Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Test PartoSure dương tính ở sản phụ có dấu hiệu chuyển dạ sinh non, ối còn, CTC mở ≤ 3cm cho thấy chuyển dạ tự nhiên sẽ xảy ra trong vòng 7 ngày với độ chính xác cao. Kết quả âm tính cho thấy khả năng chuyển dạ trong vòng 14 ngày là thấp [33].

Test PartoSure dương tính ở sản phụ có dấu hiệu chuyển dạ sinh non, ối còn, CTC mở ≤ 3cm cho thấy chuyển dạ tự nhiên sẽ xảy ra trong vòng 7 ngày với độ chính xác cao. Kết quả âm tính cho thấy khả năng chuyển dạ trong vòng 14 ngày là thấp [33].

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



Trong dịch cổ tử cung, ngồi hCG, người ta có thể định lượng một số

chất khác cũng có khả năng tiên lượng cho dọa đẻ non như CRP, Interleukin6, prolactin,…

Hiện nay tại nhiều nơi trên thế giới, định lượng Interleukin–8 trong

dịch cổ tử cung, dịch ối đã được tiến hành song song với các biện pháp khác

để góp phần tiên lượng cho dọa đẻ non.

1.6. Nguy cơ của trẻ sơ sinh non tháng.

- Bệnh lý hô hấp: là bệnh lý hay gặp đối với sơ sinh non tháng gây suy

hô hấp ở trẻ sơ sinh. Nguyên nhân chính gây suy hô hấp là do thiếu chất

surfactant trong phổi nên nhu mơ phổi khơng giãn nở được, các phế nang tăng

tính thấm, tổ chức kẽ dễ phù, các fibrin huyết tương dễ thốt mạch tràn vào

trong lòng phế nang. Sau khi huyết tương rút đi, hồng cầu và fibrin đọng lại

trong lòng phế nang tạo ra màng trong.

Tổ chức phổi quá non với đặc điểm là thành phế nang hẹp, mao mạch

ít, tổ chức liên kết nhiều cũng là một trong những ngun nhân chính gây suy

hơ hấp sơ sinh. Đặc điểm của cơ quan hô hấp chưa trưởng thành làm cho phổi

khó giãn nở, sự trao đổi khí bị hạn chế.

Ở tuổi thai càng nhỏ, trọng lượng thai càng thấp tỷ lệ mắc bệnh càng

cao. Bệnh thường xuất hiện vài giờ đến vài ngày sau đẻ. Trước đây bệnh

thường gây tử vong 100%, nhưng ngày nay nhờ những tiến bộ về hồi sức sơ

sinh, nhanh chóng đến các trung tâm chuyên khoa nên tỷ lệ tử vong do bệnh

lý này đã giảm bớt ở một số nước đã phát triển. Riêng tại Việt Nam, tử vong

cho bệnh này còn rất cao vì phương tiện còn nhiều thiếu thốn. Vì vậy sử dụng

corticoide trước sinh nhằm tăng khả năng tổng hợp surfactant giúp cho phổi

thai nhi được trưởng thành để tránh được bệnh màng trong.

- Nhiễm khuẩn: do chức năng miễn dịch kém nên trẻ non tháng dễ bị

nhiễm trùng như: viêm phổi, nhiễm trùng huyết, viêm màng não nhất là viêm



21



ruột hoại tử. Nguy cơ nhiễm khuẩn càng cao đối với những trẻ non tháng mà

trong quá trình chuyển dạ có ối vỡ non, ối vỡ sớm. Khi bị nhiễm trùng các

triệu chứng lâm sàng thường khơng đặc hiệu, khó chẩn đốn, tử vong cao vì

trẻ dễ kháng thuốc.

- Xuất huyết: ở trẻ sơ sinh non tháng có sự thiếu hụt các yếu tố V, VII

đồng thời lượng prothrombin thấp do tổng hợp ở gan kém. Nếu nồng độ

prothrombin giảm dưới mức bình thường 15% sẽ có xuất huyết ở nhiều cơ

quan phủ tạng như mắt, dạ dày, phổi, đường tiết niệu, biểu hiện bởi các triệu

chứng đái máu, nôn ra máu... gây thiếu máu cấp tính. Trường hợp nặng gây

xuất huyết não khiến trẻ bị co giật, hôn mê và tử vong.

