Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mũi là phần đầu của hệ hô hấp, có nhiệm vụ chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác. Mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi [13].

Mũi là phần đầu của hệ hô hấp, có nhiệm vụ chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác. Mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi [13].

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



sau qua lỗ mũi sau. Mỗi ổ mũi có bốn thành: trong, ngồi, trên và dưới. Có

nhiều xoang nằm trong các xương lân cận, đổ vào ổ mũi [13].

Tiền đình mũi: Là phần đầu tiên của ổ mũi, hơi phình ra, tương ứng với

phần sụn cánh mũi lớn. Phần lớn tiền đình mũi được lót bởi da có nhiều lơng

và tuyến nhầy để cản bụi [13].

Lỗ mũi sau: Là nơi thông thương giữa ổ mũi với tỵ hầu. Gồm 2 lỗ, cách

nhau bởi vách mũi [13].

Thành mũi trong: Thành mũi trong hay vách mũi có hai phần:

 Phần sụn: ở trước, gồm trụ trong sụn cánh mũi lớn (tạo nên phần

màng di động phía dưới của vách mũi) và sụn vách mũi, sụn lá mía mũi.

 Phần xương: ở sau, do mảnh thẳng đứng của xương sàng và xương

lá mía tạo nên [13].



Hình 1.2. Thành trong của mũi [13]

1. Xoang bướm 2. Xương lá mía 3. Lỗ mũi sau

4. Mảnh thẳng đứng xương sàng 5. Sụn vách mũi 6. Khẩu cái cứng

Trần ổ mũi: Trần của ổ mũi do một phần của các xương: mũi, trán, sàng

và thân xương bướm tạo nên [13].

Nền ổ mũi: Nền ổ mũi là khẩu cái cứng, ngăn cách giữa ổ mũi và ổ

miệng [13].

1.2. Các phân loại về hình thái của mũi

Tại Việt Nam, Trần Thị Anh Tú năm 2003 đã nghiên cứu hình thái mũi

của 400 sinh viên người Việt. Dựa vào phân loại dạng mũi của Olivier dựa



5



trên tiêu chuẩn hình dạng đường viền sống mũi, góc mũi mơi, Trần Thị Anh

Tú bổ sung tiêu chuẩn xếp loại dựa trên hình dạng lỗ mũi trên ảnh thẳng, và

sử dụng cách gọi tên thông dụng của người dân, sắp xếp thành sáu dạng mũi

(Hình 1.3): mũi thẳng (53,5%), mũi lõm (39,25%), mũi gãy (2%), mũi gồ

(5,25%), mũi hếch (17%), mũi khoằm (1,5%) [14].



A



B



C



D



E



F



A: Mũi thẳng; B: Mũi lõm; C: Mũi gãy; D: Mũi gồ; E: Mũi hếch; F: Mũi khoằm



Hình 1.3. Các hình thái của mũi [14]

Tiêu chuẩn phân loại dựa theo số đo góc mũi mơi có ý nghĩa trong việc

đánh gía thẩm mỹ mô mềm vùng mũi môi, là một yếu tố then chốt phản ánh

sự hài hòa/ bất hài hòa của mũi trên khn mặt nhìn nghiêng.



Mũi hếch



Mũi khoằm



Hình 1.4. Phân loại các dạng mũi dựa vào góc mũi mơi [14]



6



1.2.1. Phân loại sống mũi dựa vào đường nối gốc chóp mũi

Hình dạng sống mũi là một tiêu chuẩn được nhiều tác giả sử dụng trong

nghiên cứu hình thái mũi cũng như trong phân tích, chẩn đốn và lập kế

hoạch phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ. Theo nghiên cứu của Farhad B.N. trên

người da trắng (2011), đường viền sống mũi lý tưởng nên song song và lõm

nhẹ xuống dưới so với đường thẳng nối gốc mũi và đỉnh mũi. Ở nữ, sống mũi

lý tưởng lõm nhẹ dưới 1mm so với đường này. Trong khi ở nam giới, sống

mũi lý tưởng trùng với đường này [15].

Đường viền sống mũi so với đường nối sống mũi có thể thẳng, gồ, lõm.

Từ đó có các loại mũi tương ứng: Mũi thẳng, Mũi gồ, Mũi lõm (Hình 1.5).

