Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đa số các tác giả đều thống nhất KHX trụ bằng nẹp vít ổ gãy được cố định vững chắc và ổn định hơn đinh, nhưng nhược điểm là cộm vết mổ do xương trụ nằm ngay dưới da. Nên gãy mỏm khuỷu đơn thuần vẫn dụng đinh và dây thép để KHX, còn gãy xương trụ phức tạp

Đa số các tác giả đều thống nhất KHX trụ bằng nẹp vít ổ gãy được cố định vững chắc và ổn định hơn đinh, nhưng nhược điểm là cộm vết mổ do xương trụ nằm ngay dưới da. Nên gãy mỏm khuỷu đơn thuần vẫn dụng đinh và dây thép để KHX, còn gãy xương trụ phức tạp

Tải bản đầy đủ - 0trang

70



4.1.10. Thời gian nằm viện

Ngày điều trị trung bình của bệnh nhân là 7.03 ± 3,9 ngày. Gãy kín

Monteggia có thời gian nằm viện trung bình khơng dài là do được Phẫu thuật

sớm và ít nhiễm khuẩn vết mổ; trong 37 trường hợp đã được phẫu thuật

khơng có trường hợp nào bị nhiễm khuẩn.

4.1.11. Thời gian theo dõi sau ra viện

Trong tổng số 37 bệnh nhân chúng tơi có thời gian theo dõi trung bình

sau ra viện là: 31,11 tháng, ngắn nhất là 4 tháng dài nhất là 64 tháng.

Theo Jesse B. Jupiter và cs 1991, từ năm 1980-1988, có 13 bệnh nhân

gãy Monteggia Bado II, đã được phẫu thuật, có 11 trường hợp được theo dõi

trung bình 38,4 tháng.

Theo Ring D và Jupiter JB năm 1998, có 48 bệnh nhân gãy Monteggia

thời gian theo dõi trung bình là 6,5 năm, ngắn nhất là 2 năm, dài nhất là 40

năm.

Theo J. Korner và cs năm 2004, từ 1988-2001 có 68 bệnh nhân gãy

Monteggia. Trong số đó có 49 trường hợp được theo dõi, thời gian theo dõi

trung bình là 83 tháng (25-176 tháng).

Reinhold Laun và cộng sự năm 2015, có 10 bệnh nhân gãy Monteggia

được phẫu thuật từ 2012-2014, theo dõi trung bình 12,3 tháng.

Tuy số bệnh nhân gãy xương loại này là hiếm gặp nhưng cũng có một số

nghiên cứu theo dõi lâu dài để đánh giá đầy đủ hơn về kết quả xa của tổn

thương này.

4.2. Kết quả điều trị

4.2.1. Kết quả sớm sau phẫu thuật

Tất cả 37 bệnh nhân đều liền vết mổ thì đầu, do phẫu thuật có chuẩn bị,

vơ khuẩn.



71



Kết quả nắn chỉnh sau phẫu thuật của 37 bệnh nhân trong đó rất tốt và tốt

có 33 bệnh nhân ổ gãy khơng phức tạp, đài quay khơng gãy. Chấp nhận được

có 3 bệnh nhân, đó là các ổ gãy phức tạp nhiều mảnh rời. Kém có 1 bệnh

nhân, trường hợp này là gãy loại II, có vỡ đài quay, khơng được phát hiện

trước, sau khi nắn chỉnh mảnh vỡ kẹt trong khớp nên gây trật lại khớp. Sau 2

ngày được phẫu thuật lại, mở khớp lồi cầu quay lấy bỏ manh xương, đặt lại

khớp, cố định khớp quay bằng xuyên đinh Kirschner và khâu lại dây chằng

vòng bị rách.

Theo Trịnh Thiện Kế năm 2010, khơng thấy nhiễm khuẩn vết mổ trong

25 bệnh nhân gãy kín, chỉ gặp nhiễm khuẩn ở 2 bệnh nhân gãy hở đến muộn.

Tác giả cũng gặp 1 bênh nhân gãy loại I, bị trật khớp sau phẫu thuật, nguyên

nhân là mảnh xương vỡ của đài quay gây kẹt khớp, đã được phẫu thuật lại.

