Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Phân loại theo khả năng trí tuệ và phát triển ngôn ngữ

- Phân loại theo khả năng trí tuệ và phát triển ngôn ngữ

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



1.1.8. Can thiệp điều trị

1.1.8.1. Nguyên tắc can thiệp

• Trẻ cần được can thiệp càng sớm càng tốt, ngay khi được chẩn đốn

RLPTK.

• Can thiệp thường bắt đầu khi trẻ được 18 tháng tuổi và có thể từ 12

tháng tuổi nếu trẻ được chẩn đoán sớm. Tuổi tối ưu để can thiệp là dưới 3 tuổi.

• Can thiệp tồn diện nhiều lĩnh vực: giáo dục hành vi, ngôn ngữ trị

liệu, hoạt động trị liệu, chơi, tâm lý, vậy lý trị liệu, kích thích giác quan.

• Thời gian can thiệp dài, cường độ can thiệp liên tục, thường xun.

• Chương trình can thiệp hợp lý, phù hợp với mức độ RLPTK [30].

1.1.8.2. Một số vấn đề quan tâm khi tiến hành can thiệp

• Thời điểm can thiệp: càng sớm càng tốt ngay khi được chẩn đoán

RLPTK, trẻ cần được lên một chương trình can thiệp hợp lý. Tuổi tối ưu để

can thiệp tích cực hành vi là dưới 5 tuổi, kết quả can thiệp tốt nhất được thống

kê thấy là trẻ 2 – 3 tuổi.

• Thời gian và cường độ: hầu hết các nghiên cứu về thời gian can thiệp

sớm cần thiết cho trẻ đều thấy rằng sau 1 năm can thiệp hành vi liên tục 40

giờ/ tuần, trẻ có sự cải thiện rõ rêt. Tác động can thiệp sớm cần phải làm 2

năm can thiệp tích cực: liên tục, hàng ngày mới có thể mang lại kết quả tốt

nhất cho trẻ.

• Hình thức can thiệp

Can thiệp dựa vào gia đình và nhà trường hòa nhập với các phương

pháp: điều hòa đa giác quan, dạy các kỹ năng vận động tinh và vận động thô,

kỹ năng giao tiếp bằng lời và không lời, chơi trị liệu, dạy kỹ năng tự lập trong

sinh hoạt; áp dụng các liệu pháp hành vi như củng cố tích cực với hành vi tốt,

chia nhỏ nhiệm vụ và lờ đi khi trẻ có hành vi khơng mong muốn, xun suốt

trong q trình dạy trẻ.



11



• Phát hiện và điều trị các rối loạn đi kèm

Can thiệp, điều trị RLPTK không đơn thuần là sự nỗ lực cải thiện các

triệu chứng của bệnh mà cần phải phát hiện và điều trị phối hợp tích cực các

rối loạn đi kèm như : rối loạn ăn uống, rối loạn giấc ngủ, rối loạn tiêu hóa hay

hành vi……[13]

Hiện khơng có thuốc đặc hiệu để điều trị RLPTK. Có một số thuốc

được sử dụng để điều trị các rối loạn đi kèm như làm giảm hành vi tăng động,

cơn hờn giận, hung tính, tự gây thương tích, hành vi định hình, lo âu, rối loạn

ám ảnh nghi thức như Risperione (risperdal), Olanzapin (Zyprexa), Quetiapin

(Seroquel), Clozapin (Clozaril), Ziprasidon (Geodon) [17].

1.2. Khái niệm chung về giấc ngủ

1.2.1. Sinh lý giấc ngủ [31],[32]

Các giai đoạn của giấc ngủ: Mặc dù hầu hết mọi người nghĩ rằng ngủ

là khoảng thời gian cơ thể “ngừng hoạt động”. Thực tế, ngủ là một quá trình

hoạt động sinh lý, trong khi q trình chuyển hóa tổng qt của cơ thể giảm

thì tất cả các cơ quan chính và hệ thống điều hòa trong cơ thể vẫn tiếp tục duy

trì chức năng của nó. Giấc ngủ được chia thành hai trạng thái riêng biệt: Trạng

thái ngủ có cử động nhãn cầu nhanh (Rapid Eye Movement-REM) và Trạng

thái ngủ khơng có cử động nhãn cầu nhanh (Non-Rapid Eye MovementNREM); sự thay đổi hoạt động điện của não thể hiện rõ nét trên điện não đồ.

