Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giá trị chẩn đoán âm tính (%)

Giá trị chẩn đoán âm tính (%)

Tải bản đầy đủ - 0trang

49



Kích thước trung

bình +/- độ lệch

(mm)

Min/Max (mm)



49,3 ± 22,15



48,3 ± 24,5



14/93



13/107



Kích thước > 2cm

(khối/ tỷ lệ %)

Kích thước ≤ 2cm

(khối/ tỷ lệ %)



16 (76)



16 (76)



5 (24)



5 (24)



p> 0,05



 Nhận xét :

o Trên cả hai phương pháp nhóm kích thước khối u > 2 cm là chủ

yếu chiếm 16/21 tương đương 76%.

o Kết quả kiểm định – so sánh hai kích thước trung bình khối UTP

của hai phương pháp trên 21 BN cho thấy khơng có sự khác biệt

về kích thước khối u trên CHTN và PET (test Wilcoxon N = 21,

P > 0.05).

3.6.3. Đánh giá UTP theo T đối chiếu giữa CHTN với FDG-PET-CT

Bảng 3.20. Đánh giá UTP theo T (trong hệ thống phân loại TNM)

T

Tx

T1

T2

T3

T4

Tổng



CHTN



FDG-PET-CT



Số



%



Số



%



1

4

10

1

5

21



4,8

19

47,6

4,8

23,8

100%



1

4

10

3

3

21



4,8

19

47,6

14,3

14,3

100%



 Nhận xét:

o Với cả hai phương pháp cho kết quả giai đoạn T2 chiếm tỷ lệ cao nhất

chiếm 47,6 %, có sự khác biệt đáng kể trong đánh giá tỷ lệ giai đoạn

T3 và T4

o Tuy nhiên kết quả kiểm định so sánh giữa hai phương pháp cho thấy

có sự phù hợp ở mức độ vừa phải trong đánh giá giai đoạn T giữa hai

phương pháp (Kappa test, K = 0,601, P < 0,05) (K = hệ số Kappa)



50



3.6.3. Đánh giá UTP theo N đối chiếu giữa CHTN với FDG-PET-CT

Bảng 3.21. Đánh giá N

CHTN



FDG-PET-CT



Đặc điểm



Sự khác biệt

(p)



Số

11

21



Hạch

Tổng



Tỷ lệ (%)

52,3

100



Số

13

21



Tỷ lệ (%)

61,9

100



> 0,05



 Nhận xét :

o



Cả hai phương pháp đều nhận định có tỷ lệ di căn hạch tại thời



điểm quan sát là cao (CHTN 54,1 %, PET 67,9 %). Tuy nhiên sự

chênh lệch không có ý nghĩa thơng kê giữa hai phương pháp CHT

ngực và FDG-PET-CT trong việc phát hiện hạch di căn trung thất.



51



Chương 4

BÀN LUẬN



4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm tuổi

Với 47 trường hợp tham gia nghiên cứu, độ tuổi từ 36 tới 79, độ tuổi

trung bình là 58 ± 10,5 tuổi. Trong đó nhóm tuổi từ 55 trở lên chiếm tỷ lệ cao

khoảng 74,6 %.

Theo nghiên cứu của một số tác giả trong nước như Trần Nguyên Phú (2005),

tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 58 ± 10 tuổi, BN trẻ nhất là 18 tuổi

và lớn tuổi nhất là 78 tuổi. Theo Mai trọng Khoa và CS nghiên cứu 2010, độ

tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 60 tuổi, tỷ lệ nhóm tuổi cao nhất là

55 – 60 tuổi khoảng 60% [40] . Theo Lê Tuấn Anh và Nguyễn Ngọc Bảo

Hoàng (2013), nghiên cứu trên 158 BN UTP thấy độ tuổi trung bình là 56

tuổi, tập trung nhiều ở nhóm 50 - 59 tuổi [41]. Như vậy nghiên cứu của chúng

tơi có độ tuổi trung bình cũng khá tương đương với các nghiên cứu của tác giả

trong nước đã khác.

Theo một số tác giả nước ngoài như Satoh và CS nghiên cứu 51 BN tổn

thương ác tính phổi phát hiện bằng cộng hưởng từ khuếch tán, độ tuổi trung

bình 65, nhóm tuổi 31 - 88 [42]. Theo Yoshiharu Ohno và CS (2008) nghiên

cứu trên 203 bệnh nhân, độ tuổi trung bình 72, trong khoảng 47 – 85 tuổi

[43]. Như vậy so với một số tác giả nước ngồi nghiên cứu của chúng tơi có

độ tuổi thấp hơn, điều này được giải thích do sự khác nhau về địa dư, chủng

tộc nên tuổi mắc bệnh và tuổi thọ trênh lệch cũng khác nhau, sự khác nhau

này là phù hợp.