Chụp xquang cắt lớp vi tính khớp khuỷu và đầu trên 2 xương cẳng tay là

việc nên làm đặc biệt trong gãy phức tạp, gãy loại II, hình ảnh xquang quy

ước nghi ngờ tổn thương hoặc khó xác định. Theo tác giả Reinhold Laun tất

cả các trường hợp gãy Monteggia đều được chụp cắt lớp đánh giá đầy đủ tổn

thương để có chiến lược điều trị đúng đắn.

Trong các trường hợp nắn kín trật khớp quay trụ trên cần kiểm tra vận

động khớp dưới xquang tăng sáng sau khi kết vững xương trụ; để kịp thời

phát hiện trật khớp và xử trí ln, tránh để bệnh nhân chịu thêm một lần phẫu

thuật không cần thiết về sau.

4.2.2. Kết quả gần sau phẫu thuật 3-6 tháng.

Trong tổng số 37 bệnh nhân theo dõi trong thời gian theo dõi 3-6 tháng:

- Khơng có bệnh nhân nào bị trật lại khớp quay trụ trên, chứng tỏ các

dây chằng đặc biệt là dây chằng vòng là ổn định nên khơng trật khớp tái phát.

- Mức độ liền xương: Liền tốt có 28 bệnh nhân, là những bệnh nhân gãy



72



không phức tạp, nắn chỉnh và cố định tốt, tuân thủ đầy đủ các hướng dẫn.

Liền xấu có 6 bệnh nhân, gặp ở các bệnh nhân gãy phức tạp nắn chỉnh chỉ đạt

mức độ tương đối, không tuân thủ đầy đủ các hướng dẫn. Chậm liền có 1, đây

là bệnh nhân 70 tuổi, đa chấn thương có CTSN + gãy 2 xương cẳng chân.

Gãy bung phương tiện kết xương có 2 trường hợp; đều là gãy phức tạp,

trong đó có 1 bệnh nhân nam bị đa chấn thương và 1 bệnh nhân nữ, ổ gãy

xương ni dưỡng khơng tốt, trong q trình tập phục hồi chức năng bị gãy

nẹp và bung PTKX, bệnh nhân đi điều trị đắp thuốc nam, do không muốn

phẫu thuật lại.

- Điểm phục hồi chức năng khớp khuỷu MEPS trung bình là 85,54 (25100), đây là tiến triển tốt của loại gãy này.

- Đánh giá kết quả tổng hợp chung: rất tốt và tốt có 29 bệnh nhân, là

những bệnh nhân xương liền tốt, tập phục hồi chức năng tốt và liệt thần kinh

quay phục hồi sớm. trung bình có 5 bệnh nhân: đang trong giai đoạn phục hồi

liệt quay, chấn thương trực tiếp gãy xương phức tạp và tập phục hồi chức

năng chưa tốt. Kém có 3 bệnh nhân là 2 trường hợp gãy bung PTKX và chậm

liền xương.

Theo Ding D và cộng sự năm 1998, có 48 bệnh nhân gãy Monteggia

theo dõi trong thời gian 3-6 tháng có 9/48 trường hợp gãy hoặc lỏng, bung

PTKX, đã phải phẫu thuật lại.

Trong giai đoạn này việc theo dõi và đánh giá chủ yếu là xem xét sự hồi

phục của biến chứng liệt thần kinh quay, liền xương theo sinh lý, tập luyện

phục hồi chức năng và phát hiện các biến chứng mới để xử lý sớm.

4.2.3. Kết quả xa sau 9 tháng

Có 34 bệnh nhân có thời gian theo dõi từ 9 tháng trở lên:

- Mức độ liền xương: nhìn chung tất cả các bệnh nhân xương liền tốt lên

theo thời gian, cal lồi cal sù giảm dần. có 2 bệnh nhân bị gãy nẹp trước đó sau

khi đắp thuốc nam đã có dấu hiêu cal lệch, phần mềm bị xơ cứng và vơi hóa

nên chức năng của tay khơng được phục hồi.

- Điểm MEPS trung bình của những bệnh nhân này là 87,65 (25-100), đã



73



được cải thiện hơn trước đó.

- Đánh giá kết quả tổng hợp chung: rất tốt và tốt có 28 bệnh nhân, trung

bình có bệnh nhân và kém có 2 bệnh nhân do gãy bung PTKX không phẫu

thuật để cố định lại; do vậy nếu xảy ra biến chứng mà khơng được xử trí thì sẽ

khơng thể cải thiện được chức năng.

