Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Các nhân tố quyết định đến năng lực quản lý bệnh viện

b. Các nhân tố quyết định đến năng lực quản lý bệnh viện

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Nguồn nhân lực của bệnh viện.

Trong tổ chức, nhân tố quyết định nhất năng động nhất là con người và

hoạt động của con người ở trong tổ chức, trong guồng máy hoạt động của tổ

chức. Muốn bệnh viện hoạt động tốt không những CBVC cần phải giỏi về

chuyên môn mà phải có trình độ quản lý tốt.

Trình độ chun môn: Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu bởi nó liên

quan trực tiếp tới sinh mạng của người bệnh, bệnh viện có được các Bác sỹ,

Dược sỹ, Y tá,…giỏi chẩn đốn đúng bệnh dựa vào đó tìm được phương

pháp điều trị phù hợp và có thể rút ngắn quá trình điều trị cho người bệnh.

Kết quả điều trị tốt tạo nên thương hiệu cho bệnh viện và tạo lòng tin cho

người bệnh thu hút bệnh nhân đến với bệnh viện tăng nguồn thu cho bệnh

viện. Bởi năng lực quản lý của bệnh viện xét cho cùng được phản ánh thông

qua hiệu quả hoạt động của bệnh viện tốt hay xấu.

Trình độ quản lý: Bệnh viện là một hệ thống vì vậy để điều hành hoạt

động của bệnh viện một cách khoa học ngồi trình độ chun mơn cần phải

có trình độ quản lý giỏi. Giống như bệnh viện là một cỗ máy còn trình độ

quản lý là dầu bơi trơn giúp cỗ máy đó hoạt động trơn chu.

Từng con người mạnh sẽ tạo nên tổ chức mạnh và tổ chức mạnh sẽ đảm

bảo cho từng người phát huy được vai trò vốn có của mình, hạn chế được

những khuyết, nhược điểm tạo điều kiện thuận lợi cho từng người phát triển

tồn diện.

- Cơng tác quản lý tài chính.

Đặc trưng của hệ thống y tế là bệnh viện. Bệnh viện có trách nhiệm

khám, chữa bệnh cho cán bộ và nhân dân theo đúng Luật bảo vệ sức khỏe

nhân dân và các quy định khác của Nhà nước. Bên cạnh đội ngũ bác sỹ, y tá

giỏi về nghiệp vụ và chuyên mơn bệnh viện cần phải có nguồn kinh phí để

duy trì hoạt động của mình. Ngồi việc đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế

21



phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, còn phải có lương và phụ cấp trả cho

CBVC của bệnh viện, chi phí cho quản lý hành chính, chi cho sửa chữa bảo

dưỡng thường xuyên,…

Trong cơ chế tự chủ bệnh viện phải tự lo một phần kinh phí hoạt động

cho mình do đó việc thu ra sao, chi tiêu thế nào, thu hút các nguồn viện trợ để

tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho bệnh viện là vấn đề rất đáng quan tâm.

Tất cả những nội dung đó tựu chung lại là làm thế nào để quản lý tài chính

một cách hiệu quả để bệnh viện hồn thành chức năng của mình.

- Chính sách của Bộ ban ngành liên quan.

Bệnh viện là đơn vị sự nghiệp hoạt động trong khu vực công chịu sự

quản lý của Nhà nước mà cụ thể là Bộ Y tế, do đó chịu tác động của các chính

sách của các Bộ ban ngành có liên quan. Y tế là một lĩnh vực có đặc thù riêng

nên sự can thiệp của Chính Phủ vào thị trường y tế một mặt khắc phục những

thất bại thị trường gây ra. Trong cơ chế tự chủ tài chính, sự can thiệp của

Chính phủ đã từng bước nới lỏng nhưng khơng hồn tồn để các bệnh viện

khơng chạy theo mục tiêu lợi nhuận hóa mà vẫn phải đảm bảo cơng bằng cho

xã hội. Chính vì vậy mà ảnh hưởng của các chính sách liên quan tới bệnh viện

một phần tạo thuận lợi nhưng lại gây khó khăn trong quyền hạn thực thi

nhiệm vụ tự chủ của mình thơng qua các Văn bản qui phạm pháp luật qui

định hạn mức chi tiêu và biên chế trong bệnh viện. Mặt khác, nó ảnh hưởng

trực tiếp đến công tác quản lý bệnh viện, tạo điều kiện hay kìm hãm. Do vậy,

chính sách của Bộ ban ngành liên quan cũng ảnh hưởng tới năng lực quản lý

bệnh viện.

