Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Đặc điểm khối UTP nguyên phát và đặc điểm di căn của UTP trên CHTP

2 Đặc điểm khối UTP nguyên phát và đặc điểm di căn của UTP trên CHTP

Tải bản đầy đủ - 0trang

54



B



A



C

Hình: Khối u trung tâm có di căn nốt cùng bên và hạch rốn phổi

A. Khối u ngấm thuốc trên T1FS có tiêm

B. C. Khối hạch rốn phổi trên T1FS mặt phẳng Axial và Coronal

4.2.2 Kích thước khối

Kích thước khối u là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá

về phân loại khối u và tiên lượng BN UTP. Trong hệ thống phân loại TNM thì

việc dựa vào tiêu chí kích thước khối U để phân loại giai đoạn theo T rất quan

trọng. Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy kích thước trung bình khối

u trong nhóm nghiên cứu là 49,3 ± 22,15 mm, khối có kích thước nhỏ nhất 11



55



mm, khối có kích thước lớn nhất 93 mm, tổn thương u có kích thước > 3 cm

chiếm 78,2 %. Theo một số tác giả trong nước nghiên cứu về UTP với hình

ảnh CLVT. Tác giả Bùi Thương Thương (2002) nghiên cứu trên 107 BN thấy

u > 3 cm chiếm 83,2 %[46]. Tác giả Nguyễn Quang Đợi (2008) ghi nhận tỷ lệ

u > 3 cm chiếm 69,4 % [48]. Như vậy so sự tương đồng khi khối tỷ lệ nhóm

khối u > 3cm chiếm tỷ lệ cao nhất.

Theo một số tac giả nước ngoài đã báo cáo: Yang F. và CS (2010)

nghiên cứu trên 917 BN tại Trung Quốc nhận thấy có 57,2 % trường hợp có u

> 3 cm [49]. Theo Satoh và CS (2008) nghiên cứu chụp CHT đánh giá BN có

khối ở phổi nhận thấy các tổn thương UTP có kích thước trung bình 43,4 ±

25,1 [42]. Như vậy có sự phù hợp trong đánh giá kích thước khối UTP

nguyên phát trên CHT với các tác giả nước ngoài.

Ảnh 25:



4.2.3 Đặc điểm bờ khối, cấu trúc khối

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhân có tới 91,4 % tổn thương UTP

nguyên phát có bờ khối phát triển không đều, bao gồm cả dạng thùy múi và

tua gai, chỉ có 4 trường hợp là bờ đều và tương đối đều. Về đặc điểm cấu trúc

u theo phân tích của chúng tơi cho thấy phần lớn các khối tổn thương có tín

hiệu tổ chức đặc và đồng nhất, có 15 % trường hợp tín hiệu khối khơng đồng

nhất do có tổn thương hang nhỏ hay hang hóa tồn bộ khối tổn thương. Ghi

nhận có tỷ lệ nhỏ 4,2 % trường hợp khối đặc kèm theo có vơi hóa trong khối.

Theo nghiên cứu Yi và CS [21] về giá trị của CHT trong đánh giá tổn

thương phổi ác tính nguyên phát trên 127 BN đối chiếu với CLVT thì kết quả

là 97 % (109 / 112) có bờ khối khơng đều dạng thùy múi hay tua gai. Về đặc



56



điểm cấu trúc u cũng theo tác giả Yi và CS có 17 % khối tổn thương có hang,

như vậy có sự phù hợp về những đặc điểm này trong nghiên cứu của chúng

tôi và nghiên cứu của Yi và CS.

4.2.4 Đặc điểm ngấm thuốc đối quang từ

Đặc điểm ngấm thuốc của khối u là một trong những tiêu trí khi đánh

giá khối u, điều này có nghĩa đánh giá tính chất tăng sinh mạch vào khối, thể

hiện sự ác tính, sự phát triển mạnh mẽ của khối u. Đối với CHT tiêm thuốc

đối quang từ không chỉ cho phép đánh giá tính chất ngấm thuốc đều hay

khơng đều như CLVT mà còn cho phép đánh giá động học ngấm thuốc của

khối u, qua đó có thể đánh giá và phân loại tổn thương u liên quan tới mô

bệnh học của tổn thương u.[27]