Mũi lõm



Mũi thẳng



Mũi gồ



Hình 1.5. Phân loại hình thái mũi dựa vào đường nối gốc chóp mũi [15]

Qua các nghiên cứu về hình thái mũi trên thế giới, có thể thấy tồn tại rất

nhiều cách để phân loại các dạng mũi. Một số cách phân loại khá phổ biến

được nêu tóm tắt trong bảng 1.1.



Bảng 1.1. Phân loại dạng mũi dựa theo Olivier và Trần Thị Anh Tú [14]



7



Dạng mũi



Sống mũi so với đường



Góc mũi



nối gốc mũi – chóp mũi



mơi

(độ)



Đặc điểm lỗ mũi nhìn

thấy trên ảnh thẳng



Mũi thẳng



Trùng nhau hoặc ± 1mm



80-110



Lộ dưới 50% lỗ mũi



Mũi lõm



Lõm >1-5 mm



80-110



Lộ dưới 50% lỗ mũi



Mũi gãy



Lõm > 5mm



80-110



Lộ dưới 50% lỗ mũi



Mũi gồ



Gồ > 1mm



80-110



Lộ dưới 50% lỗ mũi



Mũi hếch



Bất kì



>110



Lộ trên 50% lỗ mũi



Mũi khoằm



Bất kì



< 80



Khơng nhìn thấy lỗ mũi



1.2.2. Phân loại hình dạng mũi theo chỉ số của mũi

Chỉ số mũi của Olivier có giá trị trong nhân trắc học, là một trong

những tiêu chuẩn đánh giá đặc trưng hình thái chủng tộc với giá trị rất khác

biệt [15].

Theo nghiên cứu của Olivier, ông phân ra thành bảy dạng mũi [16]:

Cực hẹp:



< 40



Rất hẹp:



40 – 54,99



Hẹp:



55 – 69,99



Trung bình:



70 – 84,99



Rộng:



85 – 99,99



Rất rộng:



100 – 114,99



Cực rộng:



>115



8



1.3. Một số kích thước, tỷ lệ của mũi ở khuôn mặt

Mũi là khối lồi nhất và nằm ở vị trí trung tâm của mặt nên ảnh hưởng

nhiều đến thẩm mỹ khn mặt. Khi nhìn nghiêng, mũi bắt đầu từ điểm gốc mũi,

lý tưởng là ngang mức nếp gấp mi mắt trên và kết thúc ở điểm chân trụ mũi.

Tương quan giữa kích thước mũi và kích thước khn mặt

Theo tiêu chuẩn tân cổ điển, chiều dài mũi (N-Sn) chiếm khoảng 45%

chiều cao tầng mặt đặc biệt (N-Gn). Chiều rộng cánh mũi (Al-Al) nên bằng

với khoảng cách giữa hai mí mắt (En-En), và bằng với chiều rộng của mắt

(En-Ex), theo nguyên tắc 1/5, khuôn mặt được chia thành năm phần bằng

nhau, mỗi phần tương đương chiều rộng của một mắt [17].

Bảng 1.2. Một số quan điểm Tân cổ điển về các tỷ lệ của mũi [17]

TÊN CHUẨN

Khoảng gian góc mắt trong = Chiều rộng mũi

Khoảng gian góc mắt trong = Chiều rộng mắt

Chiều rộng mũi = 2/3 Chiều rộng miệng

Chuẩn tỷ lệ mũi mặt (Chiều rộng mũi = 1/4

khoảng gian điểm gò má)

Chiều dài mũi = 0,43 Chiều cao tầng mặt đặc

biệt

Chiều dài mũi = Chiều dài tai

Khoảng cách từ mũi đến góc mép ngồi miệng =

góc mép ngồi miệng đến đồng tử



KÍ HIỆU

En- En= Al- Al

En-En = Ex-En

Al- Al =2/3 Ch- Ch

Al- Al=1/4 Zy –Zy

N- Sn = 0,43 N- Gn

N-Sn = Sa – Sba

Al-Ch = Ch-Pp



Tương quan của mũi với các thành phần khác trên khuôn mặt

Mối tương quan của mũi với các thành phần xung quanh bao gồm: trán,

cằm, mơi; thể hiện ở tương quan giữa các góc trán – mũi, góc mũi – cằm, và

góc mũi mơi.