52



4.1.2 Đặc điểm giới

Tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu của chúng tôi là 2,6/1, tỷ lệ này khá

tương đồng với một số nghiên cứu trong nước khác. Theo tác giả Trần

Nguyên Phú (2005), nam giới chiếm 71,1%, tỷ lệ nam/nữ là 2,5/1. Tuy nhiên,

có sự khác biệt với các tác giả nước ngoài về tỷ lệ nam/ nữ, theo Yoshiharu

Ohno và CS (2008) tỷ lệ này là 1,2/1 [43]. Theo thống kê của Hiệp hội ung

thư Hoa Kỳ, năm 2007, ước tính có khoảng 114.760 ca UTP mới phát hiện ở

nam giới và 98.620 ca UTP mới phát hiện ở nữ giới [1]. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ

UTP mới phát hiện ở nữ giới đã xấp xỉ nam giới.

4.1.4 Mô bệnh học

Trong nghiên cứu UTBM tuyến chiếm tỷ lệ cao nhất (65,9%), tiếp đến

là UTBM vảy (23,4 %). Các týp mô bệnh khác chiếm tỷ lệ rất thấp, đặc biệt là

K tế bào nhỏ hầu như không gặp với 1 trường hợp chiếm 2,1%. Kết quả của

chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả trong nước, các tác giả

đều ghi nhận UTBM tuyến là dạng ung thư phổ biến nhất. Theo Nguyễn

Vượng và CS (1998), tỷ lệ UTBM tuyến chiếm tỷ lệ cao nhất (37,3%), tiếp

đến là UTBM vảy (16,5%). Theo Ngô Quý Châu (1992), tỷ lệ UTBM tuyến là

40,8% và UTBM vảy là 38,2% . Tô Kiều Dung và CS (2001) đánh giá mô

bệnh học UTP sau phẫu thuật ghi nhận tỷ lệ UTBM tuyến là 28,8% và UTBM

vảy là 26% [6]. Tham khảo các nghiên cứu trên thế giới, chúng tôi cũng thấy

rằng đây là UTBM tuyến và UTBM vảy là 2 dạng tổn thương hay gặp nhất.

Yang P. và CS (2005) nghiên cứu trên 5628 BN UTP tại Mayo Clinic từ 1997

đến 2003 ghi nhận tỷ lệ UTBM tuyến chiếm 45,3 %, UTBM vảy là 23,7 %,

UTBM tế bào lớn là 2,8 % [44]. Funakoshi Y. và CS (2008) nghiên cứu trên

4556 BN UTP tại Nhật Bản cũng ghi nhận UTBM tuyến chiếm 52,7 %,

UTBM vảy chiếm 32,3 % [45].



53



Như vậy, dù có sự khác nhau về tỷ lệ các týp ung thư trong các nghiên

cứu tại các quốc gia khác nhau, nhưng tỷ lệ nhóm UTBM tuyến và UTBM

vảy là hai týp ung thư thường gặp nhất.

4.2 Đặc điểm khối UTP nguyên phát và đặc điểm di căn của UTP trên

CHTP

4.2.1 Vị trí khối UTP

Vị trí của khối nguyên phát khơng phải là tiêu chí để đánh giá giai đoạn

bệnh, tuy nhiên vị trí giải phẫu của khối u có vai trò quan trọng trong điều trị

phẫu thuật hay điều trị tia xạ.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ gặp u phổi phải lớn hơn u phổi

trái (51,4 %), trong đó u thùy trên hai phổi chiếm 70,1 %. Đối chiếu với một

số nghiên cứu trong nước về vị trí khối UTP ngun phát cho thấy có sự phù

hợp với các tác giả trong nước: u phổi phải gặp nhiều hơn u phổi trái, u thùy

trên gặp nhiều hơn các thùy khác. Theo Thân Trọng Hưng (2002), u phổi phải

gặp ở 60 % BN, u thùy trên gặp ở 53,3 % BN [16] . Theo Bùi Thương

Thương (2002), tỷ lệ u phổi phải là 57 %, u thùy trên là 59,9 % [46].

