Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thang điểm TCSQ (Tayside children's sleep questionnaire):

Thang điểm TCSQ (Tayside children's sleep questionnaire):

Tải bản đầy đủ - 0trang

21



1.2.6. Tình hình nghiên cứu về rối loạn giấc ngủ ở trẻ tự kỷ trên thế giới và

ở Việt Nam.

Trên thế giới: Đã có khá nhiều nghiên cứu về giấc ngủ ở trẻ em nói

chung và trẻ mắc RLPTK nói riêng. Các nghiên cứu không chỉ dừng lại ở

mức thống kê tỉ lệ rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK mà còn xem xét các vấn đề

liên quan cũng như đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị giấc ngủ ở

trẻ RLPTK.

Ngay từ năm 1998 Taira M và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tại

Tokyo (Nhật Bản) bằng cách phỏng vấn cha mẹ của 89 trẻ em mắc chứng

RLPTK và phát hiện ra có 56 trẻ có rối loạn giấc ngủ chiếm 63% trong đó có

23 trẻ có biểu hiện khó ngủ, 19 trẻ thường xuyên thức dậy trong đêm và 11 trẻ

dậy sớm hơn so với quy định [21].

Trong nghiên cứu năm 2006 của Liu X và cộng sự tại Hoa Kỳ (phỏng

vấn cha mẹ thông qua nhật ký ngủ, sử dụng thang điểm CSHQ và PSG) trên

167 trẻ em RLPTK nằm trong độ tuổi trung bình là 8,8 tuổi 86% là con trai

thì có vấn đề giấc ngủ của trẻ RLPTK chiếm tỉ lệ 40-80% (tương đương với

nghiên cứu của Richdale AL năm 1999 là 44-83%) [44]. Với các biểu hiện

của các vấn đề về giấc ngủ như: 54% trẻ chống đối trước khi đi ngủ, 56% biểu

hiện mất ngủ, 53% các vấn đề trong giấc ngủ (ác mộng, hốt hoảng khi ngủ,

chứng miên hành), 25% có biểu hiện các vấn đề hơ hấp khi ngủ, 45% các vấn

đề thức dậy buổi sáng, và 31% buồn ngủ vào ban ngày [6].

Năm 2008 tại Hoa kỳ Paula Krakowiak và cộng sự đã tiến hành phỏng

vấn cha mẹ (sử dụng thang điểm CSHQ) của 529 trẻ em (2 đến 5 tuổi) về vấn

đề giấc ngủ, trong đó có 303 trẻ RLPTK, 63 trẻ chậm phát triển và 163 trẻ

bình thường và thấy rằng các vấn đề về giấc ngủ là 53% ở trẻ RLPTK, 46% ở

trẻ chậm phát triển và 32% ở trẻ phát triển bình thường.Trong đó 21% vấn đề

giấc ngủ ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày ở trẻ, 23% ảnh hưởng đến sinh

hoạt của gia đình trẻ trong nhóm trẻ RLPTK và tỉ lệ này là 1,2 va 2,5% trong



22



nhóm trẻ phát triển bình thường [10].

Nghiên cứu của Souder Mc và CS năm 2009 tại Hoa kỳ bằng phương

pháp phỏng vấn người chăm sóc chính về giấc ngủ (sử dụng thang điểm CSHQ)

và dụng cụ đo Actigraphy trên 40 trẻ phát triển bình thường và 59 trẻ rối loạn

phổ tự kỷ cho kết quả rối loạn giấc ngủ tương ứng là 45% và 66% [45].

Nghiên cứu năm 2014 Mazurek MO và cộng sự đã cho thấy trẻ RLPTK

có rối loạn giấc ngủ biểu hiện rối loạn hành vi chiếm tỷ lệ 22-32%. Nghiên

cứu đã cho thấy rối loạn giấc ngủ gây ảnh hưởng đến rối loạn hành vi ngay cả

khi đã xem xét các biến về tuổi và giới [46].

Có nhiều nghiên cứu cho thấy vai trò của Melatonin trong giấc ngủ của

trẻ RLPTK. Như nghiên cứu của Melke (2008) đã cho thấy sự thiếu hụt của

nồng độ melatonin trong máu cũng như sản phẩm chuyển hóa của nó là 6-sulfoxymelatonin trong nước tiểu của trẻ em mắc chứng tự kỷ [15].