- Rối loạn chuyển hoá: hạ calci huyết, hạ đường huyết: khi lượng

glucose máu < 0,3 g/l. Nguyên nhân là do sơ sinh non tháng ít dự trữ

glycogen ở gan, hệ thống enzym chuyển hố chưa hồn chỉnh làm cho sơ sinh

khó thích nghi với đời sống độc lập. Nếu đã có triệu chứng lâm sàng rõ như

co giật, tím tái... thì dễ để lại những di chứng thần kinh.

- Vàng da: là bệnh lý hay gặp đối với sơ sinh non tháng, thiếu hoặc rối

loạn các enzym kết hợp. Thường là vàng da do tăng bilirubin gián tiếp.

- Nguy cơ tử vong: theo nghiên cứu của Phạm Thanh Mai (2004), tỷ lệ

tử vong sơ sinh non tháng rất cao tuổi thai 26-27 tuần là 100%, 28-30 tuần là

56% và giảm xuống 15,5% ở tuổi thai 31-34 tuần. Hiện nay tại PSTW nuôi

được trẻ 500g, và tuổi thai thấp hơn nữa 22 tuần. Nguyên nhân tử vong chủ

yếu là bệnh lý đường hô hấp (70,2%) [2].



22



1.7. Thái độ xử trí

1.7.1. Lựa chọn bệnh nhân để ức chế chuyển dạ

Việc kéo dài thời gian thai nhi sống trong tử cung phụ thuộc vào vào

nhiều yếu tố như tần số, cường độ CCTC, hiện tượng xóa mở CTC… Theo

hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa 2015–Bộ Y tế [25]:

-



-



• Chỉ định:

Tuổi thai từ 22 tuần đến 36 tuần 6 ngày.

- Có thai sống trong buồng TC

- Có các dấu hiệu của dọa đẻ non:

+ Có CCTC gây đau.

+ Ra máu, ra nước hoặc ra nhầy hồng âm đạo.

+ CTC mở ≤ 2 cm

+ Siêu âm đo độ dài CTC

• Chống chỉ định:

Thai chết, thai dị dạng không thể sống được, thai suy.

Rau tiền đạo chảy máu nhiều, rau bong non.

Mẹ mắc các bệnh lý nguy hiểm đến tính mạng như suy tim, tăng huyết áp



kịch phát, suy thận…

- Chú ý: không điều trị dọa đẻ non cho thai từ 37 tuần trở lên [7].

1.7.2. Các phương pháp điều trị

1.7.2.1. Nghỉ ngơi

Nghỉ ngơi, không xoa đầu vú đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị,

việc nằm nghỉ tại giường có thể ức chế chuyển dạ tới 50% các trường hợp [11].

Tư thế nằm tốt nhất là nằm nghiêng trái để cải thiện tuần hoàn tử cung rau.

1.7.2.2. Sử dụng thuốc giảm co tử cung.

Cơ chế co bóp của tử cung:

Tử cung co bóp là do sự trượt lên nhau của các sợi actin và myosin của

cơ tử cung làm cho sợi cơ ngắn lại gây ra sự co bóp.

Sự trượt của các sợi này do 2 cơ chế:

- Sự di chuyển của canxi từ ngoài vào trong tế bào thông qua các kênh

canxi trên màng tế bào.



23



- Sự hoạt hóa của hệ thống cung cấp năng lượng thông qua các phân tử

AMP và IP3 (Inositol triphosphate).

Các chất gây CCTC và các thuốc làm mất CCTC đều tác dụng thơng

qua sự hoạt hóa hay ức chế 2 cơ chế này.

Có rất nhiều thuốc đã và đang được áp dụng để làm giảm cơn co tử

cung theo những cơ chế khác nhau. Mỗi thuốc, mỗi liều lượng, mỗi cách dùng

đều có những ưu nhược điểm riêng.

• Các thuốc beta hướng giao cảm (β-mimetics) [35].

Nhóm thuốc này bắt đầu được sử dụng để điều trị dọa đẻ non từ năm

1961. Hiện nay các thuốc được sử dụng để điều trị dọa đẻ non là ritodrine,

terbutaline và salbutamol.

