Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo nghiên cứu của Bùi Đức Quyết (2014): tuổi thai trung bình là 26,2 ± 4,08 tuần tương tự với kết quả của chúng tôi[54]. Tỷ lệ dọa đẻ non ở nhóm 34 – 36 tuần 6 ngày là thấp do việc lựa chọn bệnh nhân điều trị giữ thai, theo khuyến cáo của Bộ y tế thì kh

Theo nghiên cứu của Bùi Đức Quyết (2014): tuổi thai trung bình là 26,2 ± 4,08 tuần tương tự với kết quả của chúng tôi[54]. Tỷ lệ dọa đẻ non ở nhóm 34 – 36 tuần 6 ngày là thấp do việc lựa chọn bệnh nhân điều trị giữ thai, theo khuyến cáo của Bộ y tế thì kh

Tải bản đầy đủ - 0trang

51



4.1.2 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân.

Tuổi sản phụ thấp nhất là 19 tuổi, cao nhất là 43 tuổi, tuổi trung bình là

28,43 ± 4,9 tuổi (bảng 3.1). Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Vũ thì tuổi

trung bình là 28,27± 5,07 tuổi tương đương với kết quả của chúng tơi [56].

Tuy nhiên, tỷ lệ này khơng có ý nghĩa vì chỉ nêu lên được đặc điểm của đối

tượng nghiên cứu chứ chưa nói lên được mối liên quan.

4.1.3 Đặc điểm về nghề nghiệp

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chia nhóm nghề nghiệp theo đặc điểm

hoạt động về trí tuệ nhiều hay thể lực nhiều. Với các nhóm bệnh nhân có nghề

nghiệp làm nhân viên văn phòng hay cán bộ cơng chức chúng tơi xếp vào

nhóm lao động trí óc, với các bệnh nhân có tính chất lao động thiên về thể lực

như công nhân, nông dân chúng tôi xếp vào nhóm lao động chân tay.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi trình bày tại bảng 3.2 cho thấy nhóm

nghề nghiệp lao động trí óc chiếm tỷ lệ cao hơn.

Theo nghiên cứu của tác giả Henriksen năm 1995, phụ nữ mang thai có

cơng việc phải đi lại và hoạt động trên 5 giờ một ngày có nguy cơ đẻ non cao

hơn so với những thai phụ hoạt động dưới 2 giờ một ngày [57]. Trong nghiên

cứu của chúng tôi, tỷ lệ thai phụ bị dọa đẻ non có cơng việc nặng nhọc (nhóm

lao động chân tay) chỉ chiếm 22,55%, ít hơn so với nhóm thai phụ lao động trí

óc (chiếm 77,45%). Hơn nữa, đối tượng lao động trí óc có thể gặp nhiều căng

thẳng về mặt tâm lý hơn và điều này ảnh hưởng đến nguy cơ dọa đẻ non theo

cơ chế thần kinh-nội tiết nhiều hơn [58].

Khi so sánh với nghiên cứu của Nguyến Tiến Lâm, chúng tôi nhận thấy tỷ

lệ phân bố theo nghề nghiệp của nhóm dọa đẻ non là 31,1% cho nhóm lao động

chân tay, còn trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này là 22,55%. Sự khác biệt

trong 2 nghiên cứu không phải quá lớn nhưng có thể do cách chia nhóm nghiên

cứu khác nhau nên kết quả của 2 nghiên cứu chưa tương đương nhau [73].



52



4.1.4. Đặc điểm về địa dư

Chúng tôi chia nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo đặc điểm địa dư thành

hai vùng là nông thôn và thành thị. Những bệnh nhân có địa chỉ hộ khẩu

thuộc các quận, thị nội thành sẽ được xếp vào nhóm thành thị, còn lại sẽ được

xếp vào khu vực nông thôn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng tỷ lệ

sống ở thành thị là 54,9% cao hơn sống ở nông thôn( 45,1%).

Khi so sánh tỷ lệ phân bố theo địa dư trong nhóm nghiên cứu với các

nghiên cứu khác, chúng tơi nhận thấy kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương

đương với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tiến Lâm, khi mà tỷ lệ bệnh nhân

ở thành thị và nông thôn của chúng tôi là 54,9% và 45,2%, tỷ lệ bệnh nhân ở

thành thị và nông thôn của Nguyễn Tiến Lâm là 54,7% và 45,3% [47].

4.1.5. Đặc điểm về tiền sử sản khoa

Theo kết quả trong bảng 3.4 cho thấy những người mà trong tiền sử có

sẩy, nạo, hút thai, thai lưu chiếm tới 31,37% tổng số dọa đẻ non. Trong nghiên

cứu của Lê Thị Thanh Vân tỷ lệ này này là 35,8%, của Meis là 19,8% [13],

[15]. Điều này có thể do những người có tiền sử sẩy, nạo, hút thai, thai lưu thì

tăng nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục dưới, mà nhiễm trùng là một

nguyên nhân quan trọng dẫn đến dọa đẻ non [31].

