Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong nghiên cứu chúng tôi cho thấy giá trị chẩn đoán dương tính trong chẩn đoán xác định ung thư phổi rất cao 95,9%, cao hơn so với CLVT với giá trị chẩn đoán dương tính là 90%. Theo Antoch, G và CS nghiên cứu về phân loại giai đoạn

Trong nghiên cứu chúng tôi cho thấy giá trị chẩn đoán dương tính trong chẩn đoán xác định ung thư phổi rất cao 95,9%, cao hơn so với CLVT với giá trị chẩn đoán dương tính là 90%. Theo Antoch, G và CS nghiên cứu về phân loại giai đoạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

60



có tiêm, khối u ngấm thuốc kém hơn. Theo tác giả Cung Văn Đông 2015

nghiên cứu trên 141 bệnh nhân u phổi trên CLVT, tỷ lệ xẹp phổi do u chiếm tỷ

lệ khá cao với 20% và trong số những bệnh nhân xẹp phổi do u, có tới 31,3%

khó phân biệt được u trong vùng phổi xẹp [47]. Như vậy chụp CHT có thể bổ

sung cho CLVT để đánh giá những trường hợp xẹp phổi không rõ khối trong

vùng phổi xẹp như vậy .



A



C



C



Hình: CHT bệnh nhân có u gây xẹp phổi, BN – Mã bệnh án

A. Ảnh T1 FS tiêm thuốc mặt phẳng axial

B. Ảnh T1 FS tiêm thuốc mặt phẳng Sagital.

C. Ảnh DWI



61



4.4.3. Giá trị của CHTN trong đánh giá đặc điểm lan rộng ra xung quanh

và biến chứng tại ngực do UTP

Đánh giá đặc điểm làn tràn của u là tiêu chí quan trọng trong phân loại

giai đoan T (theo phân loại TNM) trong đánh giá UTP, nếu như kích thước

khối u < 3 cm, nhưng đã có những xâm lấn vào thành ngực hay trung thất,

mạch máu lớn thì lại có tiên lượng xấu hơn là khối u có kích thước > 3 cm.

[11]

Theo nghiên cứu của chúng tôi tại thời điểm đánh giá tỷ lệ bệnh nhân

đã có sự lan rộng của khối u ra phần mềm xung quanh khá cao với 70,2%,

trong đó chủ yếu là xâm lấn vào màng phổi, và biến chứng tràn dịch khoang

màng phổi do u xâm lấn màng phổi cũng chiếm tỷ lệ cao với 25,5%, các biến

chứng khác như xẹp phổi do u, viêm phổi ít gặp. Ở đây cần lưu ý rằng mỗi

bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều hơn các dấu hiệu xâm lấn hay biến chứng

cùng xảy ra. Trong nghiên cứu tỷ lệ khối u xâm lấn phần mềm lân cận trên

CLVT là 59,6%.

Đối chiếu kết quả trên với một số tác giả trong nước đánh giá về mức

độ lan rộng của khối u nguyên phát, thực hiện dưới CLVT chúng tôi thấy kết

quả nghiên cứu của chúng tơi có tỷ lệ phát hiện tổn thương xâm lấn cao hơn.

Như Theo Trần Nguyên Phú (2005) tỷ lệ phát hiện xâm lấn là 62%. Theo Lê

Tiến Dũng (2000), các dấu hiệu xâm lấn của u trên CLVT lồng ngực thường

gặp nhất là tràn dịch màng phổi (19 %) và xâm lấn thành ngực (9 %) [35].

Như vậy ban đầu có thể nhận thấy CHTP có thể phát hiện tổn thương xâm lấn

được sớm hơn so với CLVT.