Góc trán mũi tạo bởi tiếp tuyến đi qua điểm N (nasion) và Gl (glabella)

với tiếp tuyến sống mũi đi qua điểm N và Pn (pronasale) [15]. Ở người da

trắng, theo Powell và Humphreys (1984) giá trị góc trán mũi lý tưởng từ 115 o

– 130o [18].



9



Dean M. Torumi và Daniel G. Becker, chiều dài mũi ảnh hưởng bởi góc

trán mũi và góc mũi mơi. Một góc trán – mũi nơng và/ hoặc góc mũi mơi

nhọn góp phần làm mũi dài ra. Và một góc trán – mũi sâu và/ hoặc góc mũi

mơi q tù góp phần làm mũi ngắn lại [19].

Góc mũi mơi tạo bởi đường thẳng tiếp tuyến của môi trên (Sn-Ls) với

tiếp tuyến bờ dưới mũi (Sn-Cm) đi qua điểm dưới mũi subnasale (Sn), có vai

trò rất quan trọng trong lập kế hoạch điều trị cho các bệnh nhân biến dạng

mặt. Góc mũi mơi trung bình ở nam da trắng từ 100 o ± 12o, , ở nữ từ 105o ± 10o

[15] và được sử dụng để đánh giá độ nghiêng của nền mũi.

Theo Holdaway, góc mũi-mơi là yếu tố phát hiện mất hài hòa vùng dưới

mũi, là dấu hiệu báo động điều trị nhưng giá trị tham khảo bị hạn chế [20].

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là bản thân góc mũi mơi xác định (định

hướng) những phần còn lại của khn mặt.

Theo Scheideman G. B. (1980), phân tích góc mũi mơi cần dựa trên

phân tích hai góc thành phần tạo nên góc mũi mơi. Góc A tạo bởi đường tiếp

tuyến gốc mũi với mặt phẳng ngang một góc 26 0 , trong khi đó, góc B tạo bởi

đường tiếp tuyến môi trên hơi nghiêng ra trước tạo với mặt phẳng ngang một

góc 860. Giá trị hai góc này thay đổi độc lập nhau, do đó mỗi góc nên được

đánh giá riêng trong q trình điều trị [21].



Hình 1.6. Phân tích góc mũi mơi theo Sheidemann [21]



10



Góc mũi cằm tạo bởi tiếp tuyến sống mũi đi qua điểm N và Pn với

đường thẳng nối đỉnh mũi Pn và điểm trước nhất của Pg, góc này nên có giá

trị từ 120o – 132o [15]. Giá trị góc này giảm rõ rệt ở các trưởng hợp khuôn mặt

bất hài hòa.



Góc trán mũi

Góc mũi mặt

Góc mũi cằm



Góc trán mũi

Góc mũi mặt

Góc mũi cằm



Hình 1.7. Các góc mũi trên khn mặt



11



1.4. Một số nghiên cứu về hình thái, kích thước, tỷ lệ của mũi ở khuôn mặt

1.4.1. Những nghiên cứu về hình thái, kích thước và tỷ lệ của mũi ở khn

mặt trên thế giới

Năm 1996, Miyajima nghiên cứu nhóm 52 đối tượng nam, nữ người

Nhật, so sánh với người Châu Âu thấy có sự khác biệt các số đo vùng mặt

như góc mũi mơi của nhóm nam nữ người Nhật nhỏ hơn nhóm nam nữ người

châu Âu, góc mũi mơi có hướng thẳng đứng, răng hơ...[22].

Năm 2003, Fernandez-Riveiro và cộng sự nghiên cứu các góc mơ mềm

nhìn nghiêng trên ảnh chuẩn hóa ở tư thế đầu tự nhiên (NHP) ở 212 người da

trắng độ tuổi 18 – 20 (50 nam và 162 nữ). Kết quả cho thấy sự khác biệt về

giới được nhận thấy ở một số góc như góc trán mũi, góc mũi dọc và góc lưng

mũi. Các góc có giá trị thay đổi trong khoảng rộng là góc mũi – mơi và góc

cằm – mơi [23].

