Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chẩn đoán viêm phổi nặng khi một trẻ viêm phổi có 1 trong các dấu hiệu sau: Tím trung tâm hoặc SPO2 < 90%, suy hô hấp nặng, rút lõm lồng ngực xuất hiện thường xuyên hoặc trẻ có dấu hiệu nguy hiểm toàn thân: sốt cao hoặc hạ thân nhiệt [7].

Chẩn đoán viêm phổi nặng khi một trẻ viêm phổi có 1 trong các dấu hiệu sau: Tím trung tâm hoặc SPO2 < 90%, suy hô hấp nặng, rút lõm lồng ngực xuất hiện thường xuyên hoặc trẻ có dấu hiệu nguy hiểm toàn thân: sốt cao hoặc hạ thân nhiệt [7].

Tải bản đầy đủ - 0trang

57



Avila – Aguero ML và cs khi nghiên cứu trẻ mắc CMV nhận thấy bên cạnh

những triệu chứng tại đường hơ hấp thì bệnh nhân còn có triệu chứng khác như

thiếu máu 100%, gan to 82%, mệt mỏi 51%, vàng da 31%, lách to 31%, ban ở

da 20% [36].

Restrepo-Gualteros và cs ghi nhận thiếu máu gặp ở tỉ lệ 83%, sút cân

35%, gan to 35% [38].

Theo tác giả Đoàn Thị Mai Thanh các triệu chứng ngoài phổi hay gặp lần

lượt là: kích thích quấy khóc, bú kém, da xanh, gan to, bỏ bú, lách to với tỷ lệ:

86,2%; 61,4%; 42,7%; 31,7%; 30,5%; 17,1% [23].

Phân tích các triệu chứng ngồi phổi ở nhóm trẻ nghiên cứu của chúng

tơi được thể hiện ở bảng 3.7 cho thấy thiếu máu hay gặp nhất chiếm 64,3%;

tiêu chảy và gan lách to gặp với tỉ lệ thấp chiếm 10,9 % và 12,3%. Triệu

chứng co giật rất ít gặp, chỉ gặp 1 trẻ. Trường hợp co giật này trẻ tỉnh, khơng

có biểu hiện hội chứng não-màng não và khơng có biểu hiện thần kinh nào

khác, triệu chứng trên mất đi khi trẻ đỡ sốt, trẻ bị co giật cũng đã được xác

định là co giật do sốt cao. Có 9,6% trẻ có bệnh lí kèm theo đó là các bệnh lí

như biếng ăn, nơn trớ, táo bón, những trường hợp này đều có biểu hiện từ

trước đó, khơng nặng lên khi nhập viện. Khơng có trường hợp nào có biểu

hiện rối loạn về tim mạch như rối loạn nhịp tim, tràn dịch màng tim hay suy

tim cấp.

4.1.10. Đặc điểm X quang phổi

X-quang tim phổi luôn được coi là một xét nghiệm thường qui để chẩn

đoán viêm phổi. Khơng những giúp ích rất nhiều cho những trường hợp lâm

sàng khơng rõ ràng mà X- quang còn giúp định khu được tổn thương và theo

dõi điều trị. Vì vậy, tất cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi

đều được chụp X-quang ngay sau khi vào viện.

Tổng hợp phân tích các hình ảnh tổn thương trên Xquang theo kết quả

bảng 3.8 cho thấy: tổn thương dạng kẽ và tổn thương nốt chiếm tỉ lệ rất cao,



58



lần lượt là 89,1% và 78,1%, tổn thương dạng đông đặc và hình ảnh kính mờ ít

gặp hơn chiếm 35,6% và 32,9%.

Restrepo-Gualteros SM và cs [38], phân tích hình ảnh X quang tác giả

nhận thấy 100% bệnh nhân có bất thường trên hình ảnh X-quang, hình ảnh

kính mờ gặp ở 80% các trường hợp, dạng nốt 40% , tổn thương lưới chiếm

6% , đông đặc hay xẹp phổi, tràn dịch màng phổi rất hiếm gặp.

Moon JH và cs cũng cho kết quả như sau: Kính mờ: 100%, lan tỏa 80%,

nốt mờ: 80%. Tràn dịch màng phổi chiếm tỷ lệ rất ít [45].

Kết quả nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Mai Thanh cho thấy tổn thương

đông đặc phế nang chiếm 97,6%, tổn thương kẽ chiếm 78,6%, tổn thương nốt

chiếm 46,3%, tổn thương hạch rốn phổi chiếm 2% [23].