Trong nghiên cứu chúng tơi còn nhận thấy vị trí u gặp ở vùng ngoại vi

cao hơn vùng trung tâm với tỷ lệ tương ứng là 63,9% và 36,1%. Những khối u

ở vùng ngoại vi hay gặp UTBM tuyến (65%) hơn là UTBM vảy (27%) và

ngược lại UTBM vảy hay gặp ở vùng trung tâm (72%) hơn ngoại vi (28%).

Điều này cũng phù hợp với tác giả Cung Văn Công (2015) với tỷ lệ ung thư

biểu mô vảy gặp ở trung tâm (57,7%) nhiều hơn ở ngoại vi (42,3%) [47].

Ngược lại ung thư biểu mô tuyến gặp ở ngoại vi (55,9%) hơn ở trung tâm

(44%).



54



B



A



C

Hình: Khối u trung tâm có di căn nốt cùng bên và hạch rốn phổi

A. Khối u ngấm thuốc trên T1FS có tiêm

B. C. Khối hạch rốn phổi trên T1FS mặt phẳng Axial và Coronal

4.2.2 Kích thước khối

Kích thước khối u là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá

về phân loại khối u và tiên lượng BN UTP. Trong hệ thống phân loại TNM thì

việc dựa vào tiêu chí kích thước khối U để phân loại giai đoạn theo T rất quan

trọng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kích thước trung bình khối

u trong nhóm nghiên cứu là 49,3 ± 22,15 mm, khối có kích thước nhỏ nhất 11



55



mm, khối có kích thước lớn nhất 93 mm, tổn thương u có kích thước > 3 cm

chiếm 78,2 %. Theo một số tác giả trong nước nghiên cứu về UTP với hình

ảnh CLVT. Tác giả Bùi Thương Thương (2002) nghiên cứu trên 107 BN thấy

u > 3 cm chiếm 83,2 %[46]. Tác giả Nguyễn Quang Đợi (2008) ghi nhận tỷ lệ

u > 3 cm chiếm 69,4 % [48]. Như vậy so sự tương đồng khi khối tỷ lệ nhóm

khối u > 3cm chiếm tỷ lệ cao nhất.

Theo một số tac giả nước ngoài đã báo cáo: Yang F. và CS (2010)

nghiên cứu trên 917 BN tại Trung Quốc nhận thấy có 57,2 % trường hợp có u

> 3 cm [49]. Theo Satoh và CS (2008) nghiên cứu chụp CHT đánh giá BN có

khối ở phổi nhận thấy các tổn thương UTP có kích thước trung bình 43,4 ±

25,1 [42]. Như vậy có sự phù hợp trong đánh giá kích thước khối UTP

nguyên phát trên CHT với các tác giả nước ngoài.

Ảnh 25:



4.2.3 Đặc điểm bờ khối, cấu trúc khối

Trong nghiên cứu của chúng tơi ghi nhân có tới 91,4 % tổn thương UTP

nguyên phát có bờ khối phát triển không đều, bao gồm cả dạng thùy múi và

tua gai, chỉ có 4 trường hợp là bờ đều và tương đối đều. Về đặc điểm cấu trúc

u theo phân tích của chúng tơi cho thấy phần lớn các khối tổn thương có tín

hiệu tổ chức đặc và đồng nhất, có 15 % trường hợp tín hiệu khối khơng đồng

nhất do có tổn thương hang nhỏ hay hang hóa tồn bộ khối tổn thương. Ghi

nhận có tỷ lệ nhỏ 4,2 % trường hợp khối đặc kèm theo có vơi hóa trong khối.

Theo nghiên cứu Yi và CS [21] về giá trị của CHT trong đánh giá tổn

thương phổi ác tính nguyên phát trên 127 BN đối chiếu với CLVT thì kết quả

là 97 % (109 / 112) có bờ khối không đều dạng thùy múi hay tua gai. Về đặc



56



điểm cấu trúc u cũng theo tác giả Yi và CS có 17 % khối tổn thương có hang,

như vậy có sự phù hợp về những đặc điểm này trong nghiên cứu của chúng

tôi và nghiên cứu của Yi và CS.