Năm 2009, Farhan Zaib và các cộng sự nghiên cứu phân tích khn

mặt nhìn nghiêng bằng phương pháp đo trên ảnh chuẩn hóa. Kết quả cho thấy

góc trán mũi (130,16o ± 5,31o), độ rộng mũi (78,23o ± 8,45o), góc mặt lưng

mũi, góc tổng lồi mặt ở Nam lớn hơn. [24].

Năm 2014, Li KZ, Guo S, Sun Q, Jin SF, Zhang X và Xiao M tiến hành

nghiên cứu trên 900 người Trung Quốc, cho thấy kết quả như sau: Chiều dài,

chiều rộng và chiều cao của mũi phụ nữ nhỏ hơn so với nam giới [25].

Năm 2014, Ahmet Uzun, Fikri Ozdemir đã nghiên cứu 115 người Thổ

Nhĩ Kì thì nhận thấy rằng đa số có hình thái mũi hẹp [26].

Năm 2017, Arslan Zaidi và cộng sự, nhóm giáo sư đến từ trường đại

học Pennsylvania State, đã tiến hành nghiên cứu trên tổng cộng 140 phụ nữ

đến từ Tây Phi, Đông Á, Bắc Âu và Nam Á. Kết quả nghiên cứu cho thấy

“Mũi rộng hơn thường gặp ở khu vực có khí hậu nóng ẩm, trong khi mũi hẹp

lại phổ biến hơn đối với khu vực ở vĩ độ cao, như vùng Bắc Âu, để có thể

thích nghi với điều kiện khí hậu lạnh khơ”. [27]



12



1.4.2. Những nghiên cứu về hình thái, kích thước và tỷ lệ của mũi ở khuôn

mặt tại Việt Nam

Năm 1999, Trần Thị Anh Tú nghiên cứu trên 400 đối tượng là sinh viên

Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng: Hình dạng mũi người Việt

Nam có những đặc điểm của mũi người da vàng: mũi thấp, sống mũi lõm

chiếm tỷ lệ cao, cánh mũi phồng, nền mũi hình đa cung....Nghiên cứu cho

thấy tỷ lệ các dạng mũi như sau: mũi thẳng chiếm tỷ lệ 53,5%, mũi lõm:

39,25%, mũi gồ: 5,25%, mũi gãy: 2%, mũi hếch: 17%, mũi khoằm: 1,5%;

Chiều dài mũi N-Sn : 48 ± 3,9 mm; chiều rộng mũi Al-Al: 40 ± 3,0 mm; góc

mũi mặt 35o ± 2,3o. Kết luận được rút ra sau nghiên cứu: Mũi người Việt Nam

có các đặc điểm của mũi người da vàng: Mũi thấp, sống mũi lõm chiếm tỷ lệ

cao, cánh mũi phồng… Mũi người Việt Nam ngắn, thấp, và ít nhơ hơn người

da trắng, tuy nhiên so về nền mũi thì chóp mũi người Việt Nam cao và rộng

hơn chóp mũi người da trắng. [28]

Năm 2004, nghiên cứu của Phạm Bình Ái Phương về mơ mềm mũi ở

người trưởng thành cho thấy: Mũi nam giới dài hơn, nhô hơn, nhọn hơn, sống

mũi thẳng hơn của nữ giới. [29]

Năm 2013, Võ Trương Như Ngọc, Nguyễn Thu Phương, Trịnh Thị Thái

Hà, Nguyễn Thị Thuỳ Linh, Trương Mạnh Nguyên nghiên cứu hình thái mơ

mềm mũi ngồi trên 100 đối tượng sinh viên Đại học Y Hà Nội ở độ tuổi 18 –

25 bằng phương pháp chụp ảnh chuẩn hóa tư thế thẳng, nghiêng và ngả sau

nhiều. Kết quả nghiên cứu cho thấy mũi thẳng chiếm chiếm tỷ lệ là 44%, mũi

lõm là 22% , mũi hếch chiếm 20% và các dạng mũi còn lại chiếm tỷ lệ thấp

như mũi gãy 5%, mũi gồ 6%, mũi khoằm 6%. Trong đó các chỉ số đo được

như sau: Chiều dài mũi N-Sn là 49,27 ± 3,6 mm, chiều rộng mũi Al-Al: 41,62

± 3,7 mm, góc mũi mặt 32,24o ± 3,66 o. So với người da trắng, mũi người

Việt Nam thấp, ngắn, ít nhơ hơn. Mũi của nữ nhỏ và ít nhơ hơn so với mũi của

nam [30].



