Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hai triệu chứng quan trọng của dọa đẻ non là sự xuất hiện cơn co tử cung và sự xóa mở cổ tử cung không phải luôn đi kèm với nhau, vì vậy khi thăm khám bệnh nhân dọa đẻ non cần tỉ mỉ, kiên trì tránh bỏ sót. Theo Andersen, thăm khám bằng tay dự báo được 71%

Hai triệu chứng quan trọng của dọa đẻ non là sự xuất hiện cơn co tử cung và sự xóa mở cổ tử cung không phải luôn đi kèm với nhau, vì vậy khi thăm khám bệnh nhân dọa đẻ non cần tỉ mỉ, kiên trì tránh bỏ sót. Theo Andersen, thăm khám bằng tay dự báo được 71%

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



Với siêu âm đường tầng sinh môn: chiều dài CTC ≤ 26 mm có tỷ lệ đẻ

non là 89,3% và chiều dài cổ tử cung >26 mm thì tỷ lệ đẻ non là 8,1%.

Phương pháp này có giá trị tiên đoán đẻ non với độ nhậy là 84,7% và độ đặc

hiệu là 94,4% [23].

Chiều dài CTC càng giảm thì khả năng duy trì thai nghén đối với các

sản phụ dọa đẻ non là càng giảm. 100% các thai phụ có độ dài CTC < 15 cm

đẻ non trong vòng 72 giờ kể từ lúc vào viện. Độ dài CTC < 15 mm có giá trị

tiên đốn đẻ non trong vòng 72 giờ với độ nhậy là 75% và độ đặc hiệu là

100% [23].

Hiện nay, đa số các cơ sở chọn ngưỡng chiều dài CTC là 25mm như là

yếu tố nguy cơ cao để tiến hành các biện pháp dự phòng. Tuy nhiên, nếu CTC

từ 25mm đến 30mm, cũng có thể xem xét tùy từng trường hợp sử dụng biện

pháp dự phòng ít xâm lấn nhất là progesterone đường âm đạo[24].

1.4.2.2. Monitoring sản khoa

Monitoring sản khoa giúp phát hiện sự xuất hiện cơn co tử cung về tần

số, biên độ và thời gian, cũng như sự dao động của tim thai.

1.4.2.3.Một số xét nghiệm để tìm nguyên nhân và tiên lượng: Các xét nghiệm

mang tính thăm dò tồn thân như cơng thức máu, chức năng gan, thận, tổng

phân tích nước tiểu ,.. góp phần phát hiện tình trạng viêm hay một bệnh lý nội

khoa cấp hoặc mạn tính nào đó, gợi ý chúng ta nghĩ đến nguyên nhân dẫn tới

tình trạng dọa đẻ non và từ đó có biện pháp điều trị cụ thể phù hợp.

Ngồi ra còn có thể định tính hoặc định lượng một số chất khác như

Fibronectin, hCG cổ tử cung, Interleukin,... cũng góp phần tiên lượng và điều

trị dọa đẻ non.

1.4.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán



16



Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa (Ban

hành kèm theo quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015)[25].

1.4.3.1. Chẩn đốn dọa đẻ non dựa vào các dấu hiệu sau:





Triệu chứng cơ năng:

- Đau bụng từng cơn, không đều đặn, tức nặng bụng dưới, đau lưng.

- Ra dịch âm đạo dịch nhày, lẫn máu.







Triệu chứng thực thể:

- Cơn co tử cung thưa nhẹ (1-2 cơn trong 10 phút, thời gian co dưới 30 giây).

- Cổ tử cung đóng, hoặc xóa mở dưới ≤ 2cm.



1.4.3.2. Chẩn đoán đẻ non dựa vào các dấu hiệu sau:





Triệu chứng cơ năng:

- Đau bụng cơn, đều đặn, các cơn đau tăng dần.

- Ra dịch âm đạo, dịch nhày, máu, nước ối.







Triệu chứng thực thể:

- Cơn co tử cung (tần số 2-3, tăng dần).