4.2.4. Kết quả sau 12 tháng đến 64 tháng

Theo thời gian số bệnh nhân được theo dõi giảm dần: Có 29 bệnh nhân

theo dõi ≥ 12 tháng, 20 bệnh nhân theo dõi ≥ 24 tháng, 16 bệnh nhân theo dõi

≥ 36 tháng, 8 bệnh nhân theo dõi ≥ 48 tháng, 3 bệnh nhân theo dõi ≥ 60 tháng:

- Liền xương hoàn toàn ở tất cả các bệnh nhân. Một số trong đó một số

bệnh nhân đã phẫu thuật tháo PTKX, nhưng còn nhiều bệnh nhân chưa tháo

PTKX; khơng thấy có các phản ứng tạo xương vào màng liên cốt, hoặc tiêu

xương lỏng vít. Như vậy nếu khơng có biến chứng hoặc trường hợp đặc biệt

thì có thể để PTKX một thời gian dài trong cơ thể; mà khơng có ảnh xấu đến

liền xương.

- Điểm MEPS trung bình là từ 91,55 đến 96,88(70-100). Đây được đánh

giá là điểm Phục hồi chức năng rất tốt

- Đánh giá kết quả tổng hợp chung: Đánh giá kết quả tổng hợp chung

sau 12-64 tháng theo dõi: Kết quả tốt và rất tốt là 89,7%. Có 3 trường hợp

(10,3%) có kết quả trung bình, chức năng bị mất một phần nhưng vẫn trở lại

sinh hoạt bình thường, tuy nhiên chức năng lao động bị hạn chế. Trong đó 2

trường hợp gãy loại III và 1 trường hợp gãy loại II, tất cả 3 bệnh nhân này sau

tháo bột đều không khám kiểm tra định kỳ và tập vận động theo hướng dẫn.

So sánh về kết quả xa giữa nghiên cứu của chúng tơi với các tác giả

trong và ngồi nước thấy kết quả của chúng tôi cũng tương đương:

Theo Trịnh Thiện Kế năm 2010, có 30 bệnh nhân gãy mới Monteggia

đánh giá kết quả xa tôt và rất tốt là 90%, trung bình là 3,3%, Kém là 6,7%.

Theo Nguyễn Văn Thái năm 2009, có 98 bệnh nhân gãy cũ Monteggia



74



đánh giá kết quả xa tôt và rất tốt là 91,84%, trung bình là 8,16%.

Theo Jesse B. Jupiter và cs 1991, từ năm 1980-1988, có 13 bệnh nhân

gãy Monteggia Bado II, đã được phẫu thuật, 11 trường hợp được theo dõi

trung bình 38,4 tháng. Đánh giá chức năng bằng tiêu chuẩn MEPS. Kết quả:

rất tốt là 3, tốt là 3, trung bình là 4 và kém là 1.

Theo Ring. D và cs 1998, có 48 bệnh nhân tuổi trưởng thành bi gãy

Monteggia, phân loại theo Bado, trong đó có 25 nữ và 13 nam, tuổi trung bình

52(18-88) tuổi, thời gian theo dõi trung bình là 6,5(2-10) năm. Điểm phục hồi

chức năng trung bình là 86(25-100) điểm. Kết quả: rất tốt là 18, tốt là 22,

trung bình là 2 và kém là 6.

Theo J. Korner và cs năm 2004, từ 1988-2001 có 68 bệnh nhân gãy

Monteggia. Trong số đó có 49 trường hợp được theo dõi thời gian theo dõi

trung bình là 83 tháng (25-176). Tuổi trung bình là 38(18-89) tuổi. Kết quả:

rất tốt là 14, tốt là 21, trung bình là 9, kém là 5 trường hợp. Thối hóa khớp

được quan sát thấy trên xquang 4 trường hợp.

Theo EJ Strauss và cs năm 2006 có 70 bệnh nhân gãy Monteggia. Trong

số đó có 28 bệnh nhân gãy Bado II. Trong số này có 23 trường hợp được theo

dõi, trong 23 bệnh nhân này lại chia thành 2 nhóm

+ Nhóm thứ nhất có 6 trương hợp có kèm theo trật khuỷu, tuổi trung

bình là 47(23-87) tuổi, theo dõi trung bình 28(14-48) tháng, điểm MEPS là

73,8 điểm. Kết quả: rất tốt là 2, tốt là 2 trung bình và kém là 2.

