Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong tổng số 37 bệnh nhân:Tuổi trung bình là 34,59 tuổi, trẻ nhất là 18 tuổi, già nhất là 70 tuổi. Độ tuổi từ 18-60 là độ tuổi lao động gặp nhiều nhất 34 bệnh nhân chiếm 91,9%. Vì vậy việc điều trị tốt sẽ càng có ý nghĩa hết sức quan trọng là trả lại chứ

Trong tổng số 37 bệnh nhân:Tuổi trung bình là 34,59 tuổi, trẻ nhất là 18 tuổi, già nhất là 70 tuổi. Độ tuổi từ 18-60 là độ tuổi lao động gặp nhiều nhất 34 bệnh nhân chiếm 91,9%. Vì vậy việc điều trị tốt sẽ càng có ý nghĩa hết sức quan trọng là trả lại chứ

Tải bản đầy đủ - 0trang

66



4.1.2. Nguyên nhân và cơ chế gây chấn thương

Nguyên nhân gặp nhiều nhất là tai nạn giao thơng có 23/37 bệnh nhân

chiếm 62,2%. Cơ chế chấn thương trực tiếp có 27/37 bệnh nhân chiếm 73,0%.

Đây cũng là đặc điểm chung của mơ hình bệnh do chấn thương hiện nay ở

Việt Nam. Tai nạn giao thông làm tăng cơ chế chấn thương trực tiếp; gây ra

các tổn thương phức tạp về xương khớp và phần mềm, nó còn gây ra các bệnh

cảnh đa chấn thương, làm cho việc điều trị rất khó khăn và kết quả khơng

được như mong muốn.

Theo Trịnh Thiện Kế năm 2010. Trong 43 bệnh nhân gãy Monteggia:

TNGT là 67,4%, TNLĐ là 7%, TNSH là 20,9%, TNTT là 4,7%.

Trong nghiên cứu này 3/37 bệnh nhân có kết quả kém chiếm 8,1% đều

do TNGT chấn thương trực tiếp.

4.1.3. Phân loại gãy

Trong số 37 bệnh nhân chúng tôi nghiên cứu thì tỷ lệ là:

Gãy Monteggia Bado I có 19 bệnh nhân chiếm 51,4%.

Gãy Monteggia Bado II có 4 bệnh nhân chiếm 10,8%.

Gãy Monteggia Bado III có 12 bệnh nhân chiếm 32,4%.

Gãy Monteggia Bado IV có 2 bệnh nhân chiếm 5,4%.

Theo Bado J.L 1967 và được nhiều tác giả công nhận rộng rãi thì tỷ lệ

loại I là 60%, loại II là 15%, loại III là 20%, loại IV là 5%. Gãy do cơ chế

gián tiếp là chủ yếu.

Theo Nguyễn Văn Thái năm 2009. Trong 98 bệnh nhân gãy Monteggia,

phân loại theo Bado, loại I có 55,1%, loại II có 33,67%, loại III có 9,18%và

loại IV có 2,05%.

Theo Trịnh Thiện Kế năm 2010. Trong 43 bệnh nhân gãy Monteggia,

phân loại theo Bado, loại I có 60,5%, loại II có 11,6%, loại III có 20,9và loại

IV có 7,0%.



67



Theo Ring D, Jupiter JB, Simpson NS, năm 1998. Trong 48 bệnh nhân

gãy Monteggia, phân loại theo Bado, có 7 loại I, 38 loại II, 1 loại III và 2 loại

IV.

Sự chênh lệch về tỷ lệ loại gãy giữa nghiên cứu của chúng tôi với các

tác giả khác có thể do, số lượng thống kê chưa đủ lớn, nguyên nhân cơ chế

gãy phần lớn là do tai nạn giao thông với cơ chế chấn thương trực tiếp.

4.1.4. Mức độ tổn thương xương trụ liên quan đến vị trí và số ổ gãy.

Qua nghiên cứu 37 bệnh nhân có 13 bệnh nhân có gãy mỏm khuỷu

chiếm 35,1%; trong đó 5 trường hợp xương trụ gãy phức tạp cả mỏm khuỷu

và thân xương trụ chiếm 13,5%. Có 3 trường hợp thân xương trụ gãy thành 3

đoạn chiếm 9,4%. Đây là những trương hợp tổn thương xương nặng do lực

chấn thương mạnh và trực tiếp gây nên, chiếm đến 58%trong tổng số gãy.