Sở dĩ có sự khác biệt về kết quả Xquang của các nghiên cứu có lẽ là do

chọn đối tượng nghiên cứu khác nhau, thời điểm chụp X quang khác nhau.

4.1.11. Đặc điểm huyết học

- Thay đổi bạch cầu:

Bạch cầu được tạo ra trong tuỷ xương và một phần trong các mô bạch

huyết. Sau khi được tạo ra, chúng được đưa vào máu và chuyển đến khắp cơ

thể đặc biệt vùng đang bị viêm để chống lại tác nhân nhiễm trùng.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi thấy rằng: 50,7% số trẻ có số lượng

bạch cầu bình thường, 34,2% số trẻ có số lượng bạch tăng và 11,5% số trẻ

giảm bạch cầu. Sự thay đổi số lượng bạch cầu trung tính là khơng nhiều:

79,5% số trẻ có bạch cầu trung tính bình thường. Có 60,3% số trẻ tăng bạch

cầu Lympho.

Kết quả này cũng phù hợp với một số nghiên cứu trên thế giới.



59



Restrepo-Gualteros SM và cs khi nghiên cứu trên 15 trẻ VP thấy tăng

bạch cầu chiếm 46% do nhiễm CMV thấy rằng số lượng bạch cầu tăng là đặc

điểm huyết học hay gặp ở bệnh nhân VP có nhiễm CMV [38].

Theo nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Mai Thanh Số lượng bạch cầu

trung bình của VP có nhiễm CMV là 14,3±7,1 nghìn/mm 3, kết quả đồng thời

cũng chỉ ra rằng bạch cầu tăng chủ yếu là bạch cầu Lympho [23].

Cunha B.A và cs cũng cho kết quả tương tự đa số bệnh nhân VP có nhiễm

CMV nặng có hiện tượng tăng bạch cầu chủ yếu là bạch cầu Lympho [44].

- Thay đổi về hemoglobin:

Nồng độ huyết sắc tố phản ánh tình trạng thiếu máu. Trong nghiên cứu

của chúng tơi 72,6% bệnh nhân có biểu hiện huyết sắc tố thấp hơn bình

thường (< 110g/l), 27,4% bệnh nhân có biểu hiện huyết sắc tố bình thường

Kết quả này cũng phù hợp với một số tác giả trong nước và trên thế giới.

Đoàn Thị Mai Thanh ghi nhận 71,3% bệnh nhân có triệu chứng thiếu

máu [23].

Restrepo-Gualteros SM và cs nhận thấy 53% bệnh nhân VP có nhiễm

CMV có triệu chứng thiếu máu [38].

- Thay đổi về tiểu cầu:

Hầu hết bệnh nhi trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có sự thay đổi

về số lượng tiểu cầu, chỉ có 11,1% trẻ có giảm tiểu cầu.

Kết quả nghiên cứu của Khúc Văn Lập và cs cho thấy có 43,48% bệnh

nhân VP có nhiễm CMV có hiện tượng giảm tiểu cầu [35].

Restrepo-Gualteros SM và cs nhận thấy có 40% bệnh nhân nhiễm CMV

giảm tiểu cầu [38].

- Nồng độ CRP

CRP là một protein phản ứng thường tăng trong phản ứng viêm của cơ

thể. Nó được bài tiết ở gan, vào máu vài giờ sau khi quá trình viêm bắt đầu và

tăng lên cùng với quá trình này. Vì vậy, trên thực hành lâm sàng, CRP đã trở



60



thành một xét nghiệm thường qui trong các trường hợp nghi ngờ có nhiễm

trùng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ có 20,5% bệnh nhân có

tăng CRP, 79,5% bệnh nhân có CRP bình thường. Kết quả nghiên cứu của

chúng tơi tương tự như kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh 71,5%

bệnh nhân có CRP bình thường, tăng CRP chỉ gặp 28,5% bệnh nhân [23].

4.1.12. Sự thay đổi men gan

Kết quả phân tích sinh hóa cho thấy: Nồng độ men AST trung bình là

39,8±31,5, ALT trung bình là 29,7±21.5, có 38,4% số trẻ có tăng AST và

27,4% trẻ có tăng ALT.

Kết quả này có khác so với một số tác giả khác như Đồn Thị Mai Thanh

có trên 73,7% nhiễm CMV có tình trạng tăng men gan.