- Vai trò của quản lý bệnh viện trong cơ chế tự chủ tài chính.

Quản lý bệnh viện là một phạm trù đòi hỏi người quản lý phải có cái

nhìn tổng quan, bao quát cả về môi trường ngành y tế cũng như các nhân tố

tác động trực tiếp đến hệ thống quản lý bệnh viện. Trong điều kiện nhà nước

còn bao cấp cho các bệnh viện thì hoạt động quản lý chỉ đơn thuần là tuân thủ



22



các Văn bản qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành. Mọi hoạt động của

bệnh viện đều nằm dưới sự giám sát và quản lý của Nhà nước.

Trong cơ chế tự chủ tài chính, bệnh viện khơng còn được Nhà nước bao

cấp mà phải tự chủ về tài chính cũng như tự tổ chức công việc sắp xếp lại bộ

máy sao cho hiệu quả và phải hoàn thành chỉ tiêu do Nhà nước đề ra. Vai

trò của hệ thống quản lý được cụ thể hoá thành 12 nhiệm vụ cơ bản (Theo

Khoa học tổ chức và quản lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB thống

kê Hà Nội – 1999) mà các nhà quản lý phải thực hiện trong quá trình dẫn

dắt tổ chức đạt được các mục tiêu chung. Đó là:

+ Nhận thức mơi trường bên ngồi của tổ chức.

+ Duy trì sự phối hợp thơng tin giữa các yếu tố tác động bên ngoài với

các yếu tố bên trong của tổ chức.

+ Đại diện cho tổ chức để giới thiệu và trình bày mục tiêu và hoạt động

của tổ chức cho các cấp trên và các cơ quan phối hợp bên ngoài.

+ Phối hợp là chức năng tạo lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong

tổ chức cũng như các tôt chức khác trong hoạt động của tổ chức.

+ Kế hoạch là chức năng phát triển và quyết định các mục tiêu trong

khoảng thời gian xác định.

+ Hướng dẫn là chức năng xây dựng các chỉ dẫn cho việc thực hiện các

nhiệm vụ.

+ Tài chính: đây là bổn phận chuẩn bị các điều kiện tài chính phục vụ

cho hoạt động của tổ chức.

+ Quản lý và phát triển nhân lực.

+ Giám sát.

+ Theo dõi.

+ Bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất và phương tiện làm việc.

+ Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu, chất lượng và hiệu quả công việc.



23



Quản lý bệnh viện phải thế nào để bệnh viện ngày càng phát triển, trở

thành thương hiệu thu hút người dân đến khám và điều trị, là điều khơng hề

đơn giản; đòi hỏi ban giám đốc phải có sự đổi mới về tư duy, năng động trong

điều hành để vận dụng sáng tạo chủ trương, chính sách của Nhà nước.

1.5 Các thành phần cấu thành nên chất lượng dịch vụ KCB theo cơ chế tự chủ

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm hai thành phần: Chất

lượng chuyên môn, kỹ thuật (phần cứng của chất lượng) và chất lượng chức

năng (phần mềm của chất lượng).

Chất lượng chuyên môn kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn

đốn và điều trị bệnh. Chất lượng chuyên môn kỹ thuật được thể hiện qua các

chỉ tiêu đo lường cụ thể như số lần khám, số lần chụp X quang, số lần nội

soi…Do vậy chất lượng chun mơn kỹ thuật có thể lượng hóa được và là căn

cứ quan trọng để đánh giá chất lượng của dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện.

