Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
B. Ảnh T1 FS tiêm thuốc mặt phẳng Sagital.

B. Ảnh T1 FS tiêm thuốc mặt phẳng Sagital.

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



4.4.3. Giá trị của CHTN trong đánh giá đặc điểm lan rộng ra xung quanh

và biến chứng tại ngực do UTP

Đánh giá đặc điểm làn tràn của u là tiêu chí quan trọng trong phân loại

giai đoan T (theo phân loại TNM) trong đánh giá UTP, nếu như kích thước

khối u < 3 cm, nhưng đã có những xâm lấn vào thành ngực hay trung thất,

mạch máu lớn thì lại có tiên lượng xấu hơn là khối u có kích thước > 3 cm.

[11]

Theo nghiên cứu của chúng tôi tại thời điểm đánh giá tỷ lệ bệnh nhân

đã có sự lan rộng của khối u ra phần mềm xung quanh khá cao với 70,2%,

trong đó chủ yếu là xâm lấn vào màng phổi, và biến chứng tràn dịch khoang

màng phổi do u xâm lấn màng phổi cũng chiếm tỷ lệ cao với 25,5%, các biến

chứng khác như xẹp phổi do u, viêm phổi ít gặp. Ở đây cần lưu ý rằng mỗi

bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều hơn các dấu hiệu xâm lấn hay biến chứng

cùng xảy ra. Trong nghiên cứu tỷ lệ khối u xâm lấn phần mềm lân cận trên

CLVT là 59,6%.

Đối chiếu kết quả trên với một số tác giả trong nước đánh giá về mức

độ lan rộng của khối u nguyên phát, thực hiện dưới CLVT chúng tôi thấy kết

quả nghiên cứu của chúng tơi có tỷ lệ phát hiện tổn thương xâm lấn cao hơn.

Như Theo Trần Nguyên Phú (2005) tỷ lệ phát hiện xâm lấn là 62%. Theo Lê

Tiến Dũng (2000), các dấu hiệu xâm lấn của u trên CLVT lồng ngực thường

gặp nhất là tràn dịch màng phổi (19 %) và xâm lấn thành ngực (9 %) [35].

Như vậy ban đầu có thể nhận thấy CHTP có thể phát hiện tổn thương xâm lấn

được sớm hơn so với CLVT.



62



A



B



Hình: Bệnh nhân , Mã BN

A. Khối u thùy trên phổi phải, hạn chế đánh giá xâm lấn màng phổi trên CLVT

B. Khối u thùy trên và đã rõ xâm lấn màng phổi trên MRI có tiêm thuốc.



4.4.4. Giá trị của CHT trong đánh giá giai đoạn T, và đặc điểm di căn hạch

có đối chiếu với PET – CT



 Đánh giá kích thước khối U

Kích thước khối kích thước trung bình khối u trên CHTP là 49,3 ±

22,15mm, trên FDG-PET-CT là 48,3 ± 24,5 mm, ghi nhận khối nhỏ nhất trên

CHTP là 14 mm, trên FDG-PET-CT là 13 mm, khối lớn nhất trên CHTP là 93

mm, trên FDG-PET-CT là 107 mm, trên cả hai phương pháp phân nhóm u có

kích thước > 2 cm chiếm chủ yếu 76%. Kết quả kiểm định cho thấy khơng có

sự khác biệt về kích thước khối u khi đo bằng hai phương pháp CHTP và

FDG-PET-CT (Wilcoxon test, N = 21, P > 0.05).

Theo nghiên cứu của Mai Trọng Khoa và CS (2010) nghiên cứu giá trị của

FDG-PET-CT trong chẩn đốn UTP khơng tế bào nhỏ trên 33 BN có kết quả

mơ bệnh học thu được kết quả kích thước khối u ngun phát ở nhóm > 2 cm

chiếm 25 trên tổng số 30 BN có khối u nguyên phát, tương đương 83 %[40].