Tại Hoa kỳ năm 2008 Juthamas Wirojanan và cộng sự sử dụng

melatonin 3mg và giả dược (mù đôi) trong 4 tuần cho 18 trẻ em có rối loạn

giấc ngủ (11 nam, tuổi trung bình là 5,47). 12 trẻ hồn thành nghiên cứu trong

đó có 5 trẻ RLPTK, 3 trẻ có hội chứng X dễ gãy đơn độc, 3 trẻ phối hợp của

hội chứng X dễ gãy và tự kỷ, 1 trẻ hội chứng X dễ gãy. Bằng cách sử dụng

nhật ký giấc ngủ và actigraphy nghiên cứu đã chỉ ra rằng Melatonin cải thiện

đáng kể các rối loạn giấc ngủ của trẻ RLPTK và hội chứng X dễ gãy (tổng

thời gian ngủ, số lần ngủ trễ, thời gian ngủ khởi phát) và an toàn trong điều trị

rối loạn giấc ngủ ở trẻ em [47]

Hay theo báo cáo thống kê của Trung tâm phát triển tiềm năng và thần

kinh học trẻ em tại Melbourne Hoa Kỳ năm 2011 cho thấy có ít nhất 18

nghiên cứu chứng minh hiệu quả của Melatonin trong điều trị rối loạn giấc

ngủ ở trẻ RLPTK với liều từ 0.75-15mg trong thời gian điều trị từ 14 ngày

đến hơn 4 năm. Bằng các công cụ thu thập số liệu như: nhật ký giấc ngủ,

thang điểm CSHQ hay Actigraphy các nghiên cứu đã chứng minh được

Melatonin cải thiện rối loạn giấc ngủ từ 67%-100%. Melatonin không những

cải thiện đáng kể tổng thời gian ngủ mà còn làm giảm thời gian ngủ trễ và



23



thức dậy ban đêm cũng như cải thiện hành vi ban ngày của trẻ RLPTK [48].

Nghiên cứu năm 2012 của Beth trên 24 trẻ RLPTK (3-10 tuổi) có rối

loạn giấc ngủ tại Hoa kỳ bằng công cụ thu thập số liệu như CSHQ, CBCL

(Child Behavior Checklist), actigraphy cho thấy với liều 1-6mg Melatonin có

hiệu quả đáng kể trong cải thiện tổng thời gian ngủ, giảm thời gian ngủ trễ,

cải thiện rối loạn cảm xúc và hành vi ở trẻ RLPTK và làm giảm khó khăn

chăm sóc trẻ RLPTK [49].

Theo báo cáo nghiên cứu dọc của Humphreys JS và cộng sự (2013) tại Anh

bằng cách phỏng vấn cha mẹ tại các thời điểm độ tuổi 6 tháng, 8 tháng, 30 tháng;

42 tháng; 69 tháng; 81tháng; 115 tháng và 140 tháng tuổi ghi nhận trẻ RLPTK

từ 30-140 tháng ngủ ít hơn từ 17 đến 43 phút/ ngày so với trẻ bình thường.Sự

khác biệt có ý nghĩa ngay cả khi đã xem xét các đặc điểm về giới tính, dân tộc

thậm chí cả chứng động kinh và kéo dài đến cả tuổi vị thành niên. Khơng có

sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian ngủ của 2 nhóm trẻ ở giai đoạn sơ sinh. Ở

trẻ RLPTK giảm thời gian ngủ ban đêm nhiều hơn ban ngày. Thời gian ngủ

ban đêm giảm là do trẻ RLPTK đi ngủ muộn và thức dậy sớm hơn so với trẻ

bình thường. Trẻ RLPTK ở 30 tháng tuổi có 13% thức dậy từ 3 lần trở

lên/đêm cao hơn so với nhóm trẻ bình thường (5%) tuy nhiên lúc 81 tháng sự

khác biệt này càng rõ với tỉ lệ tương ứng là 11% và 0,5%. Những thay đổi

trong mơ hình ngủ của trẻ RLPTK thể hiện rõ nhất trong giai đoạn từ 18 đến

42 tháng tuổi [50]

Nghiên cứu của Irwanto (2016) so sánh giấc ngủ của 25 trẻ RLPTK

Indonesia và 25 trẻ RLPTK Nhật Bản bằng cách sử dụng thang CSHQ cũng

cho thấy tỉ lệ có vấn đề về giấc ngủ tương ứng là :60% và 16% (p<0.005) [51]

Nghiên cứu của Aathira và cộng sự tại Ấn độ được báo cáo năm 2016.

