Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.2: Chỉ số Apgar và mức độ thiểu ối [59]

Bảng 1.2: Chỉ số Apgar và mức độ thiểu ối [59]

Tải bản đầy đủ - 0trang

21



đây là giai đoạn hình thành và phát triển các phế nang.

- Thời gian kéo dài của thiểu ối: kéo dài trên 1 tuần.

- Mức độ thiểu ối.

Ngồi ra có thể gặp các bất thường do sự đè nén cơ học như khoèo

chân tay, cứng khớp,…Hội chứng Potter là hậu quả của tình trạng thiểu ối kéo

dài dẫn đến trẻ đẻ ra có những đặc điểm sau: bộ mặt điển hình với sống mũi

rộng, hai mắt xa nhau, tai mọc thấp, cằm lẹm, nếp epicanthus, bàn chân

khoèo, thiểu sản phổi và tăng áp phổi mạn tính.

Tỷ lệ trẻ phải điểu trị tại khoa hồi sức sau đẻ

Theo nghiên cứu của Cristina Rossi và cộng sự (2013), nhận thấy khơng có sự

khác biệt về tỷ lệ trẻ phải điều trị tại khoa hồi sức giữa hai nhóm thiểu ối và

nhóm có chỉ số nước ối bình thường [28].

1.6. Xử trí

Khơng có phương pháp nào điều trị thiểu ối được chứng minh là có hiệu

quả lâu dài. Tuy nhiên một số phương pháp có thể làm tăng thể tich nước ối

tạm thời và được xem xét trong một vài trường hợp nhất định chẳng hạn như

khi cần khảo sát hình thái thai nhi.

1.6.1. Truyền ối

Truyền ối làm tăng tạm thời thể tích nước ối, được thực hiên qua đường

bụng hoặc đường âm đạo, dung dich được sử dung trong truyền ối có thể là

nước muối sinh ký hoặc Ringer lactate [60]. Truyền ối được chỉ định trong

các trường hợp sau:

Truyền ối giúp tăng khả năng phát hiện các bất thường hình thái thai

nhi. Trong quý II, thiểu ối có thể hạn chế siêu âm đánh giá thai nhi một cách

tối ưu. Trong trường hợp này, việc truyền khoảng 200 ml dung dịch nước

muối đẳng trương qua đường bụng dưới hướng dẫn siêu âm giúp quan sát



22



hình thái thai nhi tốt hơn. Theo nghiên cứu của Fisk và cộng sự (1991), thực

hiện truyền ối cho 61 thai phụ với tuổi thai trung bình 22 tuần (16-36) được

xác định có thiểu ối mà khơng có tổn thương màng ối nhận thấy nhờ việc

truyền ối giúp siêu âm chẩn đốn chính xác 27 bất thường thai nhi trong tổng

số 30 trường hợp nghi ngờ trước đó, cũng nhờ truyền ối đã làm thay đổi chẩn

đốn thiểu ối ở 8 trường hợp (13%) [61]. Nghiên cứu của Pryde và cộng sự

(2000) tiến hành truyền ối trên các trường hợp thiểu ối khơng giải thích được

ở q II, nhận thấy truyền ối giúp tăng khả năng quan sát đầy đủ cấu trức thai

nhi lên 26% (51% tăng lên 77%), sự khác biệt là có ý nghĩa. Ở thai nhi có tắc

nghẽn đường tiết niệu, truyền ối giúp tăng khả năng chẩn đoán từ 12% lên

31% [62]. Chụp cộng hưởng từ thai nhi đơn thuần hoặc kết hợp với truyền ối

đã được sử dụng để phát hiện bất thường thai nhi trong thiểu ối ở ba tháng

giữa thai kỳ.

Ngoài ra theo một số tác giả truyền ối nhằm tạo điều kiện thuận lợi để

ngoại xoay thai do thiểu ối được coi là một chống chỉ định tương đối của

ngoại xoay thai. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có đủ cơ sở để chỉ định truyền

ối trong ngoại xoay thai ở những trường hợp thiểu ối.

1.6.2. Bù nước cho mẹ

Bù nước cho mẹ làm tăng khối lượng nước ối tức thì và là biện pháp ít

xâm lấm hơn so với truyền ối. Cơ chế của phương pháp này là làm giảm độ

thẩm thấu huyết tương và nồng độ natri trong máu mẹ, kết quả là làm tăng thể

tích tuần hoàn tới bào thai, tăng khối lượng máu đến rau thai, tăng lưu lượng

nước tiểu của thai nhi và có thể giảm tái hấp thu nước ối dẫn đến làm tăng thể

tích nước ối. Tiến hành bù dịch cho mẹ có thể được thực hiện qua đường uống

hoặc qua đường truyền tĩnh mạch, các loại dung dịch có thể được sử dụng làm

tăng thể tích nước ối là nước và dung dịch nhược trương [63].