Restrepo-Gualteros SM và cs 47% trường hợp có chức năng gan bất

thường [23], [38].

4.1.13. Đặc điểm về tình trạng đồng nhiễm

Những kiến thức lý thuyết cổ điển trước đây cho rằng viêm phổi thường

chỉ do một tác nhân gây bệnh duy nhất, tuy nhiên rất nhiều nghiên cứu mới

đây cho thấy phát hiện thường xuyên 2 hoặc nhiều tác nhân gây bệnh là tình

huống thường gặp trong VP hiện nay. Nghiên cứu viêm phổi do CMV của

Đoàn Thị Mai Thanh [23], tác giả nhận thấy bên cạnh căn nguyên CMV

23,9% bệnh nhân có đồng nhiễm với vi khuẩn, 16,7% có đồng nhiễm với

vius, trong đó vi khuẩn là căn nguyên gây đồng nhiễm nhiều nhất là S.

pneumoniae chiếm 21,1%, tiếp đến là K.pneumoniae chiếm 18,3%;

P.aeruginosa, H.influenzae cùng chiếm 11,3%; E.Coli chiếm 9,9%;

Streptococus group và Enterobacter, Stenotrophomonas Ma gặp tỉ lệ thấp chỉ

chiếm 2,8%. Với căn nguyên là vi rút, chiếm tỷ lệ cao nhất là Rhinovirus với

52,8%, tiếp đến là RSV với 36,11%, Adenovirus với 17,6%, cúm B với 4,6%

và Cúm A là 1,9% .



61



Trong nghiên cứu của chúng tôi 31,5% số bệnh nhân có đồng nhiễm

virus, 16,4% số bệnh nhân có đồng nhiễm vi khuẩn (bảng 3.11), việc xác định

yếu tố đồng nhiễm dựa vào kết quả cấy dịch tị hầu, đặc biệt có ý nghĩa là dịch

rửa phế quản, nó sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng điều trị phối hợp và tiên lượng

tốt hơn cho bệnh nhân.

4.1.14. Đặc điểm về sự thay đổi miễn dịch Elisa

Phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay- xét

nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme) có rất nhiều dạng mà đặc

điểm chung là đều dựa trên sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng

thể, trong đó kháng thể được gắn với một enzyme. Khi cho thêm cơ chất thích

hợp (thường là nitrophenol phosphate) vào phản ứng, enzyme sẽ thủy phân cơ

chất thành một chất có màu. Sự xuất hiện màu chứng tỏ đã xảy ra phản ứng

đặc hiệu giữa kháng thể với kháng nguyên và thông qua cường độ màu mà

biết được nồng độ kháng nguyên hay kháng thể cần phát hiện. Kĩ thuật này

khá nhạy và đơn giản, cho phép xác định kháng nguyên hoặc kháng thể ở một

nồng độ rất thấp (khoảng 0,1 ng/ml) và nó cũng được áp dụng để chẩn đốn

viêm phổi có nhiễm CMV. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi được thể hiện ở

bảng 3.12 cho thấy, tỉ lệ bệnh nhân có IgM dương tính là 78,1%, tỉ lệ bệnh

nhân có IgG dương tính là 50,7%.

4.1.15. Sự phân bố tải lượng virus

Tải lượng virus là đo nồng độ virus trong máu, sử dụng xét nghiệm di

truyền công nghệ thông thường, các phản ứng chuỗi polymerase (RNA) hoặc

một bDNA (DNA nhánh) để định lượng số lượng của các hạt virus trong một

mililit (ml) máu. Tải lượng virus là một trong những xét nghiệm có giá trị để

khẳng định chẩn đoán và mức độ nặng của bệnh.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tải lượng virus cao nhất là 29100

Copies/ml, tải lượng virus thấp nhấp là 1050 Copy/ml, trung vị là 11600



62



Copies/ml. Sự phân bố tải lượng virus của nhóm nghiên cứu chủ yếu trong

khoảng 5000- 15000 Copies/ml, kết quả này được thể hiện ở biểu đồ 3.3.

Restrepo-Gualteros SM và cs nhận thấy tải lượng vi rút của bệnh nhân

(IQR 20–20,000) bản sao/ml [38].

Kết quả của Đoàn Mai Thanh: tải lượng vi rút CMV trong trung bình của

bệnh nhân là 245,9±683,7.