Giấc ngủ NREM: Đặc trung bởi sự giảm các hoạt động sinh lý, giấc

ngủ trở lên sâu hơn, sóng điện não biểu hiện bằng các sóng chậm, biên độ cao

hơn; nhịp thở nhịp tim chậm xuống, huyết áp nhẹ. Giấc ngủ NREM chia

thành 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Là khoảng thời gian ngủ lơ mơ, giấc ngủ giai đoạn này

rất nông, người đang ngủ dễ bị đánh thức bởi các kích thích bên ngồi. Trên

điện não đồ, các sóng não chuyển dần từ sóng α tần số 8-13Hz đều đặn (trạng



12



thái thức) sang các sóng tần số hỗn hợp điện thế thấp. Hoạt động của cơ chậm

xuống và có thể bắt gặp giật cơ đột ngột trong giai đoạn này

- Giai đoạn 2: Là giai đoạn ngủ nhẹ nhàng, mắt ngừng chuyển động,

sóng điện não trở lên chậm hơn và thỉnh thoảng có những đợt sóng nhanh, các

cơ bắp giãn mềm, nhịp tim chậm và nhiệt độ cơ thể giảm xuống.

- Giai đoạn 3 và 4 được gọi chung là giai đoạn sóng chậm, đặc trưng

trên điện não đồ là các sóng chậm (sóng Delta) xuất hiện rải rác cùng với các

sóng nhỏ hơn và nhanh hơn, huyết áp giảm nhịp thở chậm, thân nhiệt giảm

xuống thấp hơn, cơ thể bất động, giấc ngủ sâu hơn, khơng có chuyển động

mắt giảm hoạt động cơ. Khi một người đang trong giấc ngủ sóng chậm họ rất

khó bị đánh thức, những người thức dậy trong giai đoạn này có cảm giác lảo

đảo, mất phương hướng trong vài phút sau khi thức dậy. Ở một vài trẻ em có

thể đái dầm, hoảng sợ trong khi ngủ, chứng miên hành trong giai đoạn này.

Giấc ngủ REM: Là giai đoạn được đánh dấu bởi hoạt động mạnh mẽ

của não, mức độ hoạt động cũng có thể tương đương với lúc thức. Sóng điện

não nhanh và mất đồng bộ. Nhịp thở trở nên nhanh hơn, không đều và nông,

mắt chuyển động nhanh theo các hướng khác nhau, cơ tay, chân biểu hiện liệt

tạm thời. Nhịp tim huyết áp tăng, giấc mơ hầu hết xảy ra trong giai đoạn này.



Hình 1.1: Biểu thị các giai đoạn của giấc ngủ [33]



13



Chu kỳ của giấc ngủ: Giấc ngủ là một quá trình lặp lại. Một quy

trình giấc ngủ hồn chỉnh bao gồm một giai đoạn NREM sau đó được tiếp nối

bởi một giai đoạn REM. Giấc ngủ NREM chiếm khoảng 75-80% tổng thời

gian ngủ. Chu kỳ giấc ngủ đầu tiên kéo dài khoảng 70-100 phút, các chu kỳ

tiếp theo kéo dài từ 90-120 phút. Trong một đêm, người trưởng thành khỏe

mạnh có khoảng 6 chu kỳ ngủ diễn ra. Giấc ngủ REM trong chu kỳ đầu tiên

thường rất ngắn khoảng 5-7 phút sau đó tăng dần, chu kỳ cuối cùng giấc ngủ

REM kéo dài khoảng 30 phút. Tuy nhiên những thành phần giấc ngủ có thể

thay đổi theo lứa tuổi. Một trong những thay đổi nhiều nhất khi so sánh cấu

trúc giấc ngủ của trẻ em và người trưởng thành là giai đoạn sóng chậm

(NREM3,4) trở nên ngắn hơn. Tỷ lệ giấc ngủ REM ở trẻ sơ sinh chiếm 50%

tổng thời gian ngủ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ sơ sinh đi ngay vào giấc