+Cơ chế tác dụng: các thuốc nhóm này có tác dụng kích thích các β-adrenergic

receptor trên cơ tử cung làm tăng hoạt hóa q trình tạo ra năng lượng, làm

tăng các AMP vòng trong tế bào, điều này sẽ hoạt hóa một chuỗi các phản

ứng mà kết quả cuối cùng là thúc đẩy các kênh calci hoạt động, đẩy các ion

calci ra khỏi tế bào, làm giảm nồng độ calci trong tế bào dẫn đến cơ khơng co

bóp.

+Chống chỉ định: bệnh tim, bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim, dị ứng với

thuốc.

+Tác dụng phụ có thể gặp: tim đập nhanh, khó thở, hạ kali máu, tăng đường

huyết và đau ngực.

• Thuốc chẹn kênh calci (Nifedipin, Nicardipine): Nên dùng trong

trường hợp tiểu đường, chảy máu rau tiền đạo, đa thai.

Nhóm thuốc được sử dụng từ những năm 1980, ngày nay được sử dụng

rộng rãi trên thế giới với hai biệt dược chính là Adalat và Loxen.



24



+Cơ chế tác dụng: thuốc gắn kết vào những kênh calci loại L ở cơ tử cung làm

ức chế hoạt động của kênh này một cách từ từ, làm giảm lượng calci trong tế

bào và làm cơ không co bóp được [36].

+Ưu điểm: các nghiên cứu cho thấy tác dụng giảm cơn co tử cung của nhóm ưu

thế hơn nhóm beta - mimetics và magie sulphat, các tác dụng phụ cũng ít hơn

[36], [37], [38]. Tuy nhiên nhóm thuốc này có tác dụng hạ huyết áp, nên cần

theo dõi chặt chẽ huyết áp của bệnh nhân khi điều trị.

• Thuốc đối kháng cạnh tranh với oxytocin

Cơ chế: các thuốc này cạnh tranh với oxytocin tại các receptor có mặt

trên màng tế bào cơ tử cung và màng rụng. Do đó, đáp ứng của cơ tử cung với

oxytocin bị giảm và cuối cùng là làm giảm sự xuất hiện của các cơn co tử

cung [12].

Trên thị trường hiện nay chỉ có duy nhất atosiban, một đồng phân của

oxytocin, có khả năng ức chế cạnh tranh trên thụ thể oxytocin ở cơ tử cung và

màng rụng. Đây cũng là chất đối vận oxytocin đầu tiên được sử dụng trên lâm

sàng. Chỉ định điều trị doạ đẻ non cho thai từ 24 – 33 tuần [39].

Do tác dụng đặc hiệu trên tử cung, nên an toàn hơn những thuốc giảm

co khác. Tác dụng không mong muốn: hiếm gặp trên mẹ là buồn nơn, nhức

đầu, chóng mặt, nhịp nhanh, cao huyết áp, tăng đường huyết và phản ứng dị

ứng. Tác dụng trên thai khơng đáng kể [39].

• Thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin

Nhóm thuốc này ngăn chặn tổng hợp PG bằng cách ức chế enzym

cycloxygenase, từ đó làm giảm cơn co tử cung. Thuốc được sử dụng rộng rãi

trước đây là indomethacin, tuy nhiên có nhiều tác dụng phụ, nguy hiểm nhất

là đóng sớm ống động mạch ở thai, do đó ngày nay khơng còn được sử dụng

nữa [40].

• Papaverin, Spamaverin, Drotaverin



25



Papaverin là alcaloid có nhân benzyl – iso quinolein có tác dụng giãn

cơ trơn do ức chế enzyme phospho – diesterase gây tích lũy AMP vòng và

ngăn cản calci nhập vào tế bào.

Các tác dụng phụ có thể gặp: buồn nơn, đau bụng, táo bón hoặc tiêu

chảy, phát ban da, mệt mỏi nhức đầu, đỏ bừng mặt, nhịp tim tăng, tăng nhẹ

huyết áp. Tác dụng phụ của Nospa ít hơn so với Papaverin [41].

• Magie sulphat

+MgSO4 có tác dụng ngăn cản sự khuếch tán của calci đi vào trong tế bào cơ

do đó nống độ calci trong tế bào thấp, làm cho các tế bào cơ ở trạng thái nghỉ

[11], [12].

+Tác dụng phụ có thể gặp: Thường do tăng magie máu, buồn nôn, nôn, mặt

bừng đỏ, giảm huyết áp, loạn nhịp, hôn mê, ức chế hô hấp, buồn ngủ, mất

phản xạ gân xương, yếu cơ [36].