Theo Patrelli và cộng sự (2014) tiến hành một nghiên cứu lâm sàng có



23



đối chứng so sánh giữa nhóm có thiểu ối khơng rõ ngun nhân được điều trị

bù dịch so với nhóm có thể tích nước ối bình thường, nhận thấy ở nhóm thiểu

ối sau khi được truyền dung dich đẳng trương 1500ml/ngày trong 6 ngày AFI

tăng có ý nghĩa từ 40mm lên 78mm, bù nước đường uống 1500ml/ngày và

2500ml/ngày cũng làm tăng AFI. Đồng thời nhận thấy, bù nước cho mẹ

trong các trường hợp thiểu ối làm giảm tác động bất lợi của thiểu ối đối với

thai nghén như: tỷ lệ mổ lấy thai, Apgar sau đẻ, tỷ lệ trẻ phải điều trị tại

ICU ở nhóm thiểu ối được điều trị khơng có sự khác biệt so với nhóm ối

bình thường [64].

Tuy nhiên để đưa ra khuyến cáo lâm sàng về điều trị thiểu ối bằng việc

bù nước cần thêm những nghiên cứu với quy mô lớn cung cấp thêm bằng

chứng về hiệu quả điều trị cũng như những ảnh hưởng tình trạng mẹ và thai.

1.6.3. Chất keo gắn màng ối

Một loạt chất keo gắn mô (keo fibrin, gelatin sponge, amniopatch) đã

được chứng minh là có hiệu quả trong việc ngăn chặn rò rỉ nước ối ra ngoài

do vỡ ối trong các trường hợp được báo cáo. Hiệu quả cũng như tính an tồn

của các chất này vẫn chưa được xác định.

Tất cả các biện pháp điều trị thiểu ối được nêu ra ở trên chưa thực sự

được chứng minh có hiệu quả. Do đó trong nghiên cứu của chúng tơi, các

trường hợp thiểu ối được phát hiện sẽ được theo dõi chỉ số nước ối, không sử

dụng biện pháp đặc hiệu nào để điều trị thiểu ối, chỉ áp dụng các biện pháp

điều trị trong trường hợp có dọa đẻ non kèm theo.



24



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong

khoảng thời gian từ 10/2016 đến 9/ 2017.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các thai phụ thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn của

nghiên cứu tại khoa Sản bệnh lý và Trung tâm chẩn đoán trước sinh Bệnh viện

Phụ sản Trung Ương.

2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

 Về phía mẹ

Mẹ hồn tồn khỏe mạnh, tiền sử và hiện tại khơng mắc bệnh lí

tồn thân.

 Về phía thai

o Có một thai, thai sống.

o



Tuổi thai 22 tuần đến 37 tuần (theo dự kiến sinh xác định bởi

siêu âm 3 tháng đầu thai kỳ hoặc tính theo ngày đầu kỳ kinh cuối

nếu nhớ chính xác và kinh nguyệt đều).



 Cận lâm sàng

Siêu âm chẩn đoán thiểu ối: AFI < 5cm.

2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

o Đa thai.

o Thai chết lưu.



25



o Tuổi thai không phù hợp.

o Thiểu ối do rỉ ối, ối vỡ.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp mô tả tiến cứu.

2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu

2.4.1. Cơ mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong

quần thể [65].

N=

Trong đó:

- N: cỡ mẫu nghiên cứu

- z2

- p: tỷ lệ thiểu ối theo Locatelli (2003): 0.11

- ε: khoảng sai lệch tương đối giữa tỷ lệ thu được và tỷ lệ của quần thể,

chọn ε = 0.6

- Ta có: n = 87

- Lấy cỡ mẫu nghiên cứu n = 87 thai phụ

2.4.2. Kỹ thuật chọn mẫu

Chon tất cả các thai phụ có đủ tiêu chuẩn nghiên cứu trong thời gian từ

tháng 10/2016 đến tháng 9/2017.

2.5. Biến số nghiên cứu

- Tuổi (năm): được chia thành các nhóm: < 25, 25 – 29, 29 - 34 và > 35.

- Nghề nghiệp: nhân viên, công nhân, nông dân và tự do.

- Tiền sử sản khoa: con so hay con rạ.

- Tuổi thai khi phát hiện thiểu ối lần đầu tiên: được chia thành các nhóm:



26



22-27 tuần và 28-37 tuần.

- Chỉ số nước ối (kỹ thuật đo theo Phelan): tại thời điểm phát hiện thiểu

ối, tại thời điểm chỉ số nước ối về bình thường, tại thời điểm kết thúc

thai nghén.