ngủ REM mà không qua giai đoạn NREM. Chu kỳ giấc ngủ ở trẻ sơ sinh chỉ

kéo dài khoảng 50-60 phút. Đến năm 2 tuổi, giai đoạn REM chiếm khoảng

20-25% tổng thời gian ngủ và tương đối ổn định trong suốt quá trình giấc ngủ.



14



Hình 1.2: Biểu thị mối liên quan giữa giấc ngủ và tuổi [34]

Chức năng của giấc ngủ: [31]

Chức năng của giấc ngủ đã được kiểm tra bằng nhiều cách khác nhau.

Hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng, giấc ngủ giúp phục hồi sức khỏe,

giúp cân bằng nội mơi, điều hòa thân nhiệt và bảo tồn năng lượng. Giấc ngủ

NREM tăng lên khi luyện tập thể dục và khi đói, tình trạng này có thể liên

quan đến nhu cầu thỏa mãn chuyển hóa.

Giấc ngủ REM đã được chú ý, tiến hành nghiên cứu từ lâu và có rất

nhiều kết quả được đưa ra. Một số vai trò đáng chú ý của giấc ngủ REM là:

+ Lọc sạch các chất chuyển hóa tích tụ trong hệ thần kinh.

+ Đảm bảo cho nguồn phát các xung động để kích thích vỏ não.

+ Chuyển trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn.

+ Bảo đảm cảm xúc diễn ra trong giấc mơ thích ứng với mơi trường

xung quang khi thức- tỉnh.

+ Tổ chức lại luồng xung động thần kinh bị rối loạn trong giấc ngủ NREM,

là giai đoạn chuyển tiếp sang thức- tỉnh, chuẩn bị tiếp nhận thông tin mới

Thời gian ngủ sinh lý: Thời gian ngủ sinh lý khác nhau ở mỗi lứa tuổi.

Theo khuyến cáo mới nhất của trung tâm giấc ngủ Hoa Kỳ (American

Academy of Sleep Medicine) năm 2016 tổng thời gian ngủ được khuyến cáo

cho các lứa tuổi (giờ/ ngày) như sau: Trẻ 0-3 tháng: 14-17 giờ; Trẻ 4-11 tháng:

12-15 giờ; 1-2 tuổi: 11-14 giờ; 3-5 tuổi: 10-13 giờ sau đó giảm dần còn 7-9 giờ ở

người trưởng thành và 7-8 giờ ở người cao tuổi. Thời gian khuyến cáo tốt nhất

bắt đầu đi ngủ cho trẻ từ 1-6 tuổi là 7-9 giờ tối và thức dậy là 6-8 giờ sáng. Ở độ

tuổi 3 tuổi trẻ vẫn còn có tình trạng gủ gật trong khi 5 tuổi trẻ hầu như khơng có.

Các vấn đề mới về giấc ngủ thường không phát sinh sau 3 tuổi [35].



15



Hình 1.3. Đặc điểm tởng thời gian ngủ theo lứa t̉i.[35]

(https://sleepfoundation.org/sites/default/files/STREPchanges_1.png)

1.2.2. Thói quen về giấc ngủ

Giấc ngủ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố trong đó có yếu tố mơi

trường và hình thành thói quen về giấc ngủ. Các yếu tố môi trường như nhiệt

độ, ánh sáng, âm thanh, chất liệu của đồ ngủ, khơng gian của phòng ngủ cũng

phần nào giúp trẻ có ngủ ngon hay khơng. Thói quen ngủ như đi ngủ và thức

dậy đúng giờ, các hành động, chế độ ăn và sinh hoạt trước khi đi ngủ cũng

góp phần ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ. Hình thành một thói quen ngủ tốt