Chất lượng chức năng chính là cách thức mà chất lượng chuyên môn, kỹ

thuật được mang đến cho khách hàng như thế nào. Các yếu tố thuộc chất

lượng chức năng khó có thể định lượng một cách khách quan mà nó mang

tính chủ quan. Chất lượng chức năng do khách hàng cảm nhận và đánh giá tùy

thuộc vào mong đợi và nhu cầu của khách hàng. Do đó, cùng một chất lượng

dịch vụ như nhau nhưng các khách hàng khác nhau sẽ có những cảm nhận

khác nhau, thậm chí cùng một khách hàng nhưng ở các thời điểm khác nhau,

người ta cũng có những cảm nhận khác nhau. Chất lượng chức năng cũng phụ

thuộc nhiều vào người cung cấp dịch vụ và các yếu tố ngoại vi như môi

trường, cơ sở vật chất bệnh viện, thái độ của nhân viên y tế…

Đặc điểm của chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Chất lượng dịch vụ

khám chữa bệnh được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu của người bệnh. Nếu một

dịch vụ khám chữa bệnh vì lý do nào đó mà khơng được nhu cầu chấp nhận

thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù nó được thực hiện bởi những thiết

24



bị y tế hiện đại, bác sĩ có trình độ chuyên môn cao. Đây là một kết luận then

chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược nâng cao

chất lượng dịch vụ y tế của mình. Chất lượng dịch vụ KCB khơng có tính

đồng nhất. Do chất lượng dịch vụ KCB được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu và

mong đợi của khách hàng, mà nhu cầu và mong đợi của khách hàng luôn luôn

biến động nên chất lượng dịch vụ KCB cũng luôn luôn biến động theo thời

gian, không gian, điều kiện sử dụng. Chất lượng dịch vụ KCB phải được xem

xét từ những đặc tính của dịch vụ có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu

cầu cụ thể. Bởi lẽ nhu cầu KCB khơng chỉ xuất phát từ phía khách hàng mà

còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu

cầu của cộng đồng xã hội. Chất lượng dịch vụ KCB có thể được lượng hóa

hoặc chỉ là cảm nhận một cách định tính. Do nhu cầu KCB có thể được cơng

bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu

khơng thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có

khi chỉ phát hiện được chúng trong q trình sử dụng. Do đó, chất lượng dịch

vụ KCB khơng phải là thuộc tính của dịch vụ mà ta vẫn hiểu hàng ngày. Chất

lượng dịch vụ KCB có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình cung cấp

dịch vụ.

1.6 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh theo cơ chế

tự chủ.

Theo HEA (Hội khoa học kinh tế y tế Việt Nam), “Chất lượng dịch vụ

khám chữa bệnh bao gồm hai thành phần: chất lượng chuyên môn, kỹ thuật và

chất lượng chức năng. Chất lượng chuyên môn, kỹ thuật là sự chính xác trong

kỹ thuật chẩn đốn và điều trị bệnh và chất lượng chức năng bao gồm các đặc

tính như cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách thức tổ

chức quy trình khám chữa bệnh, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh”.

a) Chất lượng chun mơn, kỹ thuật

25



Chỉ số giường bệnh tại bệnh viện:

Trong mỗi bệnh viện công đều tồn tại hai chỉ số về giường bệnh là:

giường kế hoạch và giường thực kê.

- Giường kế hoạch là giường được ghi vào chỉ tiêu kế hoạch của nhà

nước phân cho bệnh viện quản lý.

- Giường thực kê là tổng số giường thực tế tại bệnh viện.

Trong các bệnh viện tư nhân chỉ có một chỉ số giường duy nhất là

giường thực kê. Chỉ số này cho thấy khả năng cung cấp dịch vụ thực tế và

mức độ tự điều chỉnh của bệnh viện, của hệ thống cho phù hợp với tình hình

nhu cầu bệnh tật tại địa phương. Cơng suất sử dụng giường bệnh phản ánh

tình trạng điều trị tại bệnh viện.

Công suất sử dụng giường bệnh: Là tỷ lệ phần trăm sử dụng giường bệnh

so với Kế hoạch được giao của một bệnh viện trong một năm xác định. Cơng

thức tính như sau:

Cơng suất sử dụng giường bệnh kế hoạch (%) =

Tổng số ngày điều trị nội trú của BV trong 01 năm xác định x 100

Tổng số giường Kế hoạch x 365 ngày

Công suất sử dụng giường bệnh thực kê (%) =

Tổng số ngày điều trị nội trú của BV trong 01 năm xác định x 100

Tổng số giường thực kê x 365 ngày ™

* Số lượt khám bệnh

Một lượt khám bệnh là một lần người bệnh được thầy thuốc thăm khám

về lâm sàng hoặc kết hợp với cận lâm sàng hay các thủ thuật thăm dò khác

nhằm mục đích chẩn đốn bệnh và điều trị. Trong các bệnh viện, tổng số lượt

khám bệnh cho biết mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với bệnh viện từ đó

giúp đánh giá kết quả hoạt động khám chữa bệnh của đơn vị. ™

* Tổng số lượt điều trị nội trú

26



Theo chỉ tiêu quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 40/2006/QĐBYT ngày 25 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hệ

thống chỉ tiêu thống kê ngành y tế: “lượt điều trị nội trú: Là người bệnh sau

khi đã làm các thủ tục nhập viện được vào nằm tại các khoa lâm sàng trong

bệnh viện và được hưởng tất cả mọi chế độ chăm sóc điều trị đã quy định. Đối

với người bệnh sau khi hoàn thành thủ tục nhập viện từ 4 giờ trở lên được tính

là lượt người bệnh điều trị nội trú”.

Tổng số lượt điều trị nội trú là một tiêu chí giúp đánh giá khả năng cung

cấp dịch vụ KCB của bệnh viện. ™

* Tổng số ngày điều trị của người bệnh nội trú

Theo chỉ tiêu quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 40/2006/QĐBYT ngày 25 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hệ

thống chỉ tiêu thống kê ngành y tế:

- Đối với toàn bệnh viện “Ngày điều trị nội trú: Là một ngày trong đó

người bệnh được hưởng mọi chế độ điều trị nội trú, chăm sóc mà bệnh viện

phải đảm bảo bao gồm: chẩn đoán, điều trị thuốc, chăm sóc nghỉ ngơi”

- Đối với từng khoa phòng trong bệnh viện “Số ngày điều trị nội trú:

Được tính bằng cách cộng số người bệnh hiện có trong kỳ báo cáo”. Tiêu chí

này giúp đánh giá tình hình hoạt động và năng lực chuyên môn của cơ sở

khám chữa bệnh.

* Tỷ suất tử vong, chữa khỏi, không chữa khỏi tại bệnh viện

Tỷ suất tử vong, chữa khỏi, không chữa khỏi: là tỷ lệ trên số ca bệnh

điều trị khi ra viện (nội trú và ngoại trú) theo quy định của bộ Y tế. Tiêu chí

này phản ánh chất lượng điều trị tại bệnh viện. ™

* Tổng số lần phẫu thuật



27



Là những lần người bệnh được y, bác sỹ phẫu thuật điều trị khơng tính

những lần mổ xác hoặc thủ thuật. Đây là tiêu chí quan trọng giúp đánh giá

năng lực cán bộ y tế, mơ hình dịch vụ của bệnh viện.

* Tổng số xét nghiệm Tổng số xét nghiệm:

Mỗi chỉ số cụ thể theo chỉ định của bác sĩ được tính là một lần xét

nghiệm (riêng xét nghiệm máu ngoại vi (cơng thức máu); tổng phân tích nước

tiểu chỉ tính 1 lần xét nghiệm). Tổng số xét nghiệm của bệnh viện trong một

năm hoặc trong kỳ báo cáo phản ánh chất lượng và khả năng cung cấp dịch vụ

của cơ sở y tế. ™

* Tổng số XN chẩn đốn hình ảnh

Tổng số xét nghiệm chấn đốn hình ảnh bao gồm tổng số các loại chụp

X quang, các lần siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp/cộng hưởng từ (chụp CT Scanner/MRI) theo chỉ định của bác sĩ tại bệnh viện trong một năm nhất định.

Đây là tiêu chí phản ánh chất lượng chun mơn trong chẩn đốn và năng lực

của cán bộ y tế tại cơ sở KCB.

b) Chất lượng chức năng

Chất lượng chức năng của DV KCB: khách hàng có thể cảm nhận và

đánh giá ngay về chất lượng chức năng khi tiếp cận sử dụng dịch vụ tại bệnh

viện. Nếu coi chất lượng kỹ thuật là các món ăn trên một bàn tiệc thì chất

lượng chức năng chính là việc trình bày các món ăn đó và cách thức (thái độ

& kỹ thuật) phục vụ các món ăn đó. Chất lượng chức năng của dịch vụ bệnh

viện thể hiện ở thái độ của nhân viên (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, lễ tân,

bảo vệ, tạp vụ), ở việc bố trí các khoa phòng hợp lý và phân luồng bệnh nhân

khoa học, ở thời gian chờ đợi của khách hàng khi thực hiện các khâu dịch vụ,

ở sự thuận tiện trong các thủ tục hành chính....