62



A



B



Hình: Bệnh nhân , Mã BN

A. Khối u thùy trên phổi phải, hạn chế đánh giá xâm lấn màng phổi trên CLVT

B. Khối u thùy trên và đã rõ xâm lấn màng phổi trên MRI có tiêm thuốc.



4.4.4. Giá trị của CHT trong đánh giá giai đoạn T, và đặc điểm di căn hạch

có đối chiếu với PET – CT



 Đánh giá kích thước khối U

Kích thước khối kích thước trung bình khối u trên CHTP là 49,3 ±

22,15mm, trên FDG-PET-CT là 48,3 ± 24,5 mm, ghi nhận khối nhỏ nhất trên

CHTP là 14 mm, trên FDG-PET-CT là 13 mm, khối lớn nhất trên CHTP là 93

mm, trên FDG-PET-CT là 107 mm, trên cả hai phương pháp phân nhóm u có

kích thước > 2 cm chiếm chủ yếu 76%. Kết quả kiểm định cho thấy khơng có

sự khác biệt về kích thước khối u khi đo bằng hai phương pháp CHTP và

FDG-PET-CT (Wilcoxon test, N = 21, P > 0.05).

Theo nghiên cứu của Mai Trọng Khoa và CS (2010) nghiên cứu giá trị của

FDG-PET-CT trong chẩn đốn UTP khơng tế bào nhỏ trên 33 BN có kết quả

mơ bệnh học thu được kết quả kích thước khối u nguyên phát ở nhóm > 2 cm

chiếm 25 trên tổng số 30 BN có khối u nguyên phát, tương đương 83 %[40].

Kết quả này cho thấy nghiên cứu của chúng tôi hồn tồn phù hợp. CHTTT

có thể đánh giá khối UTP có kích thước nhỏ nhất 14 mm. Có thể đánh giá

kích thước khối u tốt như FDG-PET-CT.



63



 Đánh giá T

Trong mục kết quả nhận thấy tỷ lệ xếp loại giai đoạn T2 và T1 của

CHT và PET- CT cho kết quả tương đương chiếm 47,6%, sau đó tới T1 19%,

có sự khác biệt đáng kể trong đánh giá tỷ lệ giai đoạn T3 và T4, tuy nhiên kết

quả kiểm định cho thấy trong đánh giá giai đoạn T ở cả hai phương pháp là ở

mức độ phù hợp (chỉ số Kappa = 0,601, với p < 0,05). Điều này có nghĩa

trong phân loại giai đoạn dựa vào kích thước khối và sự xâm lấn của khối ra

xung quanh khi thăm khám bằng CHTP và FDG-PET-CT là tương đương.

Theo một nghiên cứu mới được đăng tải của tác giả Gdeedo, P và CS

(2011), nghiên cứu phân loại giai đoạn TNM trên 74 BN UTP khơng tế bào

nhỏ, có kết quả mơ bệnh học sau phẫu thuật (pTNM) là T2 46/74 khoảng 62

%, đứng thứ 2 là giai đoạn T1 17/74 tương đương 23 % [35]. So với nghiên

cứu của chúng tôi thì hồn tồn phù hợp về tỷ lệ phân độ giai đoạn T của BN

UTP với T2 chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là T1.

Theo một nghiên cứu khác về đánh giá giai đoạn của BN ung thư (bao

gồm có nhiều tổn thương ung thư khác nhau và có mô bệnh học) so sánh giữa

CHTP và FDG-PET-CT trong phân loại giai đoạn TNM nhận thấy kết quả

phân chia giai đoạn T giữa hai phương pháp là hoàn toàn tương đương và

khơng có sự khác biệt với mơ bệnh học (p < 0.05).

Ảnh 29:



 Đánh giá hạch.

Sự di căn của mọi tổn thương ác tính nói chung và của UTP nói riêng

hấu như bao giờ cũng bắt đấu sớm nhất là di căn tới hạch. Đánh giá N trong

phân loại giai đoạn ung thư chính là đánh giá về tình trạng hạch, trong đó

quan trọng nhất là vùng hạch di căn, kích thước hạch, số lượng hạch di căn.

FDG-PET-CT đánh giá chuyển hóa của tổ chức u, khơng phụ thuộc hồn tồn

vào kích thước hay vùng hạch di căn trong khi CHTP lại đánh giá mức độ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong nghiên cứu chúng tôi cho thấy giá trị chẩn đoán dương tính trong chẩn đoán xác định ung thư phổi rất cao 95,9%, cao hơn so với CLVT với giá trị chẩn đoán dương tính là 90%. Theo Antoch, G và CS nghiên cứu về phân loại giai đoạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×