Theo tác giả Christoph Josten năm 2009 với các thương tổn này cần đặc

biệt quan tâm đến phục hồi lại giải phẫu đầu trên xương trụ là quan trong

nhất, cũng theo Josten thì nên sử dụng nẹp khóa đầu trên xương trụ để cố định

tốt, tập phục hồi chức năng sớm, hạn chế và cẩn trọng khi dùng đinh và dây

thép làm phương tiện kết xương.

4.1.5. Bên tay bị tổn thương

Trong 37 bệnh nhân thì tay phải gãy là 12/37 chiếm 32,4%, tay trái gãy

là 25/37 chiếm 67,6%. Như vây gãy tay bên trái nhiều hơn gấp 2 lần tay phải.

Gãy Monteggia thường gặp nhiều bên tay không thuận.

4.1.6. Biến chứng liệt thần kinh quay và loại gãy

Trong tổng số 37 bệnh nhân chúng tôi chỉ gặp biến chứng liệt thần kinh

quay, không gặp các biến chứng chèn ép khoang và tổn thương động mạch.

Có 12 trong tổng số 37 bệnh nhân có biến chứng liệt thần kinh quay

chiếm tỷ lệ 32,4%. Chủ yếu gặp ở gãy loại Bado III với 8 bệnh nhân, Bado I

có 2BN, Bado IV có 2 BN, khơng gặp ở Bado II. Biến chứng liệt thần kinh

quay gặp tương đối phổ biến, các trường hợp này đều tự phục hồi trong vòng

thời gian 3-6 tháng sau chấn thương.



68



Theo Boyd, H. B. và J. C. Boals (1969), trong 74 trường hợp gãy

Monteggia, có 5 liệt thần kinh quay đều thuộc gãy loại 2, tự phục hồi hoàn

toàn trong 6 tháng.

Theo Jessing năm 1975 báo cáo 14 trường hợp gãy Monteggia có 6 liệt

thần kinh quay đều thuộc gãy loại II, các trường hợp này đều tự phục hồi

trong vòng thời gian 3-6 tháng sau chấn thương.

Theo Nguyễn Văn Thái 2009 nghiên cứu phẫu thuât để điều trị gãy cũ

Monteggia, trong 13 năm có 98 bệnh nhân; trong đó có 8 trường hợp liệt thần

kinh quay: Bado I có 1 BN, Bado II có 6 BN, Bado III có 1 BN, các trường hợp

này đều tự phục hồi trong vòng thời gian 3-6 tháng sau chấn thương.

Các tác giả trên thế giới đều cho rằng biến chứng liệt thần kinh quay hay

gặp ở loại II. Liêt thần kinh quay trong gãy Monteggia là do căng giãn quá

mức hoặc chỏm quay trật đè vào. Do vậy mà không nên can thiệp vào thần

kinh quay trong vòng thời gian 6 tháng sau chấn thương.

4.1.7. Thời điểm phẫu thuật sau chấn thương

Thời gian trung bình từ khi bị chấn thương cho tới khi được phẫu thuật

là: 4,56 ngày.

Gãy kín Monteggia là gãy xương trật khớp; đây được là coi là cấp cứu

trong chấn thương, cần phải được xử trí sớm và kịp thời. Do vậy các bệnh

nhân này thường được mổ cấp cứu hoặc cấp cứu có trì hỗn, để hạn chế và

phòng các biến chứng.

Tuy nhiên do nhiều bệnh nhân bị đa chấn thương phối hợp mà việc phẫu

thuật bị chậm lại.

4.1.8. Phương pháp phẫu thuật

Trong tổng số 37 gãy Monteggia đã được phẫu thuật thì chủ yếu sử dụng

phương pháp mở ổ gãy xương trụ nắn chỉnh kết hợp xương. Sau đó nắn chỉnh

kín trật khớp quay trụ trên dưới màn hình xquang tăng sáng, chiếm 86,5%.



69



Dây là phương pháp phẫu thuật đơn giản và hiệu quả, thời gian phẫu

thuật ngắn. Theo Boehler thì 85% khớp quay trụ trên sẽ về vị trí giải phẫu sau

khi xương trụ được nắn chỉnh tốt. Reinhold Laun và các tác giả đây là phương

pháp có thể gọi là tiêu chuẩn vàng trong điều trị gãy Monteggia.

Chỉ mở khớp quay lồi cầu khi nắn chỉnh kín thất bại.

