiên cứu

của Souder chủ yếu vẫn là mẹ (37,3% và 32,5%); cả bố và mẹ (30,5% và

32,5%), sự có mặt của cha mẹ khi trẻ bắt đầu ngủ chỉ chiếm 23,7% và 22,5%

thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tơi [45]. Có thể sự khác biệt trên là do

nghiên cứu của Souder lựa chọn ngẫu nhiên nhóm trẻ RLPTK từ một trung

tâm can thiệp tự kỷ tại cộng đồng nên bên cạnh cha mẹ nhóm trẻ RLPTK còn

được chăm sóc chun biệt bởi nhân viên trung tâm và có thể cũng do thói

quen, quan niệm và đặc điểm chăm sóc trẻ của người Việt vẫn mang nặng tính

bao bọc, ít cho trẻ độc lập hơn đặc biệt khi trẻ bị bệnh.

4.2.1.2. Đặc điểm thói quen liên quan đến ngủ.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 34,2% số trẻ RLPTK có thói quen

xem tivi, quảng cáo, chơi/xem các clip trên Ipad, điện thoại, 53,8% gắn bó

với để đèn sáng bình thường khi ngủ, 33,3% yêu cầu một vật dụng đặc biệt

để ngủ, đặc biệt 76,9% có thói quen uống sữa trong vòng 1 giờ trước khi đi

ngủ tối, các thói quen này gặp nhiều hơn nhóm trẻ bình thường một cách rõ

rệt (p < 0,05). Một trong những biểu hiện đặc trưng ở trẻ RLPTK là sự rập

khuôn máy móc, thu hẹp trong sở thích, thói quen và mối quan tâm, nên có

lẽ vì thế mà trẻ RLPTK biểu hiện nhiều thói quen khơng tốt trước khi đi ngủ.

Chính những thói quen này có thể gây ảnh hưởng xấu đến giấc ngủ của trẻ

RLPTK. Năm 2013 trong một nghiên cứu tại Colombia của Mỹ trên 202 trẻ

RLPTK độ tuổi 8-18 tuổi và 179 trẻ phát triển bình thường làm nhóm chứng

Marezek và CS ghi nhận trẻ RLPTK mất đến 62% thời gian vào việc xem các

chương trình truyền hình hay trò chơi điện tử và các phương tiện truyền thông

hơn là việc hoạt động tương tác xã hội như trẻ bình thường [73]. Và cũng ở



62



địa điểm trên trong một báo cáo mới đây năm 2016 của ông khi nghiên cứu

trên 101 trẻ RLPTK với mục tiêu xác định sự ảnh hưởng của các phương tiện

truyền thông (tivi, điện thoại, thiết bị trò chơi điện tử, máy tính…) đến giấc

ngủ của trẻ RLPTK cũng cho thấy việc sử dụng các phương tiện truyền thông

giống như một thủ tục trước khi đi ngủ của trẻ RLPTK. Những trẻ RLPTK có

tiếp xúc với các phương tiện truyền thơng hoặc các trò chơi mang tính bạo lực

trước khi đi ngủ 30 phút khó vào giấc ngủ hơn (39,8 phút và 16 phút) so với

những trẻ RLPTK không tiếp xúc với chúng. Tuy nhiên chỉ có sự hiện diện

của các phương tiện truyền thơng trong phòng ngủ mà khơng sử dụng chúng

thì khơng gây ảnh hưởng đến q trình vào giấc ngủ cũng như thời gian ngủ

của trẻ [74]. Bên cạnh đó, trẻ RLPTK còn biểu hiện nhiều rối loạn cảm giácgiác quan, hay phản ứng sợ hãi q mức, khó thích nghi… vì thế trẻ RLPTK

thường yêu cầu để đèn sáng bình thường khi ngủ hay chống đối trước khi đi

ngủ và yêu cầu sự có mặt của mẹ khi vào giấc ngủ cao hơn nhóm trẻ bình

thường. Nhận định này của chúng tôi cũng được khẳng định trong một nghiên

cứu tại Phoenix và Turson (Hoa Kỳ) năm 2006 của Liu X và CS trên 167 trẻ

RLPTK cho thấy tỉ lệ trẻ sợ ngủ trong tối là 25,1% [6].