4.1.16. Phân nhóm tải lượng virus

Kết quả trong bảng 3.13 cho thấy, nhóm tải lượng vi rút cao (≥10.000

bản sao/ml) có 26 bệnh nhân chiếm tỉ lệ cao nhất 54,2%, nhóm tải lượng vi

rút thấp (<5.000 bản sao/ml) có 15 bệnh nhân chiếm 31,2%, nhóm tải lượng

vi rút trung bình (5000-10.000 bản sao/ml) chỉ có 7 bệnh nhân chiếm tỉ lệ thấp

nhất 14,6%.

Kết quả này có khác so với nghiên cứu của Đồn Thị Mai Thanh: 79,7%

bệnh nhân có tải lượng vi rút >10 nghìn bản sao/ml.

4.1.17. Phân bố tải lượng virus theo nhóm tuổi

Khảo sát mối liên quan giữa tải lượng virus và tuổi, chúng tôi nhận thấy

tải lượng virus cao gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 2 tháng - 12 tháng, tuổi càng

nhỏ thì tải lượng virus càng cao (P< 0.05 Phi and Cramer's)

Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh: tải lượng vi rút của bệnh

nhân giảm dần khi tuổi tăng dần: trẻ <2 tháng trung bình là 55,4 nghìn bản

sao/ml, 2 tháng - <1 tuổi trung bình là 44.5 nghìn bản sao/ml, >12 tháng trung

bình là 29,8 nghìn bản sao/ml [23].

4.1.18. Mối liên quan giữa tải lượng virus và IgM

Phân tích mối liên quan giữa tải lượng virus và kháng thể IgM, kết quả

bảng 3.15 cho thấy, tải lượng vi rút trung bình của bệnh nhân càng cao thì tỉ lệ

IgM CMV dương tính càng cao (p<0.05).



63



Kháng thể IgM được xác định bằng miễn dịch liên kết enzyme hoặc

miễn dịch huỳnh quang. Bình thường, nồng độ CMV IgM sẽ là> 1,0 COI/ ml.

Nồng độ kháng thể IgM thường được tạo ra sớm sau nhiễm vi rút, IgM có thể

tăng gấp 4 lần nồng độ, IgM có thể tồn tại trong thời gian từ 1 đến 3 tháng.

Do đó việc xác định IgM CMV dương tính cũng có thể chẩn đốn viêm phổi

có nhiễm CMV.

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Prince HE > 90% trường hợp

nhiễm CMV có tải lượng virus cao có IgM dương tính.

4.1.19. Mối liên quan giữa tải lượng virus và tình trạng viêm phổi

Phân tích mối liên quan giữa tải lượng virus và mức độ nặng của bệnh,

chúng tôi nhận thấy tải lượng virus càng cao thì viêm phổi càng nặng. 73,1% bệnh

nhi mắc viêm phổi nặng có mức tải lượng virus CMV cao (≥ 10.000 bản sao/ml),

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0.05 Cramer's V). Kết quả được thể hiện

trong bảng 3.16.

4.2. Kết quả điều trị

4.2.1. Kết quả điều trị chung

Phân tích kết quả điều trị ở 73 trẻ có nhiễm CMV, chúng tơi nhận thấy

95,9% số trẻ trong nghiên cứu khỏi bệnh và thuyên giảm bệnh, chỉ có 4,1%

bệnh nhân nặng lên, khơng có bệnh nhân nào tử vong. Kết quả được thể hiện

trong bảng 3.17.

Zhao W và cs [45] cũng có kết quả tương tự, khi điều trị cho 24 bệnh

nhân ông nhận thấy rằng có 16/24 bệnh nhân khỏi, 8/24 bệnh nhân thuyên

giảm bệnh.

Restrepo-Gualteros SM và cs thấy rằng có 13,3% bệnh nhân tử vong

khi điều trị [38].

Còn theo tác giả Adewuyi OA thì tỉ lệ tử vong là 9%

4.2.2. Sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng theo tải lượng virus



64



Theo dõi sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng sau điều trị, chúng tôi

nhận thấy thời gian hết sốt trung bình là 6,7 ± 1,9 ngày, thời gian hết khó thở

trung bình là 17 ± 6,3 ngày, số ngày thở oxy trung bình là 8,9 ± 5,2 ngày, có 3

bệnh nhân phải thở máy, số ngày thở máy trung bình là 9,5 ± 2,1 ngày.