-



Một số bất thường phát hiện được ở các trường hợp thiểu ối (nguyên

nhân gây thiểu ối)



 Thai bất thường được chia thành các nhóm: bất thường hệ tiết niệu và

các bất thường khác.

 Thai chậm phát triển trong tử cung.

 Không rõ nguyên nhân.

- Tiến triển trong quá trình theo dõi: ổn định (chỉ số nước ối về bình

thường), ngừng thai nghén vì thai, ngừng thai nghén bỏ thai, thai chết

lưu.

- Kết quả thai nghén:

 Thời gian kéo dài thai nghén: trong nghiên cứu này là thời gian tính từ

khi phát hiện thiểu ối đến khi kết thúc thai nghén (tuần).

 Tuổi thai khi kết thúc thai nghén: chia thành các nhóm: 22 - 28 tuần, 28

– 37 tuần và > 37 tuần.

 Phương pháp đẻ: mổ lấy thai hay đẻ đường âm đạo.

 Chỉ định mổ lấy thai: do thai suy hay do nguyên nhân khác.

 Cân nặng khi sinh (gam).

 Chỉ số Apgar phút thứ 1 và phút thứ 5 được chia thành 2 nhóm: < 7

điểm và ≥ 7 điểm.

2.6. Các tiêu chuẩn có liên quan đến nghiên cứu

2.6.1. Thiểu ối

Định nghĩa thiểu ối được sử dụng trong nghiên cứu này: 1 thai được gọi là



27



thiểu ối khi chỉ số ối (AFI) < 50 mm.

2.6.2. Kỹ thuật đo chỉ số nước ối theo Phelan [25]

- Tư thế của thai phụ và thầy thuốc trong khi làm siêu âm: Thai phụ nằm

ngửa trên bàn, hai chân duỗi thẳng, toàn bộ vùng bụng được bộc lộ. Thầy

thuốc ngồi bên phải thai phụ trong quá trình đo.

- Kỹ thuật đo: Chia tử cung thành 4 góc bằng hai đường thẳng vng góc

nhau: một đường thẳng đi qua trục dọc giữa cơ thể thai phụ, một đường thẳng

đi qua điểm giữa của chiều cao tử cung, 4 góc lần lượt là góc trên phải, góc

dưới phải, góc trên trái và góc dưới trái.

- Động tác cầm đầu dò siêu âm: đầu dò ln thẳng góc với mặt sàn và

song song với trục dọc của thai phụ. Tiến hành đo độ sâu tối đa nước ối ở mỗi

góc phần tư của tử cung. Chỉ số nước ối là tổng độ sâu tối đa nước ối ở 4 góc,

đơn vị là mm. Một nguyên tắc được tất cả các tác giả chấp thuận là khi đo cần

loại trừ những thành phần không phải nước ối như chi thai hay dây rốn.

2.6.3. Thai chậm phát triển trong tử cung

Tính tuổi thai chính xác là bước đầu tiên và quan trọng nhất để chẩn

đoán thai chậm phát triển trong tử cung. Có thể dựa vào ngày đầu tiên của kỳ

kinh cuối (kinh nguyệt đều) hoặc siêu âm trong q I đo chiều dài đầu mơng

để tính tuổi thai, tính theo siêu âm có độ tin cậy cao hơn.

Có nhều định nghĩa về thai chậm phát triển trong tử cung đã được đưa ra

nhưng phần lớn đều chấp nhận định nghĩa thai chậm phát triển là khi trọng lượng

thai hoặc chiều dài thai nằm dưới đường percentile thứ 10 ứng với tuổi thai [66].

2.6.4. Thái độ xử trí thiểu ối trong nghiên cứu

Thái độ xử trí chủ yếu là điều trị nội khoa với các nguyên tắc:

- Liệu pháp corticoid giúp trưởng thành phổi thai nhi: Betamethasone chỉ

- Điều trị dọa đẻ non (nếu có): các thuốc giảm cơn co tử cung thường



28



được sử dụng là nhóm cường beta giao cảm (Salbutamol), nhóm chẹn

kênh canxi (Nifedipine) và thuốc đối kháng với oxytocin (Abtociban).

- Theo dõi nhịp tim thai bằng biểu đồ phân tích nhịp tim thai và cơn co

tử cung (mornitoring).

- Siêu âm theo dõi sự thay đổi của nước ối và đánh giá tình trạng thai.

Trong quá trình điều trị, chỉ định ngừng thai nghén bằng gây chuyển dạ

hoặc mổ lấy thai trong các trường hợp sau:

- Thai suy hoặc thai có nguy cơ chết lưu.

- Bệnh nhân có nguyện vọng ngừng thai nghén.

2.6.5. Kết quả theo dõi thiểu ối

- Ổn định: Trong quá trình theo dõi, chỉ số ối trở về bình thường (AFI >

50mm).