Có 19,61% bệnh nhân có tiền sử đẻ non trước đó. Trong một nghiên

cứu ở Mỹ, có khoảng 15% trường hợp đẻ non xảy ra ở phụ nữ mang thai có

tiền sử đẻ non trước đó [20]. Và đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao về đẻ

non cần phải dự phòng cho lần sinh tiếp theo.



53



4.1.6. Đặc điểm về bệnh lý hiện tại của bệnh nhân.

Có 47 trường hợp có bệnh lý liên quan đến dọa đẻ non, chiếm 46,06%

tổng số bệnh nhân vào viện.

Về phía mẹ:

- Viêm đường sinh dục chiếm tỷ lệ cao nhất là 13,72%, viêm đường

sinh dục được khảo sát trong nghiên cứu của chúng tôi là viêm âm đạo, viêm

cổ tử cung và viêm tử cung, chủ yếu là viêm âm đạo.

Theo tác giả Phạm Bá Nha, tỷ lệ xét nghiệm dương tính với các tác

nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở nhóm đẻ non là 93,9%, ở nhóm

khơng đẻ non là 65,8% [31]. Như vậy viêm đường sinh dục cũng là 1 yếu tố

nguy cơ gây dọa đẻ non.

- Hở eo tử cung trong nghiên cứu của chúng tôi là 5,88%. Tỷ lệ này thấp

hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương là 10% [59]. Sự khác biệt này

có thể được giải thích là do những sản phụ bị hở eo tử cung trong nghiên cứu

của chúng tơi đã khâu vòng CTC trước 22 tuần. Tỷ lệ khâu vòng CTC trong

nghiên cứu của chúng tơi là 5,7%.

- U xơ tử cung có 3 trường hợp chiếm tỷ lệ 2,94%. U xơ tử cung cũng

làm tử cung tăng thể tích, kích thích tử cung gây CCTC. Nghiên cứu của

Nguyễn Văn Ngọc u xơ tử cung chiếm tỷ lệ 2,3% tương tự như nghiên cứu

của chúng tơi[60].

Về phía phần phụ của thai:

Rau tiền đạo chiếm tỷ lệ 5,88%, kết quả này tương đương với nghiên

cứu của Nguyễn Văn Ngọc với tỷ lệ là 6,1 %[60].

Đa ối, thiếủ ối chiếm tỷ lệ 2,94%. Sự thay đổi thể tích của tử cung cũng

gây ra dọa đẻ non, Kết quả của Nguyễn Văn Ngọc nguyên nhân đa ối, thiểu ối

chiếm 2,9% tương tự với kết quả của chúng tơi[60].

Về phía thai



54



Đa thai chiếm tỷ lệ 2,94%. Đa thai làm căng giãn quá mức tử cung gây

dọa đẻ non.

Không rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm tới 53,94 %. Điều

này cho thấy để hạn chế DĐN là một vấn đề hết sức nan giải không chỉ riêng

với ngành sản khoa mà còn đối với cả xã hội.

4.1.5. Đăc điểm lần mang thai hiện tại

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.6) thấy rằng sản phụ đẻ

con so chiếm tỷ lệ là 49,02%, đẻ con dạ là 50,98%. Theo nghiên cứu của

Phạm Tài con so chiếm tỷ lệ 48,6 %, con dạ chiếm tỷ lệ 51,2 % [37] tương tự

với kết quả của chúng tôi. Sự khác biệt giữa tỷ lệ sinh con so và con dạ trong

DĐN không có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%.

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.2.1. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

- Triệu chứng cơ năng khi vào viện

Triệu chứng cơ năng hay gặp của dọa đẻ non là đau bụng, ra máu, nhày

hồng hay ra nước âm đạo. Kết quả ở bảng 3.7 cho thấy những bệnh nhân vào

viện chỉ với triệu chứng đau bụng chiếm tỷ lệ 57,84%, chỉ ra dịch âm đạo

chiếm tỷ lệ 4,9% và những bệnh nhân vừa đau bụng vừa ra dịch âm đạo

chiếm 37,26 %. Từ những kết quả này, chúng tôi thấy biểu hiện đau bụng là lý

do hàng đầu khiến bệnh nhân phải đi khám. Đây là một dấu hiệu chủ quan vì

chỉ có những cơn co tử cung đạt tới ngưỡng đau thì bệnh nhân mới cảm thấy

đau bụng, mặt khác đau bụng có thể do các nguyên nhân khác mà khơng phải

cơn co tử cung. Do đó, để chẩn đốn và theo dõi diễn biến điều trị khơng dựa

vào những dấu hiệu chủ quan này mà cần sự thăm khám của bác sĩ và theo dõi

cơn co tử cung bằng monitoring.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo nghiên cứu của Bùi Đức Quyết (2014): tuổi thai trung bình là 26,2 ± 4,08 tuần tương tự với kết quả của chúng tôi[54]. Tỷ lệ dọa đẻ non ở nhóm 34 – 36 tuần 6 ngày là thấp do việc lựa chọn bệnh nhân điều trị giữ thai, theo khuyến cáo của Bộ y tế thì kh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×