sẽ ảnh hưởng tích cực giúp trẻ thư giãn và sẵn sàng để đi vào giấc ngủ ngon.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng các ánh sáng xanh phát ra từ các thiết bị công

nghệ như: laptop, điện thoại làm giảm tiết melatonin khiến cho con người khó

đi vào giấc ngủ vì vậy nên đặt phòng ngủ ở xa các thiết bị cơng nghệ kể cả

tivi và ngừng tiếp xúc với chúng ít nhất 30 phút trước khi đi ngủ. Nhiệt độ

phòng ngủ thích hợp nhất là 60-67 độ F (khoảng 16-20 độ C)[35]. Trong

nghiên cứu can thiệp giáo dục cha mẹ về hình thành thói quen ngủ tốt của



16



Reed năm 2009 cũng cho thấy hiệu quả trong việc cải thiện thời gian ngủ trễ

cũng như chống cự trước khi đi ngủ của 20 trẻ RLPTK (3-10 tuổi) [36].

1.2.3. Rối loạn giấc ngủ [36]

Nhu cầu ngủ của mỗi người là khác nhau. Những người ngủ nhiều cần

khoảng 9-10 tiếng mỗi đêm và một số người ngủ ít. Tuy nhiên, độ dài ngắn

của giấc ngủ có liên quan đến RLGN. Bốn triệu chứng chính liên quan đến

RLGN bao gồm mất ngủ, ngủ nhiều, ngủ bất thường và rối loạn nhịp thức

ngủ. Các triệu chứng này thường chồng lấp lên nhau.

Về phân loại RLGN, hiện nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất giữa hai

hệ thống phân loại bệnh Quốc tế (ICD) và Phân loại theo Hội Tâm thần học

Mỹ (DSM)

Phân loại theo ICD-10 RLGN bao gồm:[37]

Rối loạn giấc ngủ không thực tổn (F51.x) :

F51.0. Mất ngủ không thực tổn

F51.1 Ngủ nhiều không thực tổn.

F51.2. Rối loạn nhịp thức ngủ không thực tổn

F51.3. Đi trong khi ngủ (miên hành)

F51.4. Hoảng sợ khi ngủ (hoảng sợ ban đêm)

F51.5. Ác mộng

F51.8 Các rối loạn giấc ngủ không thực tổn khác

F51.9. Rối loạn giấc ngủ không thực tổn, không biệt định

Phân loại theo DSM-IV về RLGN [2]

- RLGN tiên phát (Primary Sleep Disorders)

* Các trạng thái loạn giấc ngủ (Dyssomnia)

+ Mất ngủ tiên phát

+ Ngủ nhiều tiên phát

+ Ngủ lịm (Narcolepsy)

+ Rối loạn giấc ngủ liên quan đến nhịp thở

+ Rối loạn nhịp sinh học của giấc ngủ



17



* Các rối loạn cận giấc ngủ (Parasomnias)

+ Ác mộng

+ Hoảng sợ khi ngủ

+ Mộng du

+ Các rối loạn khác

- RLGN liên quan đến một bệnh tâm thần khác

+ Mất ngủ liên quan đến một bệnh tâm thần

+ Ngủ nhiều liên quan đến một bệnh tâm thần

- Các RLGN khác:

+ RLGN do một bệnh

+ RLGN do một chất

1.2.4. Cơ chế và mối liên quan của rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK.

Nguyên nhân rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK là đa yếu tố: yếu tố sinh

học, thần kinh, miễn dịch, di truyền, mơi trường, thói quen ni dạy con

khơng có lợi cho giấc ngủ nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy mối liên

quan giữa rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK và yếu tố sinh học đặc biệt là

melatonin [14].