- Cổ tử cung xóa trên 80%, mở trên 2cm.

- Thành lập đầu ối hoặc vỡ ối.



1.4.3.3. Chẩn đoán phân biệt :

- Các tổn thương cổ tử cung, đường sinh dục dưới gây chảy máu âm đạo.

- Rau tiền đạo chảy máu, rau bong non, vỡ tử cung.

1.5. Tiên lượng dọa đẻ non

Tiên lượng dọa đẻ non là một vấn đề quan trọng. Sau khi chẩn đốn

chính xác bệnh nhân bị dọa đẻ non thì tiên lượng bệnh sẽ giúp thầy thuốc

chọn lựa được phương pháp điều trị phù hợp cả về mặt cải thiện tình trạng

bệnh và lợi ích kinh tế cho bệnh nhân, đồng thời tránh được những tác dụng

không mong muốn của thuốc điều trị trước mắt cũng như lâu dài. Việc tiên



17



lượng dọa đẻ non không hề dễ dàng, cần căn cứ vào nhiều yếu tố, xét tại

nhiều thời điểm, phối hợp giữa thăm khám lâm sàng và các xét nghiệm hỗ trợ.

Các yếu tố giúp tiên lượng dọa đẻ non:

1.5.1. Khám và quản lý thai nghén định kỳ

Khám thai giúp phát hiện các bệnh lý mẹ, thai, phần phụ cũng như đánh

giá các yếu tố nguy cơ, từ đó đưa ra các biện pháp dự phòng thích hợp. Theo Tơ

Thị Thanh Hương, những bà mẹ mà q trình mang thai khơng khám thai lần

nào có tỷ lệ dọa đẻ non là 14%, còn với những bà mẹ mà trong q trình mang

thai có số lần khám thai trên 4 lần thì tỷ lệ đẻ non là 4% [27]. Trong trường hợp

khám thai bình thường, tầm sốt chiều dài cổ tử cung thường quy qua siêu âm

được chứng minh là có hiệu quả trong giảm tỉ lệ sinh non. Nếu chiều dài cổ tử

cung dưới 25mm, có thể sử dụng progesterone đặt âm đạo dự phòng hoặc áp

dụng biện pháp khâu vòng cổ tử cung [24].

1.5.2. Chỉ số dọa đẻ non

Theo GS Dương Thị Cương, có thể dựa vào chỉ số Gruber để đánh giá

tình trạng dọa đẻ non [28].

Bảng 1.1. Bảng chỉ số Gruber

Điểm

Chỉ số

Cơn co TC



0



1

Không

đều



Ối vỡ

Cháy máu âm đạo

Vừa

Độ mở CTC

1 cm

Đánh giá:

Dưới 5 điểm: dọa đẻ non nhẹ.

Trên 5 diểm: dọa đẻ non nặng



2



3



4



Đều

Có thể

> 100 ml

2 cm



1.5.3. Chỉ số Bishop

Bảng 1.2. Bảng chỉ số Bishop



Rõ ràng

3 cm



4 cm



18



Điểm



0



1



2



Độ mở CTC



0



1-2



3-4



Độ dài CTC



> 1,5



1,5-1



<0,5



Độ lọt



Cao



Chúc



Chặt



Cứng



Mềm



Mềm



Sau



Trung gian



Chúc trước



Chỉ số



Mật độ CTC

Tư thế CTC

Đánh giá:



Bishop ≤ 6 điểm là nguy cơ thấp.

Bishop > 6 điểm là nguy cơ cao.

Bishop > 9 điểm thì chắc chắn chuyển dạ.

1.5.4. Đánh giá cổ tử cung

Đánh giá cổ tử cung bằng siêu âm được nhận định chủ yếu qua hai chỉ

số là độ dài cổ tử cung và độ mở lỗ trong cổ tử cung. Theo Nguyễn Mạnh Trí,

khi độ dài cổ tử cung dưới 35 mm ở tuần lễ 28 đến 30 thì có khoảng 20% số

thai phụ sẽ đẻ non [29].