Trong nghiên cứu chúng tôi 70,2 % khối u có tính chất ngấm thuốc

sớm nhanh và thải thuốc nhanh, 10 trường hợp chiếm 21,2 % ngấm thuốc sớm

tăng dần và giữ thuốc lâu hơn, 4 trường hợp chiếm 8,6 % ghi nhận là ngấm

thuốc chậm, đây là những tổn thương có vơi hóa trong khối và có hang lớn,

được khảng định UTP với mơ bệnh học. Theo một số tác giả nghiên cứu CHT

đánh giá tổn thương phổi cùng với tiêm thuốc động học cắt theo ba hướng

(3D) như tác giả Donmez, F. Y và CS (2007) nghiên cứu các tổn thương nốt

đặc ở phổi tiêm thuốc đối quang từ cắt 3D cho kết quả các tổn thương ác tính

ở phổi ngấm thuốc sớm, nhanh và thải thuốc nhanh với độ nhạy 95 % [27].

Theo Kiminori Fujimoto (2008) trong nghiên cứu về hữu dụng của ảnh cộng

hưởng từ có tiêm thuốc đối với các tổn thương đặc ở phổi cũng có kết luận

tương tự về tính chất ngấm thuốc đối quang từ của UTP. Như vậy kết quả của

chúng tôi cũng khá tương đồng với các kết quả của tác giả trên thế giới về

tính chất ngấm thuốc của khối UTP. Điều này cũng khá phù hợp với cấu trúc

của những khối ung thư có tính chất tăng sinh các nhánh mạch tân tạo, các



57



nhánh mạch này thường mất cấu trúc mao mạch bình thường nên ngấm thuốc

rất nhanh tuy nhiên khơng có khả năng giữ thuốc do đó thải thuốc nhanh.

4.2.5 Đặc điểm giảm khuếch tán của khối UTP

Mô tả đặc điểm giảm khuếch tán là tiêu chí đánh giá cơ bản nhất trong

chụp CHTTT với chuỗi xung khuếch tán (Diffusion), qua đó đánh giá tổn

thương ở mức độ nào của sự giảm khuếch tán. Điều này liên quan tới mô

bệnh học của tổn thương, theo giả thuyết về mức độ tăng sinh tế bào của tổn

thương ác tính tỷ lệ thuận với độ ác tính hóa của khối u và cũng tỷ lệ nghịch

với giảm khoảng kẽ mô học của tổ chức tổn thương - điều kiện tiên quyết của

sự giảm khuếch tán khối u. [50,51]



Ảnh 26:

Kết quả của chúng tôi cho thấy mức độ giảm khuếch tán trung bình của

tổn thương phổi ác tính nguyên phát là 4.1 ± 0.65 (điểm), phân nhóm điểm

giảm khuếch tán 4 và 5 là gặp lớn nhất chiếm 76,6 %. Khơng có tổn thương

ác tính nào có mức giảm khuếch tán 1 và và chỉ có 1 bệnh nhân có mức độ

giảm khuêchs tán là 2 điểm được ghi nhận.

Việc định lượng mức độ giảm khuếch tán dựa vào dịch não tủy ống

sống cho phép đánh giá và so sánh tương đối mức độ ác tính của khối u liên

quan tới giảm khuếch tán, cũng với phương pháp lượng hóa tương tự, nghiên

cứu của tác giả Satoh và CS (2007) [42] cho kết quả về mức độ giảm khuếch

tán trung bình của các tổn thương ác tính phổi là 4,03 ± 1,16, điều này hồn

tồn phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi. Tác giả cũng chỉ ra trong nghiên



58



cứu rằng các tổn thương lành tính của phổi có mức độ giảm khuếch tán

khoảng 2,50 ± 1,47.

Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng nhận thấy nhóm kích

thước khối u khơng có sự tỷ lệ thuận với mức độ giảm khuếch tán, kết quả

kiểm định cho thấy sự khác biệt về mức độ giảm khuếch tán giữa các nhóm

kích thước là khơng có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Điều này phù hợp với giả

thuyết cho rằng bản chất của sự giảm khuếch tán – mức độ tăng tín hiệu trên

xung khuếch tán phụ thuộc vào sự giảm khoảng kẽ mô, liên quan tới tăng mật

độ tế bào do sự tăng sinh không kiểm sốt của tế bào ác tính, khơng phụ thuộc

vào thể tích khối, kích cỡ khối u.[52]