Khơng có trường hợp nào áp dụng Phương pháp phẫu thuật của Boyd và

Speed

4.1.9. Loại phương tiện kết xương được sử dụng và trị trí ổ gãy

Phương tiện kết xương là nẹp vít được dùng trong 26 trường hợp chiếm

tỷ lệ 70,3%. Đinh nội tủy và dây thép dung cho 11 trường hợp chiếm tỷ lệ

29,7%. Trong đó gãy thân xương trụ chủ yếu là dùng nẹp vít, còn gãy mỏm

khuỷu thì chủ yếu dùng đinh và dây thép.

Theo Trịnh Thiện Kế năm 2010, có 20 bệnh nhân gãy kín Monteggia; 5

trường hợp trong số này được kết hợp xương trụ bằng đinh và dây thép, 15

bênh nhân được kết hợp xương trụ bằng nẹp vít.

Theo Ring D và Jupiter JB năm 1998, có 48 bệnh nhân gãy Monteggia;

4 trường hợp trong số này được kết hợp xương trụ bằng đinh và dây thép, số

còn lại được kết hợp xương bằng nẹp vít.

Theo Boyd, H. B. và J. C. Boals (1969)[61], từ 1940-1968, có 97 bệnh

nhân gãy Monteggia: có 19 gãy mỏm khuỷu và 78 gãy thân xương trụ. Có 74

gãy mới; trong đó 54 trường hợp gãy kín Monteggia được phẫu thuật: Có 36

trường hợp dùng đinh, 18 trường hợp dùng nẹp vít cho tất cả các gãy thân

xương ( nẹp vít chỉ bắt đầu sử dụng từ năm 1961).

Đa số các tác giả đều thống nhất KHX trụ bằng nẹp vít ổ gãy được cố

định vững chắc và ổn định hơn đinh, nhưng nhược điểm là cộm vết mổ do

xương trụ nằm ngay dưới da. Nên gãy mỏm khuỷu đơn thuần vẫn dụng đinh

và dây thép để KHX, còn gãy xương trụ phức tạp từ mỏm khuỷu đến thân

xương thì nên dùng nẹp vít đặc chủng đầu trên xương trụ.



70



4.1.10. Thời gian nằm viện

Ngày điều trị trung bình của bệnh nhân là 7.03 ± 3,9 ngày. Gãy kín

Monteggia có thời gian nằm viện trung bình khơng dài là do được Phẫu thuật

sớm và ít nhiễm khuẩn vết mổ; trong 37 trường hợp đã được phẫu thuật

khơng có trường hợp nào bị nhiễm khuẩn.

4.1.11. Thời gian theo dõi sau ra viện

Trong tổng số 37 bệnh nhân chúng tơi có thời gian theo dõi trung bình

sau ra viện là: 31,11 tháng, ngắn nhất là 4 tháng dài nhất là 64 tháng.

Theo Jesse B. Jupiter và cs 1991, từ năm 1980-1988, có 13 bệnh nhân

gãy Monteggia Bado II, đã được phẫu thuật, có 11 trường hợp được theo dõi

trung bình 38,4 tháng.

Theo Ring D và Jupiter JB năm 1998, có 48 bệnh nhân gãy Monteggia

thời gian theo dõi trung bình là 6,5 năm, ngắn nhất là 2 năm, dài nhất là 40

năm.

Theo J. Korner và cs năm 2004, từ 1988-2001 có 68 bệnh nhân gãy

Monteggia. Trong số đó có 49 trường hợp được theo dõi, thời gian theo dõi

trung bình là 83 tháng (25-176 tháng).

Reinhold Laun và cộng sự năm 2015, có 10 bệnh nhân gãy Monteggia

được phẫu thuật từ 2012-2014, theo dõi trung bình 12,3 tháng.

Tuy số bệnh nhân gãy xương loại này là hiếm gặp nhưng cũng có một số

nghiên cứu theo dõi lâu dài để đánh giá đầy đủ hơn về kết quả xa của tổn

thương này.

4.2. Kết quả điều trị

4.2.1. Kết quả sớm sau phẫu thuật

Tất cả 37 bệnh nhân đều liền vết mổ thì đầu, do phẫu thuật có chuẩn bị,

vơ khuẩn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong tổng số 37 bệnh nhân:Tuổi trung bình là 34,59 tuổi, trẻ nhất là 18 tuổi, già nhất là 70 tuổi. Độ tuổi từ 18-60 là độ tuổi lao động gặp nhiều nhất 34 bệnh nhân chiếm 91,9%. Vì vậy việc điều trị tốt sẽ càng có ý nghĩa hết sức quan trọng là trả lại chứ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×