Kết quả này cho thấy nghiên cứu của chúng tơi hồn tồn phù hợp. CHTTT

có thể đánh giá khối UTP có kích thước nhỏ nhất 14 mm. Có thể đánh giá

kích thước khối u tốt như FDG-PET-CT.



63



 Đánh giá T

Trong mục kết quả nhận thấy tỷ lệ xếp loại giai đoạn T2 và T1 của

CHT và PET- CT cho kết quả tương đương chiếm 47,6%, sau đó tới T1 19%,

có sự khác biệt đáng kể trong đánh giá tỷ lệ giai đoạn T3 và T4, tuy nhiên kết

quả kiểm định cho thấy trong đánh giá giai đoạn T ở cả hai phương pháp là ở

mức độ phù hợp (chỉ số Kappa = 0,601, với p < 0,05). Điều này có nghĩa

trong phân loại giai đoạn dựa vào kích thước khối và sự xâm lấn của khối ra

xung quanh khi thăm khám bằng CHTP và FDG-PET-CT là tương đương.

Theo một nghiên cứu mới được đăng tải của tác giả Gdeedo, P và CS

(2011), nghiên cứu phân loại giai đoạn TNM trên 74 BN UTP không tế bào

nhỏ, có kết quả mơ bệnh học sau phẫu thuật (pTNM) là T2 46/74 khoảng 62

%, đứng thứ 2 là giai đoạn T1 17/74 tương đương 23 % [35]. So với nghiên

cứu của chúng tơi thì hồn tồn phù hợp về tỷ lệ phân độ giai đoạn T của BN

UTP với T2 chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là T1.

Theo một nghiên cứu khác về đánh giá giai đoạn của BN ung thư (bao

gồm có nhiều tổn thương ung thư khác nhau và có mơ bệnh học) so sánh giữa

CHTP và FDG-PET-CT trong phân loại giai đoạn TNM nhận thấy kết quả

phân chia giai đoạn T giữa hai phương pháp là hồn tồn tương đương và

khơng có sự khác biệt với mô bệnh học (p < 0.05).

Ảnh 29:



 Đánh giá hạch.

Sự di căn của mọi tổn thương ác tính nói chung và của UTP nói riêng

hấu như bao giờ cũng bắt đấu sớm nhất là di căn tới hạch. Đánh giá N trong

phân loại giai đoạn ung thư chính là đánh giá về tình trạng hạch, trong đó

quan trọng nhất là vùng hạch di căn, kích thước hạch, số lượng hạch di căn.

FDG-PET-CT đánh giá chuyển hóa của tổ chức u, khơng phụ thuộc hồn tồn

vào kích thước hay vùng hạch di căn trong khi CHTP lại đánh giá mức độ



64



giảm khuếch tán của tổ chức u trên xung khuếch tán, tính chất ngấm thuốc

trên xung tiêm thuốc, nên cũng khơng phụ thuộc hồn tồn vào kích thước và

vùng hạch di căn. Vì vậy với cả hai phương pháp đều có nhiều hứa hẹn trong

đánh giá hạch di căn với độ nhạy và độ đặc hiệu cao.

Trên 21 BN đánh giả bằng cả hai phương pháp chúng tôi thu được kết

quả CHTP phát hiện có 52,3 % BN có di căn vào hạch, FDG-PET-CT phát

hiện có 61,9 % có di căn hạch, tuy có sự khác biệt về tỷ lệ di căn hạch trong 2

phương pháp nhưng sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p>0.05.

Theo tác giả Plathow, C và CS nghiên cứu 52 BN UTP khơng tế bào

nhỏ nhận thấy trong chẩn đốn giai đoạn theo N thì FDG-PET-CT chẩn

đốn chính xác 51/52 BN, độ nhạy 96.1 %, độ đặc hiệu 100 %, CHTP với

độ nhạy 88.5 % và độ đặc hiệu 96.1 % đây là một kết quả cao của cả hai

phương pháp [53].