Khi khảo sát sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng sau điều trị với các

mức tải lượng virus (bảng 3.18), chúng tôi nhận thấy tải lượng virus càng cao

thì số ngày thở oxi, thời gian hết sốt, hết khó thở và hết rút lõm lồng ngực

càng dài (p<0.05 Anova test).

Kết quả nghiên cứu này tương tự kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai

Thanh: thời gian hết khó thở trung bình là 16,4 ± 12,4, thời gian hết RLLN

trung bình là 9,8 ± 2,7, ngày thở oxy trung bình là 11,9 ± 11,2, thời gian hết

sốt trung bình là 4,1 ± 2,8 [23].

4.2.3. Mối liên quan giữa tải lượng virus và số ngày điều trị

Nhìn vào biểu đồ 3.4, chúng tôi nhận thấy tải lượng virus càng cao thì

thời gian điều trị càng dài, thời gian điều trị trung bình của bệnh nhân trong

nghiên cứu là 22,05 ± 19,3 ngày, có 2 bệnh nhân có tải lượng virus trên

30.000 đơn vị copy/ml thì có thời gian điều trị rất dài: 1 bệnh nhân gần 50

ngày, 1 bệnh nhân gần 60 ngày: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với r=0,12,

p=0,035.

Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh :

số ngày nằm viện ở nhóm tải lượng virus thấp là 19 ngày, nhóm tải lượng

virus trung bình là 20 ngày và nhóm tải lượng virus cao là 24 ngày [23].

4.2.4. Sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng với mức độ viêm phổi

Nhận xét: Trong quá trình điều trị chúng tơi thấy nhóm bệnh nhân viêm

phổi nặng có số ngày thở Oxi, thời gian hết khó thở và số ngày điều trị cao

hơn nhóm bệnh nhân viêm phổi (p<0,05 T-student test), khơng có sự khác biệt

về thời gian hết sốt (p>0,05 T-student test).

4.2.5. Sự thay đổi tải lượng vi rút trong quá trình điều trị



65



Khi theo dõi 30 bệnh nhân điều trị bằng thuốc kháng virus tại các thời

điểm: lúc vào viện, sau 1 tuần, sau 2 tuần và ra viện kết quả theo (biểu đồ 3.5)

chúng tôi nhận thấy tải lượng virus giảm dần theo thời gian điều trị. Kết quả

này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh tải lượng vi

rút giảm rất nhanh sau khi điều trị kháng vi rút (đặc biệt sau 1 tuần điều trị),

Tỷ lệ sạch vi rút trong máu sau khi điều trị 97,86% [23].

4.2.6. Sự thay đổi X-quang trong quá trình điều trị

Kết quả nghiên cứu theo bảng 3.20 cho thấy: 69,9% trường hợp có hình

ảnh Xquang thuyên giảm sau khi điều trị, 20,5 % trường hợp hết tổn thương,

nhưng vẫn còn 9,6% trường hợp khơng có thay đổi sau khi điều trị, khơng có

trường hợp nào nặng lên.

Theo nghiên cứu của Đồn Thị Mai Thanh: Hình ảnh X quang phổi của

bệnh nhân khá dần lên sau khi điều trị. Có trên 90% bệnh nhân có hình ảnh X

quang thuyên giảm hoặc hết tổn thương sau quá trình điều trị kháng vi rút.

Kết quả này cũng song hành với những diễn biến tích cực của bệnh nhân trên

lâm sàng [23].

4.2.7. Sự thay đổi về huyết học trong quá trình điều trị

Theo kết quả trong bảng 3.21 cho thấy hầu như khơng có sự thay đổi về

số lượng bạch cầu và tiểu cầu trong quá trình điều trị, tuy nhiên lượng

Hemoglobin tăng dần sau khi được điều trị (P<0,05 Anova test)

Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh

Hiện tượng tăng hemoglobin trong quá trình điều trị theo kết quả nghiên

cứu của chúng tơi là do đa số bệnh nhân lúc vào viện có biểu hiện thiếu máu,

những bệnh nhân thiếu máu nặng sẽ được truyền máu để phối hợp điều trị.

4.2.8. Sự thay đổi về men gan trong quá trình điều trị:

Theo nghiên cứu của chúng tôi (biểu đồ 3.6): Nồng độ men gan ALT trung

bình khơng có sự thay đổi trong q trình điều trị với P>0,05 Anova test. Kết quả

nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh.



66



Theo tác giả Kimberlin DW 2% bệnh nhân có tăng men gan [46].