Ngoài ra trong nghiên cứu của chúng tơi còn ghi nhận tỷ lệ trẻ RLPTK

có thói quen đi ngủ đúng giờ (41,9%), thói quen ngủ trưa hàng ngày (73,5%)

cũng như tổng thời gian ngủ trưa trung bình (1,66 ±0,81 giờ) thấp hơn rõ rệt

so với nhóm chứng với tỷ lệ tương ứng là 71,8%; 90,6%; 2,07 ± 0,75 giờ.

Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới cho rằng nhịp sinh

học giấc ngủ của trẻ RLPTK bị ảnh hưởng do sự giảm hoạt động của hệ gen

tiết melatinon – một hormone quan trọng tham gia vào chu trình thức-ngủ

hằng ngày [15]. Tuy nhiên ghi nhận của chúng tôi khác với nghiên cứu của

Souder tại Mỹ (2009), tác giả công bố kết quả là phần lớn trẻ RLPTK và trẻ

bình thường đều có thói quen đi ngủ đúng giờ 93,2 % và 92,5 % nhưng đại đa



63



số khơng có thói quen ngủ trưa 93,2 % và 85% [45]. Có lẽ có sự khác biệt

trên là do phong tục tập quán, thói quen cũng như cách nhìn nhận về “ vệ sinh

giấc ngủ” ở Việt Nam khác so với các nước phát triển ở Châu Âu.

4.2.1.3. Đặc điểm về thới gian bắt đầu đi ngủ và tổng thời gian ngủ của trẻ

RLPTK.

Năm 2015, trong một nghiên cứu phân tích gộp 10 nghiên cứu trên 343

trẻ RLPTK so sánh với 221 trẻ bình thường Elrod và CS cho thấy tổng thời

gian ngủ trong ngày của trẻ RLPTK ít hơn trẻ bình thường là 32,8 phút [75]

tương tự như trong nghiên cứu của chúng tơi (trẻ RLPTK thường có tổng thời

gian ngủ trung bình trong ngày ít hơn khoảng 1 giờ so với trẻ bình thường).

Sử dụng thang CSHQ và dụng cụ đo Actigraphy trong một nghiên cứu của

mình tại Mỹ năm 2009, Souder và CS cũng ghi nhận trẻ RLPTK có tổng thời

gian ngủ trong ngày ít hơn trẻ bình thường là 21 phút [45]. Theo khuyến cáo

mới nhất của trung tâm giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep

Medicine) năm 2016 trẻ ở nhóm tuổi 24 đến 60 tháng nên bắt đầu đi ngủ từ

19-21 giờ tối và thức dậy trong khoảng thời gian 6-8 giờ sáng, cũng như ngủ

đủ 10-13 giờ/ngày [35]. Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận

hơn nửa số trẻ RLPTK có thời gian ngủ ít <10 giờ/ ngày (55,5%) thậm chí là

<8 giờ/ ngày (15,4%) và chỉ có 44,5% trẻ RLPTK có tổng thời gian ngủ/ngày

phù hợp theo khuyến cáo, trong khi 73,5% trẻ bình thường ở nhóm chứng có

tổng thời gian ngủ phù hợp với khuyến cáo. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống

kê rõ rệt p <0,001. Ngồi ra chúng tơi còn ghi nhận trẻ RLPTK thường đi ngủ

muộn hơn khoảng 20 phút vào ngày thường và 35 phút vào ngày cuối tuần

(p<0,05) so với nhóm chứng, tương tự như nghiên cứu của Elrod và CS năm

2015 ghi nhận trẻ RLPTK ngủ muộn hơn trẻ bình thường trung bình là 10,9

phút [75]. Tuy nhiên khác với nghiên cứu của chúng tôi, một nghiên cứu tại

Hoa Kỳ năm 2009 lại ghi nhận trẻ RLPTK thường đi ngủ sớm hơn khoảng 5



64



phút vào ngày thường và 10 phút vào ngày cuối tuần so với trẻ bình thường

(p>0,05) (Souder và CS )[45].Trẻ RLPTK và trẻ bình thường đi ngủ sau 21

giờ trong nghiên cứu của chúng tơi còn chiếm tỷ lệ cao (62,4% và 47%) đặc

biệt là ngày cuối tuần (81,2% và 65%). Thậm chí còn có 12,8% trẻ RLPTK đi

ngủ sau 23 giờ .Có lẽ do sự ảnh hưởng của các phương tiện truyền thơng

(điện thoại, ti vi, máy tính..) cũng như hiểu biết về ‘vệ sinh giấc ngủ’ chưa

đúng nên không chỉ trẻ RLPTK mà ngay cả trẻ bình thường vẫn còn tỷ lệ cao

trẻ chưa đi ngủ đúng thời gian khuyến cáo. Bên cạnh đó, trẻ RLPTK trong

nghiên cứu của chúng tơi còn được ghi nhận thường xun thức dậy sớm hơn

khoảng 21 phút vào ngày thường và 16 phút vào ngày cuối tuần tương tự như

trong nghiên cứu của Souder là 23 phút vào ngày thường và 28 phút vào ngày

cuối tuần so với nhóm chứng [45]. Ngồi ra vẫn còn tỉ lệ cao trẻ RLPTK thức

dậy buổi sáng khơng theo thời gian khuyến cáo.Trẻ RLPTK thức dậy sớm

trước 6 giờ sáng cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng ngay cả ngày thường

(35%) và ngày cuối tuần (15,4%). Các vấn đề về cuối giấc ngủ cũng được ghi

nhận trong một nghiên cứu tại Istanbul ( Thổ Nhĩ Kỳ) năm 2015 trên 64 trẻ

RLPTK (44 trẻ RLPTK điển hình, 16 trẻ RLPTK khơng điển hình và 2 trẻ

được chẩn đốn Asperger) có độ tuổi trung bình 11,66 ± 3,8 với 53 trẻ phát

triển bình thường có độ tuổi trung bình 11,75 ± 0,85 . Kết quả nghiên cứu này

cho thấy trẻ RLPTK thức dậy buổi sáng không cùng một thời điểm (76,6%)

thức dậy sớm vào buổi sáng (65,6 %), mệt mỏi sau khi ngủ (75%), buồn ngủ

vào ban ngày (45,3%) cao hơn nhóm chứng với tỉ lệ tương ứng là 5,7%;

18,9%; 43,4%; 9,5% (Mutluer và CS) [76]. Năm 2006, tiến hành phỏng vấn

cha mẹ thông qua nhật ký giấc ngủ, sử dụng thang CSHQ và dụng cụ đo PSG

để khảo sát giấc ngủ của 167 trẻ RLPTK (108 trẻ RLPTK điển hình, 32 trẻ

RLPTK khơng điển hình và 27 trẻ được chẩn đốn Asperger ) có độ tuổi trung

bình là 8,8 tuổi Liu X và CS cũng ghi nhận 73,1% trẻ RLPTK tự thức dậy vào



65



buổi sáng, có 15% thức dậy với tâm trạng tiêu cực; 19,2% khó khăn để ra khỏi

giường, 21,6% buồn ngủ vào ban ngày,18% mệt mỏi trong ngày, 6,6% ngủ khi

đang chơi 1 mình, 4,8% ngủ khi đang xem ti vi, 16,2% ngủ khi đang đi xe, 3%

ngủ khi đang ăn [6].

4.2.1.4. Đặc điểm hành vi khi bắt đầu đi ngủ và trong lúc ngủ của trẻ RLPTK.

• Đặc điểm hành vi khi bắt đầu đi ngủ.

Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trẻ RLPTK thường xuyên khó

vào giấc ngủ (64,1%), chống đối khi bắt đầu đi ngủ (19,7%) cao hơn rõ rệt so

với nhóm chứng, chỉ gặp với tỷ lệ 29,1% và 9,4%. Nhận định này của chúng

tôi cũng tương tự như một số các nghiên cứu khác trên thế giới. Nghiên cứu

của Krakowiak năm 2008 tại Califonia (Hoa Kỳ) (sử dụng thang CSHQ) khi

so sánh đặc điểm giấc ngủ giữa 303 trẻ RLPTK, 63 trẻ chậm phát triển và 163

trẻ bình thường cho thấy: các vấn đề khi bắt đầu đi ngủ của trẻ RLPTK là

24% cao hơn so với trẻ bình thường là 9% , trong đó tỉ lệ chống đối trước khi

đi ngủ là 21,8% ở trẻ RLPTK, 15,9% trẻ ở trẻ chậm phát triển và 15,9 % ở trẻ

bình thường (p=0,23), đồng thời có 9,9% trẻ RLPTK tỏ ra rất tức giận trước

khi đi ngủ cao hơn so với trẻ bình thường là 3,1% (p=0,01) [10]. Cũng cho kết

quả tương tự, trong một nghiên cứu trước đó tại Hoa Kỳ trẻ RLPTK được ghi

nhận khó ngủ sau 20 phút lên giường là 28,1% (thời gian ngủ sau khi lên

giường để ngủ trung bình là 32 phút ), chống đối trước khi đi ngủ là 54%

( Liu X và CS 2006)[6] Kết quả của chúng tôi cũng giống như kết quả nêu

trong nghiên cứu của Mutluer và CS năm 2015 tại Thổ Nhĩ Kỳ trên 64 trẻ

RLPTK so sánh với 53 trẻ bình thường, trẻ RLPTK khó ngủ là 73,4% cao hơn

rõ rệt so với trẻ bình thường là 43,3 % (p<0,001)[76]. Hay trong một nghiên

cứu gần đây ở Việt Nam trên 79 trẻ RLPTK (36-72 tháng tuổi) cho thấy trẻ

RLPTK có 83,3% các biểu hiện vấn đề giấc ngủ ở đầu giấc ( Trần Thị Ngọc

Hồi, 2014) [58].



66



Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hầu như cả trẻ RLPTK

cũng như trẻ bình thường đều yêu cầu cao cha mẹ ở cạnh khi bắt đầu đi ngủ

(93,2% và 87,2%). Khác với nghiên cứu của chúng tôi các nghiên cứu khác

trên thế giới chỉ ghi nhận sự có mặt của cha mẹ khi trẻ bắt đầu đi ngủ chiếm tỉ

lệ 23,7% ở trẻ RLPTK và 22,5% ở trẻ bình thường và có 11,9% trẻ RLPTK

tự ngủ thấp hơn so với trẻ bình thường là 15% (Souder và CS 2009) [45], hay

16% trẻ RLPTK ngủ chung giường cha mẹ (Liu X 2006) [6]. Có lẽ sự khác

biệt trên là do quan niệm chăm sóc con cái của người Việt còn mang tính bao

bọc và chưa cho trẻ độc lập khi ngủ như các nước phương Tây.

Đặc điểm hành vi trong lúc ngủ.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trẻ RLPTK trong lúc ngủ thường

kích thích/cử động nhiều (24,8%), hay nghiến răng (16,2%), ngáy to (15,4%),

tỉnh dậy la hét khóc khơng dỗ được (5,1%) cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng

với tỷ lệ tương ứng (9,4%; 2,6%; 6,0%; 3,4%). Nhận định này cũng được

khẳng định trong một nghiên cứu tại Hoa Kỳ năm 2008 trên 303 trẻ RLPTK,

63 trẻ chậm phát triển và 163 trẻ bình thường. Nghiên cứu này ghi nhận 6,6%

trẻ RLPTK tỉnh dậy la lét trong đêm, 6,3% la hét nửa đêm về sáng, 4,3% có

cơn ác mộng cao hơn so với trẻ bình thường với tỉ lệ tương ứng là 0,6%;

0,6%; 0,6% (p<0,05) ( Krakowiak và CS) [10].Hay một nghiên cứu mới đây

năm 2015 tại Thổ Nhĩ Kỳ trên 64 trẻ RLPTK so sánh với 53 trẻ bình thường .

Mutluer và CS cũng ghi nhận các hành vi trong khi ngủ của trẻ RLPTK cao

hơn so với trẻ bình thường như cử động nhiều trong khi ngủ (51,6% và 17%),

cử động chân liên tục trong khi ngủ (28,1% và 26,4%) , la hét khi ngủ (25%

và 9,4%), nghiến răng (51,6% và 24,5%), mộng du (18,8% và 7,5%) tuy

nhiên tỉ lệ gặp ác mộng trong đêm cũng như nói khi ngủ của trẻ bình thường

lại cao hơn trẻ RLPTK (13,2% và 9,4%); (50,9% và 12,7%) . Ngoài ra tỉ lệ trẻ

RLPTK đái dầm trong đêm (45,3%) được ghi nhận cao hơn trẻ bình thường



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nghiên cứu được thực hiện trên hai nhóm trẻ: nhóm nghiên cứu gồm 117 trẻ rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) được chọn từ phòng khám chuyên khoa của khoa Tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung ương và nhóm chứng gồm 117 trẻ phát triển bình thường, không có biểu hiện RLPTK.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×