4.2.4 Đặc điểm ngấm thuốc đối quang từ

Đặc điểm ngấm thuốc của khối u là một trong những tiêu trí khi đánh

giá khối u, điều này có nghĩa đánh giá tính chất tăng sinh mạch vào khối, thể

hiện sự ác tính, sự phát triển mạnh mẽ của khối u. Đối với CHT tiêm thuốc

đối quang từ không chỉ cho phép đánh giá tính chất ngấm thuốc đều hay

khơng đều như CLVT mà còn cho phép đánh giá động học ngấm thuốc của

khối u, qua đó có thể đánh giá và phân loại tổn thương u liên quan tới mô

bệnh học của tổn thương u.[27]

Trong nghiên cứu chúng tôi 70,2 % khối u có tính chất ngấm thuốc

sớm nhanh và thải thuốc nhanh, 10 trường hợp chiếm 21,2 % ngấm thuốc sớm

tăng dần và giữ thuốc lâu hơn, 4 trường hợp chiếm 8,6 % ghi nhận là ngấm

thuốc chậm, đây là những tổn thương có vơi hóa trong khối và có hang lớn,

được khảng định UTP với mô bệnh học. Theo một số tác giả nghiên cứu CHT

đánh giá tổn thương phổi cùng với tiêm thuốc động học cắt theo ba hướng

(3D) như tác giả Donmez, F. Y và CS (2007) nghiên cứu các tổn thương nốt

đặc ở phổi tiêm thuốc đối quang từ cắt 3D cho kết quả các tổn thương ác tính

ở phổi ngấm thuốc sớm, nhanh và thải thuốc nhanh với độ nhạy 95 % [27].

Theo Kiminori Fujimoto (2008) trong nghiên cứu về hữu dụng của ảnh cộng

hưởng từ có tiêm thuốc đối với các tổn thương đặc ở phổi cũng có kết luận

tương tự về tính chất ngấm thuốc đối quang từ của UTP. Như vậy kết quả của

chúng tôi cũng khá tương đồng với các kết quả của tác giả trên thế giới về

tính chất ngấm thuốc của khối UTP. Điều này cũng khá phù hợp với cấu trúc

của những khối ung thư có tính chất tăng sinh các nhánh mạch tân tạo, các



57



nhánh mạch này thường mất cấu trúc mao mạch bình thường nên ngấm thuốc

rất nhanh tuy nhiên khơng có khả năng giữ thuốc do đó thải thuốc nhanh.

4.2.5 Đặc điểm giảm khuếch tán của khối UTP

Mô tả đặc điểm giảm khuếch tán là tiêu chí đánh giá cơ bản nhất trong

chụp CHTTT với chuỗi xung khuếch tán (Diffusion), qua đó đánh giá tổn

thương ở mức độ nào của sự giảm khuếch tán. Điều này liên quan tới mô

bệnh học của tổn thương, theo giả thuyết về mức độ tăng sinh tế bào của tổn

thương ác tính tỷ lệ thuận với độ ác tính hóa của khối u và cũng tỷ lệ nghịch

với giảm khoảng kẽ mô học của tổ chức tổn thương - điều kiện tiên quyết của

sự giảm khuếch tán khối u. [50,51]



Ảnh 26:

Kết quả của chúng tôi cho thấy mức độ giảm khuếch tán trung bình của

tổn thương phổi ác tính nguyên phát là 4.1 ± 0.65 (điểm), phân nhóm điểm

giảm khuếch tán 4 và 5 là gặp lớn nhất chiếm 76,6 %. Khơng có tổn thương

ác tính nào có mức giảm khuếch tán 1 và và chỉ có 1 bệnh nhân có mức độ

giảm khuêchs tán là 2 điểm được ghi nhận.

Việc định lượng mức độ giảm khuếch tán dựa vào dịch não tủy ống

sống cho phép đánh giá và so sánh tương đối mức độ ác tính của khối u liên

quan tới giảm khuếch tán, cũng với phương pháp lượng hóa tương tự, nghiên

cứu của tác giả Satoh và CS (2007) [42] cho kết quả về mức độ giảm khuếch

tán trung bình của các tổn thương ác tính phổi là 4,03 ± 1,16, điều này hoàn

toàn phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi. Tác giả cũng chỉ ra trong nghiên



58



cứu rằng các tổn thương lành tính của phổi có mức độ giảm khuếch tán

khoảng 2,50 ± 1,47.