Theo Antoch, G và CS nghiên cứu về phân loại giai đoạn ở BN ung

thư, với nhiều loại tổn thương ung thư khác nhau trên 98 BN thì nhận thấy

trong phân loại giai đoạn N cả hai phương pháp FDG-PET-CT và CHTP : độ

nhạy 95% và 79%; độ đặc hiệu 92% và 78%; giá trị dự báo dương tính 88 %

và 70%; giá trị dự báo âm tính 96% và 85%; độ chính xác 93% và 79% [32]

có thể thấy đối chiếu với FDG-PET-CT thì CHTTT cũng có kết quả gần như

tương đương trong nghiên cứu này.

Do số lượng BN còn hạn chế và điều kiện theo dõi đánh giá mơ bệnh

học còn thiếu nên chưa cho phép nghiên cứu đánh giá độ đặc hiệu và độ chính

xác của hai phương pháp. Tuy nhiên cũng cho thấy kết quả chẩn đoán hạch di

căn của CHTP so với FDG-PET-CT là khá tương đồng.



KẾT LUẬN

1. Đặc điểm hình ảnh của UTP và đặc điểm di căn của UTP trên CHTN

1.. 1 Đặc điểm hình ảnh của UTP trên CHTN

 Vị trí khối u: thùy trên hai phổi gặp tỷ lệ cao 70,1%, u vùng ngoại vi là

chủ yếu với tỷ lệ 63,9%.

 Kích thước khối U: Kích thước trung bình khối u 49,3 ± 22,15mm, khối có

kích thước > 3 gặp tỷ lệ cao 78,2 %.

 Cấu trúc và bờ khối: 91,4 % là khối bờ không đều dạng tua gai hay thùy

múi, 80,8 % là khối đặc và cấu trúc đồng nhất.

 Ngấm thuốc đối quang từ: 70,2% khối ngấm thuốc sớm, tăng dần và thải

thuốc nhanh. 21,2 % ngấm thuốc sớm, tăng dần và giữ thuốc. 8,4% khối

ngấm thuốc chậm.

 Giảm khuếch tán: mức độ giảm khuếch tán trung bình của UTP 4.1 ± 0.65

điểm. Khối giảm khuếch tán ở mức 4 – 5 điểm là chủ yếu 76,6 %.

 Xâm lấn : 71,2 % UTP tại thời điểm quan sát có xâm lấn trung thất, thành

ngực màng phổi

 Biến chứng tại phổi: biến chứng hay gặp là tràn dịch màng phổi (25,5%),

xẹp và viêm phổi (19,1%).

1.2. Đặc điểm về sự phân bố di căn của UTP trên CHTN

 Di căn hạch: 55,3% số bệnh nhân có di căn hạch trung thất, vị trí hạch hay

gặp là nhóm IV với tỷ lệ %, số lượng > 3 hạch.

2. Giá trị của CHTP trong chẩn đoán UTP.

 Giá trị chẩn đoán dương tính trong chẩn đốn xác định UTP là 95,9%, giá

trị chẩn đốn âm tính là 100%.



 Có khả năng đánh giá u trong vùng phổi xẹp và sự lan rộng phần mềm của

u tốt hơn CLVT, tỷ lệ xâm lân phần mềm trên CHTN là 70,2%, CVLT là

59,6%.

 Kích thước khối u: có sự đánh giá như nhau về kích thước khối u giữa

CHTN và PET - CT, kết quả kiểm định trung vị kích thước khối khơng có

sự khác biệt (test Wilcoxon N = 20, P > 0.05).

 Đánh giá giai đoạn theo T: CHTN có sự đánh giá giai đoạn UTP theo T là

tương đương PET - CT (chỉ số Kappa = 0,601, P < 0,05). Đánh giá giai

đoạn theo T trên CHTP là đặc biệt hữu ích.

 Đánh giá di căn hạch trung thất: Hai phương pháp có đánh giá khá tương

đồng (chỉ số Kappa = 0,516, P < 0,05)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

B. Ảnh T1 FS tiêm thuốc mặt phẳng Sagital.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×