- Kết thúc thai nghén: Trong quá trinh theo dõi và điểu trị do tình trạng

thiểu ối mà thai nghén phải kết thúc bằng các hình thức: sảy thai, chuyển dạ đẻ

non hoặc phải ngừng thai nghén bằng cách gây chuyển dạ hoặc mổ lấy thai.

- Thai chết lưu trong tử cung.

2.6.6. Chỉ số Apgar

Từ năm 1953 người ta dựa theo chỉ số Apgar để đánh giá trẻ sơ sinh ở

phút thứ 1, 5, 10 sau đẻ.

Bảng 2.1: Chỉ số Apgar

Điểm

Nhịp tim

Nhịp thở

Màu sắc da

Trương lực cơ

Phản xạ

Đánh giá: Tổng điểm:



0

Rời rạc

Ngáp

Trắng

Giảm nặng

Khơng



1

< 100l/p

Rối loạn

Tím

Giảm nhẹ

Chậm



2

>100l/p

Đều

Hồng hào

Bình thường

Đáp ứng tốt



29



- < 4: Ngạt nặng

- 4-5: Ngạt trung bình

- 6-7: Ngạt nhẹ

- > 7: Bình thường

2.7. Cách tiến hành nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân thiểu ối vào viện đã thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa

chọn được tiến hành nghiên cứu theo trình tự sau:

- Tiến hành thăm khám lâm sảng thu thập thông tin nghiên cứu.

- Ghi nhận chỉ số ối thời điểm phát hiện.

- Xác định xem có nguyên nhân gây thiểu ối hay không.

- Siêu âm theo dõi chỉ số nước ối đánh giá thay đổi của nước ối cũng như

sự phát triển của thai.

- Tiếp tục theo dõi các bệnh nhân được để đánh giá kết quả thai nghén

của những trường hợp này.

- Đánh giá đặc điểm sơ sinh: Tuổi thai, cân nặng khi sinh và chỉ số Apgar

sau sinh.

2.8. Sai số và biện pháp khống chế sai số

2.8.1. Sai số

Bao gồm sai số thơng tin (khơng có số liệu, thu thập sai số liệu, số liệu bị

thiếu, do chủ quan của người thu thập thông tin). Bên cạnh đó nghiên cứu có

khả năng gặp các sai số chon đối tượng nghiên cứu, khả năng chọn đối tượng

bị thiểu ối ít hơn so với thực tế.

2.8.2. Khống chế sai số

- Mẫu bệnh án rõ ràng, đầy đủ thông tin, dễ hiểu, dễ sử dụng.

- Chon đối tượng nghiên cứu theo đúng tiêu chuẩn, chọn ngẫu nhiên, đủ

số lượng và đúng thời gian nghiên cứu.



30



2.9. Xử lý số liệu

Các số liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch và xử lý trên phần mềm vi

tính SPSS 16.0. Các phép tính bao gồm: tính giá trị trung bình, tính tỷ lệ phần

trăm, so sánh các giá trị trung bình, so sánh các tỷ lệ, kiểm định khi bình

phương, T – Test, kiểm định mối tương quan giữa 2 biến định lượng.

2.10. Đạo đức nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu và quá trình triển khai nội dung nghiên cứu sẽ được

xem xét và thông qua bởi bộ môn Phụ sản trường Đại học Y Hà Nội và Hội

đồng y đức Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu, được thơng báo đầy đủ về mục

đích và u cầu của nghiên cứu. Các thông tin về đối tượng nghiên cứu được

đảm bảo giữ bí mật và được mã hóa.

Nghiên cứu dựa trên hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng, sử dụng phương tiện

siêu âm không gây ảnh hưởng đến mẹ và thai, theo dõi quá trình điều trị và quan

sát tình trạng trẻ sơ sinh nên khơng gây ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.

Số liệu trong nghiên cứu chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, khơng

dùng cho bất cứ mục đích nào khác.



31



CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Tuổi mẹ

Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi mẹ

Tuổi (năm)

<25

25-29

30 - 35

>35

Tổng

X±SD



N

25

40

22

7

94



Tỉ lệ (%)

26,6

42,6

23,4

7,4

100

27,5 ± 5



Nhận xét:

- Tuổi mẹ trung bình là 27,5 ± 5tuổi.

- 42,6 % số thai phụ trong nghiên cứu thuộc nhóm tuổi từ 25 – 29 tuổi.

- Số thai phụ > 35 tuổi chỉ chiếm 7,4%.

3.1.2. Nghề nghiệp

Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp

Nghề nghiệp



N



Tỉ lệ (%)



p



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.2: Chỉ số Apgar và mức độ thiểu ối [59]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×