Trong kết quả nghiên cứu của chúng tơi cũng nhận thấy nhóm kích

thước khối u khơng có sự tỷ lệ thuận với mức độ giảm khuếch tán, kết quả

kiểm định cho thấy sự khác biệt về mức độ giảm khuếch tán giữa các nhóm

kích thước là khơng có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Điều này phù hợp với giả

thuyết cho rằng bản chất của sự giảm khuếch tán – mức độ tăng tín hiệu trên

xung khuếch tán phụ thuộc vào sự giảm khoảng kẽ mô, liên quan tới tăng mật

độ tế bào do sự tăng sinh khơng kiểm sốt của tế bào ác tính, khơng phụ thuộc

vào thể tích khối, kích cỡ khối u.[52]

4.3 Đặc điểm tổn thương di căn

4.3.1 Đặc điểm di căn hạch

Mơ tả đặc điểm hình ảnh di căn hạch trong ung thư phổi giúp xác định

phân loại N trong hệ thống phân loại TNM. Di căn hạch là biểu hiện sớm nhất

và thường xuyên nhất của các loại ung thư nói chung và UTP nói riêng. Dựa

vào bản đồ hạch vùng do hội nghiên cứu ung thư phổi quốc tế đã xây dựng

bản đồ hạch vùng cho UTP. Bản đồ hạch vùng bao gồm các nhóm hạch trong

phổi, hạch quanh phế quản, hạch rốn phổi, hạch dưới carina, hạch trong trung

thất (hạch quanh khí quản và hạch quanh động mạch chủ), hạch vùng thượng

đòn. Tiêu chuẩn thường được áp dụng nhất để xác định hạch vùng trên những

BN có u phổi là xuất hiện những hạch có đường kính ≥ 1 cm tại các vị trí

được mô tả trên bản đồ hạch vùng [38]. Kết quả của chúng tơi tại thời điểm

nghiên cứu có tới 26/47 BN có di căn hạch chiếm tỷ lệ 55,3 %. Trong đó chủ

yếu gặp hạch di căn nhóm IV với tỷ lệ 61,55. Theo Ngô Quang Định (2011)

khi nghiên cứu trên 46 bệnh nhân, tỷ lệ di căn hạch là 55,3% [53]. Theo Cung

Văn Cơng (2015) thì nhóm hạch hay gặp trong di căn hạch trung thất thường

là nhóm IV và nhóm II với tỷ lệ lần lượt là 70% và 45% [47]. Như vậy có thể



59



nhận thấy kết quả về đánh giá hạch di căn trong nghiên cứu chúng tôi cũng

khá tương đồng với các tác giả trên.

Về số lượng hạch di căn theo kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho

thấy chủ yếu bệnh nhân có di căn hạch từ trên 3 hạch với tỷ lệ 64%. Theo

nghiên cứu của Ohno, Y.Koyama, H và CS [53], đã có tổng cộng 712 hạch

được tìm thấy trên 150 BN, trong đó có 105 hạch có bằng chứng là hạch ác

tính từ 71 BN di căn hạch, điều này cũng cho thấy sự phù hợp về nhận định số

lượng hạch di căn là nhiều ở mỗi BN di căn hạch.

4.4. Giá trị của CHT ngực trong chẩn đoán ung thư phổi có đối chiếu với

CT, PET - CT và giải phẫu bệnh

4.4.1. Giá trị của CHT ngực trong chẩn đoán xác đinh UTP có đối chiếu

với GPB

Trong nghiên cứu chúng tơi cho thấy giá trị chẩn đốn dương tính trong

chẩn đốn xác định ung thư phổi rất cao 95,9%, cao hơn so với CLVT với giá

trị chẩn đốn dương tính là 90%. Theo Antoch, G và CS nghiên cứu về phân

loại giai đoạn ở BN ung thư, với nhiều loại tổn thương ung thư khác nhau trên

98 BN thì nhận thấy độ cả hai phương pháp CHT ngực có giá trị chẩn đốn

dương tính trong chẩn đốn xác định ung thư phổi là 79%. Nhận thấy độ nhạy

trong nghiên cứu chúng tơi cao hơn so với tác giác Antoch G, có thể do trong

những bệnh nhân nghiên cứu là nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao bởi có thể đã

được chụp CLVT trước và chẩn đoán sơ bộ là ung thư phổi.

4.4.2. Giá trị của CHT trong đánh giá u trong vùng phổi xẹp

Trong số 47 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư phổi trên CHT

có 5 bệnh nhân có xẹp phổi do u, tuy nhiên 5 bệnh nhân này đã được chụp

CLVT từ trước và trên phim CLVT khó đánh giá u trong vùng phổi xẹp nên

phải chụp CHTP để đánh giá vị trí khối u để có thể nhận định khối u một cách

rõ ràng, và cả 5 bệnh nhân này trên CHT phổi với chuỗi xung T2 máu đen và

xung T1 tiêm thuốc có thể nhận thấy khối u trong vùng phổi xẹp, thường trên

ảnh T2 khối u thường có tín hiệu giảm hơn so với vùng phổi xẹp, trên ảnh T1



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giá trị chẩn đoán âm tính (%)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×