** Các thuốc giảm co được phép sử dụng hiện nay:

- Thuốc kích thích beta

- Thuốc chẹn kênh Canxi

- Magnesium sulphate

- Đối kháng oxytocin (Atosiban)

1.7.2.3. Kháng sinh

Theo Kierse, có xấp xỉ 40% chuyển dạ đẻ non có ngun nhân từ nhiễm

khuẩn [12], vì vậy việc sử dụng kháng sinh trong điều trị dọa đẻ non là cần

thiết. Những kháng sinh thường được sử dụng: nhóm beta-lactam, lincosamid

và macrolid.

Lợi ích của sử dụng kháng sinh trong dọa đẻ non còn chưa rõ ràng, một

nghiên cứu tại Mỹ cho thấy việc sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân dọa đẻ non

với màng ối còn ngun vẹn khơng có tác dụng ngăn ngừa sinh non. Tuy

nhiên nghiên cứu này vẫn khuyến cáo điều trị kháng sinh cho bệnh nhân dọa



26



đẻ non có ối vỡ non [42]. Điều trị kháng sinh ở bệnh nhân ối vỡ non sẽ tăng

thời gian kéo dài tuổi thai và giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh, tỷ lệ nhiễm

khuẩn sơ sinh ở nhóm điều trị là 2% và ở nhóm chứng là 17% (p<0,04) [10].

1.7.2.4. Hormon Progesterone

Các dạng Progesterone được sử dụng trên lâm sàng:

+Progesterone dạng đặt âm đạo hoặc gel bôi: chỉ định cho phụ nữ mang thai

khơng có tiền sử đẻ non, mà cổ tử cung ngắn dưới 25mm .

+Progesterone dạng tiêm: chỉ định dự phòng cho phụ nữ mang thai mà có tiền

sử sẩy thai hay đẻ non. Khuyến cáo tiêm bắp hàng tuần từ 16 đến hết 37 tuần

[43].

+Progesterone đường uống: một chế phẩm được thay thế là Duphaston

(Dydrogesterone) có tác dụng sinh lý tương tự như progesterone nội sinh.

Việc bổ sung progesterone chỉ ngăn chặn được một phần ba số ca sinh

non tái phát, và lợi ích lâu dài của việc bổ sung progesterone chưa rõ ràng.

Ngay cả khi tất cả các phụ nữ đã đủ điều kiện điều trị dự phòng progesterone,

nó sẽ chỉ giảm tỷ lệ sinh non chung tại Hoa Kỳ khoảng 2% (từ 12,1% xuống

11,8%) [44].

1.7.2.5. Corticoid

Cơ chế tác dụng: Sau khi tiêm corticoid vào người mẹ, thuốc đi qua

nhau thai và gắn kết vào màng tế bào phế nang loại II, sau đó được chuyển

vào nhân tế bào kích thích sự sản xuất RNA tạo ra các men cần thiết để tổng

hợp chất surfactant [45], [46].

Thời điểm dùng: thai từ 24 đến 34 tuần tuổi, sử dụng corticoid sau 34

tuần ít có ý nghĩa vì surfactant trên phổi thai nhi đã được tổng hợp bền vững

[46], [34].

Theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản

2009, corticoid được sử dụng phòng suy hơ hấp sơ sinh là Betamethasone, chỉ



27



dùng một đợt cho tuổi thai từ 28 – 34 tuần, tiêm bắp 2 liều, mỗi liều 12mg

cách nhau 24 giờ [7].

Sử dụng corticoid đem lại hiệu quả rõ rệt. Một nghiên cứu tại bệnh viện

Phụ Sản Trung Ương cho thấy có giảm đáng kể tỷ lệ suy hơ hấp sơ sinh. Tỷ lệ

suy hơ hấp ở nhóm có điều trị corticoid trước sinh là 24,6%, nhóm khơng

được điều trị là 41,4% [45].

1.7.3. Các thuốc điều trị dọa đẻ non sử dụng tại Bệnh viện E





Thuốc giảm - cắt cơn co tử cung: Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị

các bệnh sản phụ khoa 2015-Bộ Y tế [25].

- Thuốc hướng bêta giao cảm: Salbutamol.

+ Chống chỉ định trong bệnh tim, cường giáp, tăng huyết áp, đái tháo

đường nặng, chảy máu nhiều, nhiễm khuẩn ối.