4.2.9. Biến chứng trong quá trình điều trị

Việc theo dõi tác dụng phụ của thuốc kháng virus cũng được nhiều tác

giả quan tâm:

Theo tác giả Kimberlin DW tác dụng phụ của Ganciclovir là 14-24%

giảm bạch cầu, 20% giảm tiểu cầu, 2% thiếu máu, 5% đau đầu, lú lẫn, khó

chịu, co giật 2% sốt, ban da, tăng men gan, tăng huyết áp kéo dài 30 phút

hoặc biến đổi gen gây ung thư .

Theo tác giả Izzedine H và cs thấy sau khi dùng thuốc kháng virus có

15% bệnh nhân ảnh hưởng đến chức năng thận, trong đó có 2% bệnh nhân

suy thận cấp [47].

Còn theo Capulong MG và Restrepo-Gualteros SM [38] nhận thấy

Ganciclovir khơng có nhiều tác dụng phụ như các nghiên cứu đã từng được

cơng bố.

Trong q trình điều trị 30 bệnh nhân bằng thuốc kháng virus chúng tơi

thấy có 3 (10,0%) bệnh nhân có biến chứng, trong đó có 1 bệnh nhân tăng

men gan >4 lần và 2 bệnh nhân thiếu máu nặng phải truyền máu.



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 73 trường hợp viêm phổi ở trẻ em có nhiễm CMV lứa

tuổi 1 tháng đến 5 tuổi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian

từ tháng 1/2017 đến 6/2018 chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Một số đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của viêm phổi ở trẻ em có nhiễm

Cytomegalovirus



67



- Viêm phổi có nhiễm CMV tập trung chủ yếu ở nhóm bệnh nhân lứa

tuổi từ 2 tháng đến dưới 12 tháng (57,5 %).

- Tỷ lệ nhiễm CMV ở trẻ nam: nữ là 1,8: 1

- Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là ho 100%, khó thở 78,1%; khò

khè 86,3%, rút lõm lồng ngực 69,8%, sốt 58,9%, tím 47,9% ; thở rên 10,7 %

và bỏ bú 4,1%. Tổn thương phổi chủ yếu là ran ẩm nhỏ hạt 100%, ngồi ra

còn có ran ẩm to hạt, ran rít, ran ngáy. Ngồi ra còn có các triệu chứng ngồi

phổi: thiếu máu 66,3%; gan, lách to 12,3%; tiêu chảy 10,9% và 1,3% trường

hợp có co giật.

- Hình ảnh X quang hay gặp ở bệnh nhân VP có nhiễm CMV đa dạng

bao gồm: tổn thương phổi kẽ, dạng nốt, đơng đặc phế nang, kính mờ.

- Sự thay đổi về huyết học và sinh hóa: 50,7% số trẻ có số lượng bạch

cầu bình thường, 34,2% số trẻ có số lượng bạch tăng và 11.5% số trẻ giảm

bạch cầu, trong đó chủ yếu là tăng bạch cầu Lympho (60%). Có 11,1% trẻ có

giảm tiểu cầu. 38,4% tăng AST, 27,4% tăng ALT.

- Tải lượng virus cao (≥ 10.000 bản sao/ml) chiếm 54,2%.

- Tuổi càng nhỏ thì tải lượng virus càng cao

2. Kết quả điều trị

- 95,9%, bệnh nhân khỏi bệnh hoặc thuyên giảm, 4,1% bệnh nhân nặng

lên, không có bệnh nhân nào tử vong.

- Thời gian nằm viện trung bình là 22,05 ± 19,3 ngày.

- Thời gian hết khó thở trung bình là 17 ± 6,3 ngày.

- Thời gian hết RLLN trung bình là 9,8 ± 2.7ngày.

- Thời gian thở oxy trung bình là 8,9 ± 5,2, ngày.

- Thời gian hết sốt trung bình là 6,7 ± 1,9 ngày.

- Có 3 bệnh nhân phải thở máy.

- Tải lượng virus càng cao thì số ngày điều trị, thời gian hết khó thở,

RLLN càng cao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chẩn đoán viêm phổi nặng khi một trẻ viêm phổi có 1 trong các dấu hiệu sau: Tím trung tâm hoặc SPO2 < 90%, suy hô hấp nặng, rút lõm lồng ngực xuất hiện thường xuyên hoặc trẻ có dấu hiệu nguy hiểm toàn thân: sốt cao hoặc hạ thân nhiệt [7].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×