Người ta có thể đánh giá chất lượng chức này thơng qua một số các tiêu

chí như:

- Số lượng bệnh nhân phàn nàn về dịch vụ KCB của bệnh viện



28



- Số lượng bệnh nhân quay trở lại khám chữa bệnh tại Bệnh viện

- Số lượng bệnh nhân mới được giới thiệu (thông qua các bệnh nhân đã

được điều trị).

1.7 Kinh nghiệm quản lý khám chữa bệnh tại các bệnh viện lân cận theo

cơ chế tự chủ.

1.7.1. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa

* Quy mơ

Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Thanh Hóa hiện có quy mơ 800

giường, 38 khoa phòng, ba trung tâm, với 1.128 cán bộ, 226 bác sĩ, trong đó

hơn 60% có trình độ sau đại học. Xứng đáng với trung tâm y tế lớn, hiện đại

nhất tỉnh Thanh Hóa, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho gần bốn triệu

người dân trong tỉnh, bệnh viện ưu tiên chăm lo phát triển, nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực bằng hình thức: Tạo điều kiện cho cán bộ theo học các

khóa đào tạo sau đại học ở các trường đại học; gửi đi đào tạo ở các trung tâm

lớn, các bệnh viện đầu ngành theo chuyên khoa sâu và đặt hàng cụ thể; đẩy

mạnh đào tạo tại chỗ bằng phương pháp cầm tay chỉ việc với sự giúp đỡ của

các chuyên gia đầu ngành.

* Trang thiết bị:

Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh hóa đã đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện

đại bằng nhiều nguồn vốn: ODA, kinh phí đầu tư của tỉnh, nguồn xã hội hóa,

nguồn tiết kiệm chi của đơn vị, nguồn các dự án; đẩy mạnh nghiên cứu khoa

học, tập trung ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mũi nhọn. Đó là phẫu thuật nội

soi, can thiệp tim mạch, xạ trị gia tốc, chụp CT 128 lát cắt. Sử dụng sóng siêu

âm cao tần điều trị khối u (HIFU), phẫu thuật chỉnh hình: thay khớp, tái tạo

dây chằng, kết xương, ghép sọ, phẫu thuật cột sống, phẫu thuật sọ não, nút

mạch điều trị u gan, u xơ tử cung, nội soi đặt stent thực quản... Đặc biệt, bệnh

viện không ngừng mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế; thường xuyên mời

chuyên gia đầu ngành cập nhật kiến thức, chuyển giao kỹ thuật; duy trì sinh

29



hoạt chuyên đề vào thứ năm, giao ban hội chẩn ca bệnh với bệnh viện T.Ư

vào chiều thứ ba hằng tuần qua hệ thống telemedicine.

* Về trình độ kỹ thuật:

Năm 2014, bệnh viện đã cử 47 cán bộ đi đào tạo tiếp nhận chuyển giao

kỹ thuật của tuyến T.Ư; tiếp nhận bốn kỹ thuật chẩn đoán điều trị ung thư, hai

kỹ thuật cấp cứu, điều trị bỏng, hai kỹ thuật xét nghiệm huyết học truyền máu.

Mời chuyên gia tuyến T.Ư về cập nhật kỹ thuật mới trong tám buổi cho 936

lượt cán bộ bệnh viện tuyến tỉnh và các bệnh viện tuyến huyện. Theo đó,

nhiều kỹ thuật mới được triển khai, người bệnh được cấp cứu, xử lý kịp thời.