+ Tác dụng phụ: tăng nhịp tim, tăng đường huyết, hạ Kali máu. Dừng

thuốc nếu nhịp tim >120lần/phút

+ Liều dùng: 5mg pha trong 500ml Glucose 5%, truyền tĩnh mạch 20

giọt/phút (10mcg/phút), liều tối đa 45 giọt/ phút. Khi đã cắt được cơn

co, chuyển sang liều duy trì: viên 4mg, ngậm 1 - 2 viên/ngày.

- Thuốc chẹn kênh calci:

+ Nifedipine: liều tấn công 10mg ngậm dưới lưỡi trong 20 phút, tối

đa 03 liều. Sau khi cắt cơn co duy trì Nifedipine chậm 20mg, uống

6-8h / lần.

+ Nếu nifedipin thất bại, sau liều cuối 2 giờ có thể dùng salbutamol.

+ Theo dõi huyết áp khi dùng thuốc, chống chỉ định nếu huyết áp

thấp < 90/50mmHg.

+ Tác dụng phụ: nóng bừng mặt, buồn nơn, tụt HA thống qua

- Thuốc đối kháng cạnh tranh với oxytocin (Atosiban): Tractocile có tác



dụng cạnh tranh với oxytocin trên các thụ thể tại màng tế bào cơ tử cung làm

giảm sự đáp ứng của cơ tử cung với oxytocin.

+ Chỉ định :điều trị dọa đẻ non từ tuần 24-33 của thai kỳ.



28



+ Chống chỉ định: ối vỡ non, thai suy, thai chậm phát triển, chảy

máu nặng, tiền sản giật, rau tiền đạo, rau bong non.

+ Cách dùng:dung dịch đậm đặc dùng để pha tiêm truyền tĩnh mạch

7,5 mg/ml. Tractocile được dùng tiêm tĩnh mạch trong 3 giai đoạn

liên tiếp:

o Tiêm chậm vào tĩnh mạch liều khởi đầu 6,75 mg trong 0,9 ml

trong một phút.

o Truyền liên tục với liều 18 mg/giờ trong 3 giờ.

o Truyền liên tục với liều 6 mg/giờ cho đến 45 giờ, hoặc cho

đến khi các CCTC đã giảm. Toàn bộ thời gian điều trị không

nên quá 48 giờ.

- Thuốc trưởng thành phổi: tăng cường sản xuất surfactan, thúc đẩy sự trưởng

thành của mô liên kết, làm giảm suy hô hấp ở trẻ non tháng.

+ Chỉ định cho thai từ 28 đến hết 34 tuần tuổi

+ Bethamethasone 12mg, 2 liều tiêm bắp cách nhau 24h.

+ Hoặc Dexamethasone 6mg/lần, tiêm bắp 4 lần cách nhau 12h.

• Ngồi ra, tại khoa Sản bệnh viện E còn sử dụng thêm:

- Nospa (Drotaverin 40mg): ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên 40mg

hoặc 40mg x 2 ống, pha với 500ml dung dịch Glucose 5%, truyền

tĩnh mạch 60 giọt/ phút.

- Progesterone:

+ Utrogestan 200mg đặt âm đạo hàng ngày

+ Duphaston (Dydrogesterone 10mg): uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên.

- Kháng sinh:

+ Curam (Amoxicillin 500mg, acid clavulanic 125mg) x 3 viên/ngày

1.7.4. Xử trí trong khi chuyển dạ thai non tháng.

- Khi CTC mở ≥ 3cm có tới 58,3% trì hỗn được cuộc đẻ trong vòng 48h

và 52,8% trì hỗn được cuộc đẻ trong vòng 1 tuần.



29



-Trong chuyển dạ, nên bảo vệ thành mạch cho trẻ sơ sinh bằng cách cho

mẹ uống hay tiêm dưới da vitamin K, E, C, P. Hồi sức thai và đề phòng ngạt

bằng cách cho mẹ thở oxy cách quãng.

-Tránh sang chấn cho thai: bảo vệ đầu ối đến khi CTC mở hết, hạn chế

xử dụng oxytocin, cắt nới rộng tầng sinh môn mặc dù thai nhỏ và sổ dễ dàng.

- Một số tác giả còn khuyên dùng forceps để bảo vệ đầu thai nhi khi ngơi

đã lọt thấp.