+ Nhóm thứ hai khơng bị trật khớp khuỷu có 17 bệnh nhân, tuổi trung

bình là 55(18-83) tuổi, theo dõi trung bình 29(12-60) tháng, điểm MEPS là

83(30-100) điểm. Kết quả: rất tốt là 6, tốt là 4 trung bình 6 và kém là 2.

Theo Reinhold Laun và cộng sự năm 2015, có 10 bệnh nhân gãy

Monteggia được phẫu thuật từ 2012-2014, có tuổi trung bình là 52,4(18-83)



75



tuổi, theo dõi trung bình 12,3 tháng. Điểm MEPS trung bình là 89,2(75-100)

điểm. Kết quả: rất tốt và tốt đạt 100%.

Đa số các tác giả trên thế giới có su hướng nghiên cứu từng loại gãy

riêng biệt và theo dõi lâu dài. Các tác giả này đều cho rằng kết quả gần và xa

có thể tốt, nếu được phân loại đúng và phẫu thuật tiêu chuẩn hóa các thành

phần bị tổn thương.

Sau 12 tháng chức năng sẽ khơng thể cải thiên; hay còn gọi là di chứng.

Nên việc sửa chữa các di chứng chỉ được đặt ra khi nó ảnh hưởng lớn đến

cuộc sống của bệnh nhân. Tuy nhiên ngay cả khi được sửa chữa thì việc cải

thiện chức năng cũng khó được như mong muốn.



76



KẾT LUẬN

Qua kết quả theo dõi và nghiên cứu 37 bệnh nhân gãy kín Monteggia tại

bệnh viện Việt Đức trong thời gian 5 năm, từ năm 2013 đến 2018, chúng tôi

xin được rút ra một số kết luận sau:

- Tuổi trung bình là 34,59 tuổi, trẻ nhất là 18 tuổi, già nhất là 70 tuổi.

- Tỷ lệ Nữ/Nam là 1/3.

- Nguyên nhân chấn thương chủ yếu là tai nạn giao thông 62,2%.

- Cơ chế chấn thương trực tiếp chiếm 73,0%.

- Tỷ lệ theo phân loại của Bado như sau: (Bado I) 54%, (Bado II) 10,8%,

(Bado III) 32,4%, (Bado IV) 5,4%.

- Gãy tay bên trái nhiều hơn gấp 2 lần tay phải.

- Biến chứng liệt thần kinh quay chiếm tỷ lệ 32,4%.Chủ yếu gặp ở gãy

loại III.

- Bệnh nhân có các chấn thương phối hợp là 21,6%.

- Thời gian trung bình từ khi bị chấn thương cho tới khi được phẫu thuật

là 4,56 ngày.

- Phương tiện kết xương chủ yếu là nẹp vít chiếm tỷ lệ 70,3%.

- Phương pháp phẫu thuật mở ổ gãy xương trụ nắn chỉnh kết hợp xương

và nắn chỉnh kín trật khớp quay trụ trên dưới màn hình xquang tăng sáng

chiếm 86,5%.

- Thời gian theo dõi trung bình sau ra viện là 31,11 tháng, ngắn nhất là 4

tháng dài nhất là 64 tháng.

- Kết quả liền vết mổ là 100%.

- Kết quả nắn chỉnh rất tốt và tốt đạt 89,2%, chấp nhận được 8,1%, kém 2,7%.

- Kết quả tổng hợp chung sau 3-6 tháng có 34 bệnh nhân: rất tốt và tốt là

78,4%, trung bình và kém là 21,6%. Điểm MEPS trung bình là 85,54 (25-100).



77



- Kết quả tổng hợp chung sau 9 tháng có 34 bệnh nhân: rất tốt và tốt là 82,3%,

trung bình và kém là 17,7%. Điểm MEPS trung bình là 87,65 (25-100).

- Kết quả tổng hợp chung sau 12 tháng có 29 bệnh nhân: rất tốt và tốt là

89,6%, trung bình là 10,4%. Điểm MEPS trung bình là 91,55 (70-100).

- Kết quả tổng hợp chung sau 24 tháng có 19 bệnh nhân: rất tốt và tốt là

95%, trung bình là 5%. Điểm MEPS trung bình là 95 (70-100).

- Kết quả tổng hợp chung sau 36 tháng có 16 bệnh nhân: rất tốt và tốt là

100%. Điểm MEPS trung bình là 96,88 (80-100).

- Kết quả tổng hợp chung sau 48 tháng có 8 bệnh nhân: rất tốt và tốt là

100%. Điểm MEPS trung bình là 94,38 (80-100).