13



Năm 2016, Nguyễn Thành Nhân nghiên cứu hình thái tháp mũi bằng

phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 400 người trưởng thành ở độ tuổi

từ 18 – 40 đã rút ra được kết luận: Mũi người Việt trưởng thành có 9 dạng:

mũi thẳng, mũi lõm, mùi gồ, mũi hếch, mũi trung gian và mũi khoằm, mũi

hẹp, mũi rộng và mũi rất rộng. Ngoài ra xác định được 7 thông số mũi cơ bản

dùng để định lượng và tính tốn các tỷ lệ khi cần so sánh trong lâm sàng bao

gồm: Chiều cao mũi từ gốc mũi đến chóp mũi (N-Pn), chiều dài mũi từ gốc

mũi đến trụ mũi (N-Sn), chiều ngang cánh mũi (Al-Al), chiều ngang nền mũi

(Ac – Ac), chiều cao chóp mũi (Sn – Tp), góc trán mũi, góc mũi mơi [31].

1.5. Phương pháp đo trên ảnh chuẩn hố



Hình 1.8. Ảnh chụp chuẩn hóa

Phân tích trên ảnh chụp được thực hiện trên ảnh chụp tư thế thẳng và

nghiêng. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực

khác nhau như nhân trắc, hình sự với ưu điểm: rẻ tiền và có thể giúp đánh giá

tốt hơn về tương quan của các cấu trúc ngồi sọ gồm cơ và mơ mềm. Khi

phân tích thẩm mỹ khn mặt nên chủ yếu quan sát trực tiếp và phân tích qua

ảnh. Hai phương pháp này có tác dụng bổ trợ cho nhau. Phép đo trực tiếp trên



14



người sống cho các giá trị của các kích thước trên từng cá thể chính xác hơn.

Phép đo ảnh chụp dễ đánh giá về sự cân xứng của vùng mặt, cũng như dễ trao

đổi thông tin hơn. Đo đạc trên máy ảnh kỹ thuật số với phần mềm đo thích

hợp sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, nhân lực và đỡ phức tạp hơn nhiều so

với đo trực tiếp trên người, có nhiều ưu điểm về khả năng thơng tin, lưu trữ và

bảo quản. Qua ảnh, có thể đánh giá định tính đẹp hay khơng đẹp. Từ đó chúng

ta có thể yêu cầu một phương pháp khoa học để đánh giá định lượng. Có

nhiều tác giả đã phân tích khuôn mặt qua ảnh và đã đưa ra các tiêu chuẩn để

chụp mặt với các tư thế khác nhau như Ferrario, Bishara, Farkas, mục đích để

chuẩn hố kỹ thuật chụp ảnh nhằm đánh giá và so sánh dễ dàng hơn [32],

[33], [34].

1.5.1. Ưu điểm của phương pháp đo trên ảnh chụp chuẩn hóa

- Những mốc ngồi mặt cần xác định được không chỉ là những mốc nằm

dọc theo chiều mặt nghiêng mà còn phải kể đến các mốc giải phẫu khác nằm

phía trong, thuộc mơ mềm như cánh mũi, mép hai mơi, khóe mắt... những

điểm rất khó xác định trên phim chụp sọ nghiêng nhưng dễ xác định hơn trên

ảnh chụp chuẩn hóa.

- Phương pháp được dùng chủ yếu khi phân tích thẩm mỹ khn mặt là

quan sát trực tiếp và phân tích qua ảnh.

- Thao tác đơn giản, dễ dàng đánh giá về sự cân xứng vùng mặt, dễ dàng

lưu trữ và trao đổi thông tin.

- Tiết kiệm thời gian, nhân lực khi đo đạc và phân tích bằng phần mềm

trên máy tính.

1.5.2. Nhược điểm của phương pháp đo trên ảnh chụp chuẩn hóa

Mặc dù là phương pháp có nhiều ưu điểm, tuy nhiên, một số nguyên

nhân sau tạo ra những bức ảnh kém chất lượng, dẫn tới sai số trong khi đo đạc

và phân tích.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mũi là phần đầu của hệ hô hấp, có nhiệm vụ chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác. Mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi [13].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×