- Tuy nhiên cũng có nhiều tai biến Do đẻ forceps như sang chấn cho mẹ

và thai. Theo Nguyễn Đức Hinh tỷ lệ forceps của đẻ non tháng là 14,55%,

trong đó tỷ lệ tử vong do sang chấn của forceps phần lớn là thai có trọng

lượng dưới 2500g.

- Mổ đẻ đối vói thai non tháng cũng là vấn đề bàn cãi, dường như những

chỉ định mổ lấy thai trong thai non tháng là do các yếu tố đẻ khó như ngơi thế

kiểu thế bất thường, bệnh lý mẹ kèm theo, rau tiền đạo.



1.8. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.8.1. Các nghiên cứu về dọa đẻ non

Một số nghiên cứu về dọa đẻ non trong nước đó là:

- Nghiên cứu của hai tác giả Phạm Thị Thanh Hiền và Nguyễn Viết

Tiến năm 1996 cho thấy về triệu chứng lâm sàng của dọa đẻ non thì tỷ lệ bệnh

nhân dọa đẻ non có biểu hiện đau bụng chiếm 45%, ra máu chiếm 69%, ra

dịch âm đạo chiếm 12%, còn bệnh nhân có đủ các dấu hiệu trên là 14% [19].

- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mạnh Trí năm 2004 về chiều dài cổ tử

cung đối với dọa đẻ non cho thấy tỷ lệ đẻ non của các thai phụ có độ dài CTC



30



ngắn hơn hoặc bằng 32 mm cao gấp 14,4 lần các thai phụ có độ dài CTC trên

32 mm [29].

- Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Lâm năm 2008 tại bệnh viện Phụ Sản Trung

Ương cho thấy tỷ lệ bệnh nhân dọa đẻ non mà cổ tử cung đóng kín chiếm 64,9%,

còn lại 35,1% bệnh nhân dọa đẻ non có sự xóa mở cổ tử cung [47].

- Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Vân về nhận xét tình hình điều trị dọa đẻ

non năm 2008 tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương cho thấy thuốc giảm co tử

cung dùng trong 50,5% trường hợp, tỷ lệ dùng kết hợp 2 loại thuốc giảm co

(Papaverin và salbutamol) chiếm tỷ lệ cao nhất 39,6% [13].

- Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Hà về tác dụng của Nifedipin trong điều

trị dọa đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong 5 năm (2004-2008)

cho thấy hiệu quả cắt CCTC của Nifedipin là khá cao chỉ sau 1 liều tấn cơng

(1 giờ) chiếm 17,5% cắt được CCTC hồn tồn, sau 1 ngày chiếm 46,2% cắt

được CCTC [48].

- Nghiên cứu của Phạm Tài năm 2014 về hiệu quả của Nifedipin trong

điều trị dọa đẻ non ở thai kỳ 28-34 tuần tại Bệnh viện Hùng Vương cho thấy

hiệu quả giảm co thành cơng kéo dài thai kì trên 48 giờ đạt 89,4%, kéo dài

thai kì trên 7 ngày là 80,3%, giảm co thành công đến 37 tuần là 42,7%[37].

- Nghiên cứu của Bùi Hải Nam tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái

Nguyên năm 2015 cho thấy phụ nữ có độ dài CTC ≤ 26mm có đẻ non là 71,2%,

cao hơn phụ nữ có độ dài CTC > 26mm (5,0 %) [49].

Một số nghiên cứu ở ngoài nước là:

- Nghiên cứu của Mc Manemy J và cộng sự năm 2007 về nguy cơ đẻ

non cho các bệnh nhân có tiền sử đẻ non [50].

- Nghiên cứu của Conde-AgudeloA, Romero R năm 2016 về tác dụng của

Progesteron để phòng ngừa sinh non đối với những thai phụ có CTC ngắn [51].

- Nghiên cứu của Di Mascio D và cộng sự năm 2016 về mối liên quan

giữa tập thể dục ở phụ nữ mang thai và nguy cơ sinh non [52].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Test PartoSure dương tính ở sản phụ có dấu hiệu chuyển dạ sinh non, ối còn, CTC mở ≤ 3cm cho thấy chuyển dạ tự nhiên sẽ xảy ra trong vòng 7 ngày với độ chính xác cao. Kết quả âm tính cho thấy khả năng chuyển dạ trong vòng 14 ngày là thấp [33].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×