Trong 2 năm nghiên cứu nhóm trẻ RLPTK (71 trẻ) và nhóm trẻ bình thường

(65 trẻ) với lứa tuổi từ 3-10 tuổi bằng cách sử dụng thang điểm CSHQ. Trẻ tự

kỷ còn được đánh giá thêm bằng PSG, CARS, CBCL(Childhood Behavioral

Checklist). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trẻ RLPTK ngủ kém hơn nhóm



24



trẻ bình thường với tỉ lệ tương ứng là 77,5 và 29,2% (p<0.001). Những phát

hiện nổi bật khi sử PSG cho trẻ RLPTK là: giảm hiệu quả giấc ngủ, giảm giấc

ngủ REM, giảm thời gian ngủ chậm SWS (slow wave sleep).CBCL cao ở

những trẻ ngủ ít hơn là trẻ ngủ nhiều đánh giá theo CSHQ [52].

Nghiên cứu của K.B Vander Heijden năm 2016 tại Hà Lan bằng cách

sử dụng thang CSHQ phỏng vấn bố mẹ trên 3 nhóm đối tượng trẻ tăng động

giảm chú ý, trẻ RLPTK và trẻ bình thường tuổi từ 6-12 tuổi cho thấy tỉ lệ có

vấn đề về giấc ngủ tương ứng là 63,6 %; 64,7% và 25,1% [53].

Tại Việt Nam: Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đặc điểm của trẻ

RLPTK như nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Giang và CS (2007) trên 506

trẻ RLPTK điều trị tại bệnh viện Nhi Trung Ương cho kết quả : tỷ lệ nam/ nữ

là 8/1, trẻ RLPTK sống ở Hà Nội là 56,13% [54]. Cũng trong nghiên cứu của

mình năm 2012 tại 66 xã trong 2 huyện của tỉnh Thái Bình trên 6583 trẻ độ

tuổi từ 18-24 tháng Nguyễn Thị Hương Giang đưa ra kết quả: tỉ lệ mắc bệnh

RLPTK là 0,46%; tỷ lệ nam/nữ là 5/1; tỷ lệ trẻ sống ở thành thị là 52,9% [55].

Nghiên cứu của Lê Thị Thu Phương (2013) trên 97 trẻ RLPTK dưới 36

tháng tại bệnh viện Nhi Trung Ương cũng cho thấy: tỷ lệ nam/nữ là 4,4/1, trẻ

mắc RLPTK sống ở nông thôn là 55,7% và các rối loạn như rối loạn về thói

quen ăn uống (36,1%), tăng cảm giác (71,1%), tăng hoạt động (80,4%), phản

ứng quá mức với các thay đổi (51,5%) [56].

Nghiên cứu của Vũ Thương Huyền và CS (2014) về rối loạn hành vi ăn

uống cho kết quả 53,1% ở trẻ RLPTK cao hơn gấp 5 lần so với nhóm chứng

là trẻ bình thường (10%) [57].

Nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Hồi và CS (2014) trên 79 trẻ mắc RLPTK

(36-72 tháng tuổi) tại bệnh viện Nhi Trung Ương cho kết quả: tỷ lệ nam/nữ là

6,2/1, trẻ RLPTK sống ở thành thị là 68,4%, các rối loạn đi kèm như rối loạn

giấc ngủ (45,6%), rối loạn ăn uống (57%), rối loạn tự kích thích (19%), rối loạn

Tic 7,6%, rối loạn khác 34,2%. Trong rối loạn giấc ngủ chủ yếu là biểu hiện của

đầu giấc ngủ (83,3%), giữa giấc (13,9%), cuối giấc (2,9%) với các mức độ rối



25



loạn giấc ngủ: hàng ngày (55,6%), hàng tuần (36,1%), 1-2 lần/tháng (8,5%) [58].

Rối loạn giấc ngủ chủ yếu đánh giá trên người lớn trong một số bệnh

nhân có rối loạn trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn liên quan đến stress [59] [60].