- Kết quả tổng hợp chung sau 60 tháng có 3 bệnh nhân: rất tốt và tốt là

100%. Điểm MEPS trung bình là 93,33 (80-100).



78



KIẾN NGHỊ

Gãy Monteggia là những tổn thương hiếm gặp và ít được nghiên cứu.

Những tổn thương này vẫn là một thách thức đối với các bác sĩ phẫu thuật

chỉnh hình. Thách thức này là phức tạp hơn vì hầu hết các nghiên cứu về gãy

Monteggia khơng xác định tổn thương giống Monteggia như các thực thể lâm

sàng riêng biệt, nên chúng tơi có một số kiến nghị sau:

- Khi có bệnh nhân gãy xương trụ cần khám xét tỷ mỷ và khai thác kỹ cơ

chế chấn thương, sơ cứu trước đó để khơng bỏ sót gãy Monteggia.

- Cần chụp xquang cẳng tay đúng tiêu chuẩn để đánh giá đầy đủ khớp

khuỷu và cổ tay.

- Cần chụp cắt lớp khi có nghi ngờ, phim quy ước khơng chụp được

chuẩn, các gãy phức tạp.

- Trong gãy Monteggia, có 6 thương tổn cần thiết cần thiết phải xác định

và mỗi thương tổn phải được nhận biết và có chiến lược điều trị: Gãy xương

trụ,Trật khớp cánh tay quay, Trật khớp khuỷu, Trật khớp quay trụ trên, Gãy

xương quay, Tổn thương màng liên cốt.

- Nên kết hợp xương trụ bằng nẹp vít với gãy thân xương và gãy phức tạp.

- Chỉ dùng đinh và dây thép khi gãy mỏm khuỷu đơn thuần và gãy đơn giản.

- Tùy vào tổn thương, kết quả nắn chỉnh trong phẫu thuật trên từng bệnh

nhân cụ thể mà có phương pháp phẫu thuật hợp lý. Khi nắn chỉnh trật khớp

cần phải được kiểm tra dưới màn hình tăng sang.

- Theo dõi và kịp thời xử trí biến chứng là hết sức quan trọng.

- Cần theo dõi lâu dài để đánh giá đầy đủ hơn.



TÀI LIỆU THAM KHẢO



BỆNH ÁN MINH HỌA SỐ 1

Họ và tên: Nguyễn Anh Thảo Tuổi: 39 MBA: 11668

Giới tính: Nam

Nghề nghiệp: kỹ sư

Địa chỉ: Pháp Vân - Hoàng Liệt – Hoàng Mai - Hà Nội

Ngày vào viện: 22h 21/4/2013 Ngày ra viện: 25/4/2013

Chẩn đốn: Gãy kín Monteggia Bado III tay phải do TNGT giờ thứ 3

Cách vào viện 3 giờ bệnh nhân bị ngã xe máy, cẳng tay phải đập xuống

đường. Sau tai nạn tỉnh, cẳng và khuỷu tay phải sung nề biến dạng, đau bất

lực vận động. Vào viện cấp cứu: khám, chụp xquang, chẩn đoán và làm xét

nghiệm, chuẩn bị phẫu thuật theo chương trình. Bệnh nhân được phẫu thuật

ngày 22/4/2013. Phương pháp phẫu thuật là mở ổ gãy thân xương trụ 1/3 trên,

nắn chỉnh kết hợp xương bằng nẹp vít, nắn chỉnh kín khớp quay trụ trên. Sau

phẫu thuật được điều trị và chăm sóc, chụp xquang kiểm tra lại, bó bột cánh

cẳng bàn tay tư thế khuỷu gấp 90°, cẳng tay ngửa 4 tuần. Sau 3 tháng bệnh

nhân đã có thể sinh hoạt bình thường và quay trở lại công việc.

Kết quả xquang trước và sau phẫu thuật:



Ảnh 3.1: Xquang trước phẫu thuật Ảnh 3.2: Xquang sau phẫu thuật



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đa số các tác giả đều thống nhất KHX trụ bằng nẹp vít ổ gãy được cố định vững chắc và ổn định hơn đinh, nhưng nhược điểm là cộm vết mổ do xương trụ nằm ngay dưới da. Nên gãy mỏm khuỷu đơn thuần vẫn dụng đinh và dây thép để KHX, còn gãy xương trụ phức tạp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×