Melatonin là một hoocmon nội sinh được sản xuất ra chủ yếu bởi tuyến

yên. Với cơ thể bình thường ban ngày giảm tiết melatonin trong khi ban đêm

melalotin được tiết ra nhiều hơn và cao nhất lúc khoảng 2 giờ. Cùng với

serotonin, GABA, melatonin thiết lập một chu kỳ thức ngủ thường xuyên và bất

cứ sự suy yếu trong sự sản xuất dẫn truyền các chất này đều gây nên tình trạng

rối loạn giấc ngủ, đặc biệt là mất ngủ. Melatonin được mã hóa tổng hợp bởi gen

dưới tác dụng của enzim N.acetylserotonin O-methyl tranferase từ serotonin. Ở

trẻ RLPTK người ta thấy rằng ít có sự hoạt động của hệ gen này [14].



18



Trong một nghiên cứu năm 2008, Melke đã cho thấy sự thiếu hụt của

nồng độ melatonin trong máu cũng như sản phẩm chuyển hóa của nó là 6-sulfoxymelatonin trong nước tiểu của trẻ em mắc RLPTK [15]. Ngoài ra việc bổ

sung melatonin liều thấp 1-3mg cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể trong rối

loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK và đặc biệt khi phối hợp với liệu pháp hành vi có

thể cải thiện đến 63,38% rối loạn giấc ngủ ở trẻ RLPTK [16], [38], chứng tỏ

thiếu hụt melatonin có thể liên quan đến nguyên nhân rối loạn giấc ngủ ở trẻ

RLPTK.

1.2.5. Các phương pháp đánh giá về vấn đề giấc ngủ

Có nhiều cách để đánh giá giấc ngủ ở trẻ em nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng

như sử dụng các công cụ đo như PSG (polysomiography), Actigraphy hay thang

điểm để đánh giá (Children’s Sleep Habits Questionaire-CSHQ; Tayside children's

sleep questionnaire-TCSQ; Sleep Disturbance Scale for Children- SDSC……).

Polysomiography (PSG): là phương pháp thường được sử dụng

trong việc nghiên cứu giấc ngủ trong phòng thí nghiệm. Nó có hệ thống

chức năng đa thông số ghi lại điện não đồ, sự chuyển động của nhãn cầu,

điện tâm đồ, điện cơ cùng với việc ghi lại video theo dõi trẻ.

Phương pháp này có giá trị

trong việc phát hiện một số vấn đề

trong rối loạn giấc ngủ như : cơn

ngừng thở khi ngủ, co giật, chứng

ngủ rũ, ác mộng…Tuy nhiên đây là

một phương pháp tốn kém, thiết bị

cồng kềnh và thực hiện trong môi

trường phòng nghiên cứu cho nên có https://en.wikipedia.org/wiki/Polysomnography

thể ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ.



19



Actigraphy: là một máy tính nhỏ được thiết kế như một chiếc đồng

hồ đeo tay nó có thể sử dụng tại nhà của trẻ, trẻ vẫn hoạt động sinh hoạt như

bình thường nên ít gây ảnh hưởng đến tâm lý cho trẻ.

Dụng cụ này được thiết lập để

tính tốn các thơng số như: tổng thời

gian ngủ, hiệu quả của giấc ngủ, thời

gian đi vào giấc ngủ cũng như thời

gian thức dậy buổi sáng dựa trên 1

màn hình cảm biến các yếu tố môi

trường (ánh sáng, âm thanh, nhiệt

https://exist.io/blog/fitness-tracker-sleep/

độ…) và một gia tốc kế

 Các thang điểm đánh giá giấc ngủ ở trẻ em:



Có nhiều thang điểm đã được sử dụng để đánh giá giấc ngủ ở trẻ em

như: Sleep Disturbance Scale for Children (SDSC), Tayside children's sleep

questionnaire (TCSQ), Children’s Sleep Habits Questionaire (CSHQ)…

- Thang điểm SDSC (Sleep Disturbance Scale for Children):

Được ra xây dựng bởi Bruni và cộng sự năm 1996 tại Roma (Italia) khi

tiến hành phỏng vấn cha mẹ của 1175 trẻ em bình thường độ tuổi từ 6-16 tuổi

(trung bình 9,8 tuổi) và 147 trẻ em có rối loạn về giấc ngủ (độ tuổi trung bình

9,2) trong 6 tháng trở lại. Thang điểm SDSC gồm 27 câu hỏi với 5 nấc điểm

trong 6 hạng mục liên quan đến giấc ngủ như : khi bắt đầu đi ngủ, các vấn đề

hơ hấp khi ngủ (ví dụ cơn ngừng thở , ngáy…), các kích thích khi ngủ (ác

mộng, sợ hãi….), thức giấc vào đêm, hành vi ban ngày và đổ mồ hôi khi ngủ.