Theo Trương Quốc Việt, khi kết hợp hai yếu tố là chỉ số Bishop và độ

dài CTC thì tiên lượng dọa đẻ non sẽ rất có giá trị, cụ thể khi chỉ số Bishop ≥

6 điểm và độ dài CTC ≤ 26 mm thì giá trị tiên đốn đẻ non có độ nhạy là

63,8% và độ đặc hiệu là 100% [30].

1.5.5. Xét nghiệm fibronectin

Fibronectin là một glycoprotein được tạo ra bởi tế bào nuôi và một số

mô của thai nhi. Vào thời điểm cuộc chuyển dạ sắp xảy ra người ta tìm thấy có

sự hiện diện của fibronectin trong cổ tử cung và âm đạo, do vậy người ta có thể

định tính hoặc định lượng để tiên lượng cho bệnh nhân dọa đẻ non. Goldenberg

và cộng sự nghiên cứu trên 1870 phụ nữ có thai, thử test fibronectin hai tuần

một lần từ tuần thứ 24 đến tuần thứ 30. Với những người có tất cả các lần thử



19



test đều âm tính thì tỷ lệ đẻ non trước 35 tuần là 1,5%. Còn có một lần test

dương tính thì tỷ lệ đẻ non trước 35 tuần là 8,3%, những người có nhiều hơn

một lần test dương tính thì tỷ lệ là 16,3% [11].

1.5.6. Định lượng hCG cổ tử cung

hCG là hormon do tế bào gai rau tiết ra, nồng độ hCG ở cổ tử cung cao

khi tuổi thai trước 20 tuần. Nhưng sau 20 tuần thì nồng độ hCG ở cổ tử cung

giữ ở mức ổn định trong khoảng từ 5,6 đến 7,1 mIU/ml, đồng thời có liên

quan chặt chẽ với nồng độ hCG trong huyết thanh mẹ và dịch ối [31]. Khi

nồng độ hCG ở cổ tử cung tăng cao, người ta có thể dự đốn cuộc chuyển dạ

sắp xảy ra với giải thích là do hậu quả của phản ứng viêm tại chỗ làm cho

hCG thoát ra từ các dịch của người mẹ xuống cổ tử cung. Theo Gurbuz và

cộng sự, nếu nồng độ hCG trong dịch cổ tử cung cao hơn hoặc bằng 32

mIU/ml thì chẩn đốn chuyển dạ sẽ diễn ra trong vòng 100 giờ có độ nhạy là

98%, độ đặc hiệu là 55%, giá trị của phản ứng dương tính là 70%, giá trị của

phản ứng âm tính là 96%. Những người có nồng độ hCG lơn hơn hoặc bằng

32 mIU/ml có nguy cơ đẻ non trong vòng 7 ngày cao gấp 17,37 lần so với

người có nồng độ hCG dưới 32 mIU/ml [32].

1.5.7. Phương pháp mới dự đoán chuyển dạ sinh non ở phụ nữ có triệu

chứng: Đánh giá ban đầu PartoSure (PAMG – 1).

Test PartoSure dương tính ở sản phụ có dấu hiệu chuyển dạ sinh non, ối

còn, CTC mở ≤ 3cm cho thấy chuyển dạ tự nhiên sẽ xảy ra trong vòng 7 ngày

với độ chính xác cao. Kết quả âm tính cho thấy khả năng chuyển dạ trong

vòng 14 ngày là thấp [33].

1.5.8. Định lượng Interleukin-8 và một số chất khác



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hai triệu chứng quan trọng của dọa đẻ non là sự xuất hiện cơn co tử cung và sự xóa mở cổ tử cung không phải luôn đi kèm với nhau, vì vậy khi thăm khám bệnh nhân dọa đẻ non cần tỉ mỉ, kiên trì tránh bỏ sót. Theo Andersen, thăm khám bằng tay dự báo được 71%

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×