Đơn cử như người bệnh bị nhồi máu não đến viện chỉ sau khoảng 30 đến 45

phút là hoàn chỉnh các xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán, xác định, chỉ định

dùng thuốc tiêu sợi huyết nên nhiều người bệnh đã hồi phục chức năng hoàn

toàn. Đối với người bệnh bị nhồi máu cơ tim cấp, bệnh viện ln có kíp trực

24/24 giờ để can thiệp mạch tim mạch kịp thời. Nhờ đó, hàng trăm người

bệnh được cứu sống; các trường hợp cấp cứu ngoại khoa chỉ sau một đến hai

giờ đã được phẫu thuật. Đáng ghi nhận là từ bác sĩ đến điều dưỡng, hộ lý ln

niềm nở, tận tình, phục vụ người bệnh với tinh thần "hết việc mới hết giờ".

Bệnh viện phát phiếu thăm dò người bệnh trước, trong điều trị, kịp thời nắm

bắt phản ánh của người bệnh qua điện thoại nóng, hộp thư góp ý, kiểm tra

định kỳ, kiểm tra đột xuất; nghiêm túc xử lý các vi phạm, công khai cho

người bệnh biết; đẩy mạnh cải tiến thủ tục hành chính, ứng dụng cơng nghệ

thơng tin để giảm thời gian chờ đợi, giảm phiền hà cho người bệnh.

Với những nhà quản lý người quản lý bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa

thì người bệnh ngày càng có nhiều sự lựa chọn trong việc khám và điều trị. Vì

vậy, ngồi những yếu tố kể trên, bệnh viện đặc biệt coi trọng đến việc nâng

cao chất lượng nguồn nhân lực cả về chun mơn và đạo đức nghề nghiệp. Do

đó, ngồi tạo điều kiện cho các bác sĩ học sau đại học; chú trọng đến công tác

nghiên cứu đề tài khoa học; tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học với các giáo

30



sư đầu ngành và duy trì các buổi sinh hoạt chun mơn ở các khoa... thì bệnh

viện còn chú trọng bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cho đội ngũ y, bác sỹ và

nhân viên phục vụ thông qua các buổi tập huấn về cách giao tiếp, ứng xử với

người bệnh; đồng thời cải cách, đổi mới khâu tiếp đón, tạo cho người bệnh

tâm lý thoải mái khi đến khám, chữa bệnh.

1.7.2 Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An

Bệnh viện có 45 khoa, phòng với 936 cán bộ, trong đó có: 118 cán bộ

được đào tạo sau đại học, bao gồm: 1 Phó giáo sư - tiến sỹ, 3 tiến sỹ, 9 bác sỹ

CKII, 55 thạc sỹ, 33 bác sỹ CKI, 8 bác sỹ nội trú, 2 dược sỹ CKI... Năm 2016,

theo định hướng phát triển bệnh viện hạng 1, với mục tiêu ngày càng nâng

cao chất lượng nhân lực hiện tại, bệnh viện đầu tư nâng cao chuyên mơn

chiều sâu, tổ chức các khóa đào tạo nâng cao trình độ chun mơn, cũng như

đào tạo cán bộ chun khoa sâu…Hàng tuần, bệnh viện tổ chức các buổi hội

chẩn trực tuyến với Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức. Bệnh viện chú

trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ kỹ thuật cao như:

hệ thống thiết bị thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), máy giải mã trình tự gen,

máy điện sinh lý cơ tim...

Bên cạnh đó, Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An chú trọng đổi mới

công tác nâng cao quản lý chất lượng bệnh viện, cải cách thủ tục hành chính,

rút ngắn thời gian chờ đợi khám bệnh. Hệ thống bảng biển, hướng dẫn bệnh

nhân được lắp đặt chi tiết. Việc tiếp dân được tổ chức 24/24h ngay tại phòng

trực lãnh đạo cùng với hệ thống thùng thư góp ý và đường dây nóng; duy trì

đều đặn sinh hoạt Hội đồng người bệnh tại các khoa lâm sàng và bệnh viện;

hàng tháng duy trì tốt việc thăm dò ý kiến người bệnh, qua đó, phát hiện kịp

thời để chấn chỉnh, nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ được nhân dân đồng

tình ủng hộ.

Với việc thành lập Trung tâm Dịch vụ tổng hợp, bệnh viện đã có bước

tiến rõ nét trong cơng tác chăm sóc tồn diện cho người bệnh như quan tâm

31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Các nhân tố quyết định đến năng lực quản lý bệnh viện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×