Chưa có một nghiên cứu nào khảo sát một cách hệ thống về vấn đề giấc ngủ ở trẻ

RLPTK mặc dù đây là một vấn đề quan trọng, thiết yếu không chỉ gây ảnh

hưởng đến chất lượng cuộc sống, can thiệp điều trị trẻ tự kỷ mà còn ảnh hưởng

đến chất lượng cuộc sống của cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình.



26



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

● Nhóm nghiên cứu: Gồm 117 trẻ được chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ



khám tại khoa Tâm bệnh – bệnh viện Nhi Trung Ương và người chăm sóc

chính cho trẻ về vấn đề giấc ngủ thời gian từ 30/10/2016 đến 30/5/2017.

● Nhóm chứng: 117 Trẻ phát triển tâm thần vận động bình thường và



khơng bị rối loạn phổ tự kỷ (khơng có chẩn đốn rối loạn phổ tự kỷ trước đó

và được sàng lọc bằng M - CHAT khơng có kết quả nghi ngờ mắc tự kỷ) tại

trường mầm non xã Thụy Lương- huyện Thái Thụy- Tỉnh Thái Bình; trường

mầm non Hoa Thủy Tiên Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và người chăm sóc

chính cho trẻ về vấn đề giấc ngủ từ 1/6/2017 – 1/9/2017.

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn lựa và loại trừ

2.1.1.1. Trẻ tự kỷ

● Tiêu chuẩn chọn lựa:

Những trẻ được chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ, đáp ứng đủ theo tiêu

chuẩn chẩn đoán của DSM – IV – R (Hiệp hội tâm thần học Mỹ - 1994) mã

84.1 (do các bác sĩ chuyên khoa tâm thần trẻ em xác định chẩn đoán)

- Tuổi từ 24 tháng – 60 tháng, không phân biệt nam /nữ, địa dư.

- Người chăm sóc trẻ chính đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn chẩn đoán tự ky của DSM – IV – R (1994)

Phải có nhiều hơn 6 tiêu chí của nhóm (1), (2) và (3), trong đó có ít

nhất là 2 tiêu chí của nhóm (1) và một tiêu chí của nhóm (2) và (3).

Nhóm (1): Suy giảm chất lượng tương tác xã hội thể hiện ít nhất là 2

trong số những biểu hiện sau:



27



a) Giảm rõ rệt sử dụng giao tiếp bằng cử chỉ điệu bộ như giảm giao tiếp

bằng mắt, nét mặt thờ ơ, khơng có cử chỉ điệu bộ phù hợp với tương tác xã hội.

b) Thường chơi một mình, khơng tạo được mối quan hệ với bạn cùng tuổi.

c) Không biết chia sẻ niềm vui, sở thích, thành quả của mình với người

khác (ví dụ: khơng biết mang ra khoe, khơng chỉ cho người khác nhìn những

thứ mình thích).

d) Thiếu sự chia sẻ, trao đổi qua lại về tình cảm hoặc xã hội.

Nhóm (2): Suy giảm chất lượng ngôn ngữ thể hiện ở ít nhất là một

trong những biểu hiện sau:

a) Chậm nói hoặc hồn tồn khơng nói mà khơng cố bù đắp bằng giao

tiếp không lời như bằng cử chỉ điệu bộ.

b) Nếu trẻ biết nói thì suy giảm rõ rệt khả năng khởi đầu hoặc duy trì

hội thoại.

c) Cách nói rập khn, lặp lại, nhại lời hoặc ngơn ngữ khác thường.

d) Khơng có những hoạt động chơi đa dạng, khơng biết chơi giả vờ,

khơng chơi đóng vai hoặc khơng chơi bắt chước mang tính xã hội phù hợp với

mức độ phát triển.

Nhóm (3): Những kiểu hành vi, mối quan tâm và những hoạt động bị

thu hẹp, mang tính lặp lại, rập khn thể hiện có ít nhất là một trong những

biểu hiện sau:

a) Quá bận tâm tới một hoặc một số những mối quan hệ mang tính rập

khn và thu hẹp với sự tập trung cao độ hoặc với cường độ bất thường.

b) Thực hiện một số thói quen một cách cứng nhắc hoặc những hành vi

nghi thức đặc biệt không mang ý nghĩa chức năng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thang điểm TCSQ (Tayside children's sleep questionnaire):

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×