Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Hở eo tử cung trong nghiên cứu của chúng tôi là 5,88%. Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương là 10% [59]. Sự khác biệt này có thể được giải thích là do những sản phụ bị hở eo tử cung trong nghiên cứu của chúng tôi đã khâu vòng CTC trướ

- Hở eo tử cung trong nghiên cứu của chúng tôi là 5,88%. Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương là 10% [59]. Sự khác biệt này có thể được giải thích là do những sản phụ bị hở eo tử cung trong nghiên cứu của chúng tôi đã khâu vòng CTC trướ

Tải bản đầy đủ - 0trang

54



Đa thai chiếm tỷ lệ 2,94%. Đa thai làm căng giãn quá mức tử cung gây

dọa đẻ non.

Không rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm tới 53,94 %. Điều

này cho thấy để hạn chế DĐN là một vấn đề hết sức nan giải không chỉ riêng

với ngành sản khoa mà còn đối với cả xã hội.

4.1.5. Đăc điểm lần mang thai hiện tại

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.6) thấy rằng sản phụ đẻ

con so chiếm tỷ lệ là 49,02%, đẻ con dạ là 50,98%. Theo nghiên cứu của

Phạm Tài con so chiếm tỷ lệ 48,6 %, con dạ chiếm tỷ lệ 51,2 % [37] tương tự

với kết quả của chúng tôi. Sự khác biệt giữa tỷ lệ sinh con so và con dạ trong

DĐN khơng có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%.

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.2.1. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

- Triệu chứng cơ năng khi vào viện

Triệu chứng cơ năng hay gặp của dọa đẻ non là đau bụng, ra máu, nhày

hồng hay ra nước âm đạo. Kết quả ở bảng 3.7 cho thấy những bệnh nhân vào

viện chỉ với triệu chứng đau bụng chiếm tỷ lệ 57,84%, chỉ ra dịch âm đạo

chiếm tỷ lệ 4,9% và những bệnh nhân vừa đau bụng vừa ra dịch âm đạo

chiếm 37,26 %. Từ những kết quả này, chúng tôi thấy biểu hiện đau bụng là lý

do hàng đầu khiến bệnh nhân phải đi khám. Đây là một dấu hiệu chủ quan vì

chỉ có những cơn co tử cung đạt tới ngưỡng đau thì bệnh nhân mới cảm thấy

đau bụng, mặt khác đau bụng có thể do các nguyên nhân khác mà khơng phải

cơn co tử cung. Do đó, để chẩn đốn và theo dõi diễn biến điều trị khơng dựa

vào những dấu hiệu chủ quan này mà cần sự thăm khám của bác sĩ và theo dõi

cơn co tử cung bằng monitoring.



55



Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Lâm bệnh nhân vào viện với triệu chứng

đau bụng 69,6%, đau bụng và ra máu âm đạo 37,4% tương đương với kết quả

của chúng tôi [47].

- Triệu chứng thực thể

Sự biến đổi ở CTC bao gồm sự xóa và mở CTC. Tuy nhiên hai hiện tượng

này khác nhau ở các đối tượng con so và con dạ. Vì vậy để thống nhất cho đánh

giá kết quả nghiên cứu, chúng tôi chỉ sử dụng tiêu chuẩn độ mở của CTC.

Khi khảo sát CCTC, chúng tơi quan tâm đến cả ba yếu tố đó là tần số,

biên độ và thời gian các cơn co. Tuy nhiên ở mỗi bệnh nhân thì biên độ và thời

gian các cơn co là không như nhau nên không thể so sánh hai yếu tố này giữa

các bệnh nhân với nhau. Vì vậy chúng tơi chỉ so sánh về mặt tần số CCTC.

Kết quả nghiên cứu trong bảng 3.8 cho thấy 70,59% bệnh nhân có

CCTC được phát hiện qua khám lâm sàng và theo dõi bằng monitoring thấp

hơn với tỷ lệ bệnh nhân vào viện vì đau bụng, có thể do ngưỡng chịu đau của

bệnh nhân thấp, cơn đau chưa đủ mạnh để gây ra CCTC hoặc có thể bệnh

nhân đau bụng vì ngun nhân khác.

Trong khi đó chỉ có 21,6 % bệnh nhân dọa đẻ non có hiện tượng mở

CTC và khơng có trường hợp nào CTCmở trên 2cm, phù hợp với tiêu chuẩn

lựa chọn bệnh nhân để điều trị giữ thai (CTC mở ≤ 2cm). Điều này cho thấy ở

các thai phụ dọa đẻ non đôi khi CCTC chưa phải là động lực duy nhất của

cuộc chuyển dạ, sự biến đổi ở CTC không phải lúc nào cũng đi kèm với cơn

co tử cung và tiêu chuẩn chẩn đốn dọa đẻ non vẫn còn là vấn đề cần thảo

luận. Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của Mai Trọng Dũng

(2004) độ xóa mở CTC là 33,6 % [61].

Khi so sánh tần số CCTC của nhóm nghiên cứu so với các tác giả khác,

chúng tôi nhận thấy rằng tỷ lệ không xuất hiện cơn co tử cung trong nghiên



56



cứu của chúng tôi tương đương với các nghiên cứu khác chiếm 29,21%.

Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Lâm thấy tỷ lệ khơng có cơn co tử cung là

30,4% [47], nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Hiền và Nguyễn Viết Tiến có tỷ

lệ là 41% [19]

Việc theo dõi CCTC và khám phát hiện sự thay đổi ở CTC là yêu cầu

bắt buộc và là yếu tố quan trọng để chẩn đoán và tiên lượng dọa đẻ non. Tuy

nhiên việc thăm khám cổ tử cung cần hạn chế thực hiện ở bệnh nhân dọa đẻ

non vì sẽ tăng nguy cơ nhiễm trùng cho bệnh nhân.

- Đặc điểm cận lâm sàng của dọa đẻ non

Có hai chỉ số hay được các tác giả đưa vào so sánh về mặt cận lâm sàng

đó là chỉ số CRP và xét nghiệm dịch âm đạo. Tuy nhiên tại cơ sở nghiên cứu,

cả hai chỉ số này đều không phải là các xét nghiệm thường quy, chỉ làm khi có

dấu hiệu nghi ngờ trên lâm sàng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh

nhân được làm các xét nghiệm thường quy theo quy định tại cơ sở nghiên cứu

nên nghiên cứu của chúng tôi không đề cập đến hai chỉ số trên.

+ Đặc điểm công thức máu:

Xét nghiệm công thức máu thể hiện ở hai chỉ số quan trọng đó là số

lượng bạch cầu và tỷ lệ bạch cầu trung tính. Ở người phụ nữ mang thai, trị số

số lượng bạch cầu trong máu là từ 4 đến 12 G/l. Khi có sự tăng của chỉ số này

đều phản ánh tình trạng viêm nhiễm nhất định trong cơ thể người bệnh.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi trình bày trong bảng 3.9 cho thấy:

Tỷ lệ bệnh nhân có số lượng bạch cầu > 12G/l là 63,7% cao hơn nhóm

có số lượng bạch cầu 4-12G/l (36,3%).

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân cho nghiên cứu của chúng tôi là loại trừ các

bệnh nhân mắc các bệnh nội khoa nên việc tăng cao về số lượng bạch cầu máu

thể hiện tình trạng viêm xuất phát từ tình trạng chuyển dạ của các bệnh nhân.

Hơn thế nữa, theo cơ chế viêm gây chuyển dạ thì việc tăng số lượng bạch cầu

đồng thời với các yếu tố khác như PG sẽ gây chuyển dạ thực sự [12].



57



Việc đánh giá tình trạng viêm ngồi xét nghiệm cơng thức máu còn cần

làm thêm CRP để xác định hỗ trợ cho chẩn đoán và điều trị, đây cũng là điểm

hạn chế trong nghiên cứu này của chúng tôi khi chưa cho bệnh nhân làm xét

nghiệm này.

+ Đặc điểm về chiều dài CTC theo kết quả siêu âm.

Việc theo dõi CCTC và khám phát hiện sự thay đổi ở CTC là yêu cầu

bắt buộc và là yếu tố quan trọng để chẩn đoán và tiên lượng dọa đẻ non. Tuy

nhiên việc thăm khám cổ tử cung cần hạn chế thực hiện ở bệnh nhân dọa đẻ

non, do đó phương pháp siêu âm đánh giá CTC có nhiều ưu điểm hơn, vừa an

toàn, vừa cho kết quả chính xác.

Có nhiều phương pháp để đo chiều dài CTC đặc biệt là cho bệnh nhân

dọa đẻ non: đo chiều dài CTC qua đường bụng, qua đường âm đạo, qua

đường tầng sinh môn. Trong nghiên cứu này chúng tôi lấy kết quả đo ở cả 3

đường trên.

Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.10 trong số các bệnh nhân vào

viện có 81 bệnh nhân có chiều dài CTC> 26 mm chiếm 79,41%, cao hơn bệnh

nhân có độ dài CTC ≤ 26 mm là 20,59%.

Nghiên cứu của Bùi Hải Nam tỷ lệ bệnh nhân vào viện điều trị dọa đẻ

non có chiều dài CTC ≤ 26mm là 26% cao hơn nghiên cứu của chúng tôi[49].

4.3. Kết quả điều trị của bệnh nhân dọa đẻ non tại bệnh viện E

Biện pháp điều trị cho bệnh nhân dọa đẻ non tại khoa Sản bệnh viện E:

nằm viện, nghỉ ngơi, thuốc giảm co, nội tiết, kháng sinh, siêu âm đánh giá

CTC hàng ngày hoặc cách ngày tùy theo diễn biến của bệnh nhân.

4.3.1. Tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân dọa đẻ non

- Đặc điểm về sử dụng thuốc giảm co trong quá trình điều trị.

Thuốc giảm co là thuốc đầu tay trong điều trị dọa đẻ non, mục tiêu

chính là trì hoãn chuyển dạ để dùng glucocorticoids nhằm làm giảm hội

chứng suy hô hấp và / hoặc chuyển sản phụ khi thai nhi còn chưa ra đời.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Hở eo tử cung trong nghiên cứu của chúng tôi là 5,88%. Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương là 10% [59]. Sự khác biệt này có thể được giải thích là do những sản phụ bị hở eo tử cung trong nghiên cứu của chúng tôi đã khâu vòng CTC trướ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×