Điểm càng cao càng cho thấy vấn đề rối loạn giấc ngủ càng nhiều. Trong

nghiên cứu này đã cho điểm cut-of là 39 với độ nhạy 0,89 và độ đặc hiệu 0,74

[39] Thang điểm này đã được chuyển đổi và phát triển bởi Ferreirina và cộng

sự tại Braxin năm 2009 trên trẻ em độ tuổi 3-18 tuổi [40].



20



- Thang điểm TCSQ (Tayside children's sleep questionnaire):

Đây là thang điểm được sáng lập bởi Mc Greavey và cộng sự năm 2005

khi tiến hành phỏng vấn cha mẹ của 628 trẻ em (12- 66 tháng tuổi trung

bình là 41,74 tháng trong đó nữ 291 và nam 335) tại Scotland (Anh).

Thang điểm này gồm 10 mục đánh giá chủ yếu hành vi trước khi đi ngủ

và duy trì giấc ngủ của trẻ với 5 thang điểm từ 0-4 (0- không bao giờ xảy

ra; 1- xảy ra 1-2 lần/tháng; 2- xảy ra 1-2 lần/ tuần, 3- xảy ra 3-5 lần/ tuần

và 4- xảy ra 6-7/ tuần). Riêng câu hỏi “ Bao lâu sau khi lên giường trẻ

chìm vào giấc ngủ?” có 4 nấc điểm (0-sau15-30 phút, 1- sau 30-45 phút,

2- sau 45-60 phút và 3-sau hơn 60 phút) Điểm cut-of là 8 điểm với độ tin

cậy (Cronbach's alpha) là 0.85. Thang điểm này là một công cụ tốt để

đánh giá trong duy trì giấc ngủ ở trẻ. Nó chưa được sử dụng nhiều trong

các nghiên cứu và cũng chưa được áp dụng trên trẻ rối loạn phổ tự kỷ

[41].

- Thang điểm CSHQ (Children’s Sleep Habits Questionaire):

Trong các nghiên cứu lâm sàng thường sử dụng thang công cụ CSHQ

để đánh giá thói quen ngủ ở trẻ em. Thang này được đề xuất bởi Owens và CS

(2000) sau khi phỏng vấn nghiên cứu 469 cha mẹ trẻ em trong độ tuổi đi học

(4-10 tuổi) và 154 cha mẹ trẻ em được chẩn đốn rối loạn giấc ngủ ở một

phòng khám chun khoa. CSHQ là thang công cụ đã được phát triển và chuẩn

hóa sử dụng cho cả trẻ RLPTK và trẻ phát triển bình thường [42]. Sau đó được

phát triển bởi Goldlin Jones năm 2008 với 194 trẻ độ tuổi nhỏ hơn (2-5,5 tuổi)

trong đó 68 trẻ RLPTK 57 trẻ chậm phát triển và 69 trẻ phát triển bình thường.

CSHQ gồm 22 câu hỏi đi vào các vấn đề của giấc ngủ ở trẻ (trước khi đi ngủ,

trong khi ngủ, thức dậy ban đêm và thức giấc buối sáng) với 5 mức điểm về

mức độ thường xuyên của vấn đề: 1-không bao giờ, 2- hiếm khi, 3- thỉnh thoảng,

4- thường xuyên, 5- luôn luôn. Tổng điểm càng cao tương ứng các rối loạn về

giấc ngủ của trẻ càng nhiều. Trong nghiên cứu của Owens cho thấy điểm cut-off

là 41 điểm với độ đặc hiệu là 0,80 và độ nhạy là 0,72 [42] [43].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Phân loại theo khả năng trí tuệ và phát triển ngôn ngữ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×