4.3 Đặc điểm tổn thương di căn

4.3.1 Đặc điểm di căn hạch

Mô tả đặc điểm hình ảnh di căn hạch trong ung thư phổi giúp xác định

phân loại N trong hệ thống phân loại TNM. Di căn hạch là biểu hiện sớm nhất

và thường xuyên nhất của các loại ung thư nói chung và UTP nói riêng. Dựa

vào bản đồ hạch vùng do hội nghiên cứu ung thư phổi quốc tế đã xây dựng

bản đồ hạch vùng cho UTP. Bản đồ hạch vùng bao gồm các nhóm hạch trong

phổi, hạch quanh phế quản, hạch rốn phổi, hạch dưới carina, hạch trong trung

thất (hạch quanh khí quản và hạch quanh động mạch chủ), hạch vùng thượng

đòn. Tiêu chuẩn thường được áp dụng nhất để xác định hạch vùng trên những

BN có u phổi là xuất hiện những hạch có đường kính ≥ 1 cm tại các vị trí

được mơ tả trên bản đồ hạch vùng [38]. Kết quả của chúng tơi tại thời điểm

nghiên cứu có tới 26/47 BN có di căn hạch chiếm tỷ lệ 55,3 %. Trong đó chủ

yếu gặp hạch di căn nhóm IV với tỷ lệ 61,55. Theo Ngô Quang Định (2011)

khi nghiên cứu trên 46 bệnh nhân, tỷ lệ di căn hạch là 55,3% [53]. Theo Cung

Văn Cơng (2015) thì nhóm hạch hay gặp trong di căn hạch trung thất thường

là nhóm IV và nhóm II với tỷ lệ lần lượt là 70% và 45% [47]. Như vậy có thể



59



nhận thấy kết quả về đánh giá hạch di căn trong nghiên cứu chúng tôi cũng

khá tương đồng với các tác giả trên.

Về số lượng hạch di căn theo kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho

thấy chủ yếu bệnh nhân có di căn hạch từ trên 3 hạch với tỷ lệ 64%. Theo

nghiên cứu của Ohno, Y.Koyama, H và CS [53], đã có tổng cộng 712 hạch

được tìm thấy trên 150 BN, trong đó có 105 hạch có bằng chứng là hạch ác

tính từ 71 BN di căn hạch, điều này cũng cho thấy sự phù hợp về nhận định số

lượng hạch di căn là nhiều ở mỗi BN di căn hạch.

4.4. Giá trị của CHT ngực trong chẩn đoán ung thư phổi có đối chiếu với

CT, PET - CT và giải phẫu bệnh

4.4.1. Giá trị của CHT ngực trong chẩn đốn xác đinh UTP có đối chiếu

với GPB

Trong nghiên cứu chúng tơi cho thấy giá trị chẩn đốn dương tính trong

chẩn đoán xác định ung thư phổi rất cao 95,9%, cao hơn so với CLVT với giá

trị chẩn đoán dương tính là 90%. Theo Antoch, G và CS nghiên cứu về phân

loại giai đoạn ở BN ung thư, với nhiều loại tổn thương ung thư khác nhau trên

98 BN thì nhận thấy độ cả hai phương pháp CHT ngực có giá trị chẩn đốn

dương tính trong chẩn đốn xác định ung thư phổi là 79%. Nhận thấy độ nhạy

trong nghiên cứu chúng tôi cao hơn so với tác giác Antoch G, có thể do trong

những bệnh nhân nghiên cứu là nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao bởi có thể đã

được chụp CLVT trước và chẩn đoán sơ bộ là ung thư phổi.

4.4.2. Giá trị của CHT trong đánh giá u trong vùng phổi xẹp

Trong số 47 bệnh nhân được chẩn đốn xác định ung thư phổi trên CHT

có 5 bệnh nhân có xẹp phổi do u, tuy nhiên 5 bệnh nhân này đã được chụp

CLVT từ trước và trên phim CLVT khó đánh giá u trong vùng phổi xẹp nên

phải chụp CHTP để đánh giá vị trí khối u để có thể nhận định khối u một cách

rõ ràng, và cả 5 bệnh nhân này trên CHT phổi với chuỗi xung T2 máu đen và

xung T1 tiêm thuốc có thể nhận thấy khối u trong vùng phổi xẹp, thường trên

ảnh T2 khối u thường có tín hiệu giảm hơn so với vùng phổi xẹp, trên ảnh T1



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Đặc điểm khối UTP nguyên phát và đặc điểm di căn của UTP trên CHTP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×