Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích kết quả điều trị chung cho thấy, tỉ lệ bệnh nhân khỏi bệnh và thuyên giảm là 95,9%, rất ít bệnh nhân nặng lên 4,1%, không có bệnh nhân nào tử vong.

Phân tích kết quả điều trị chung cho thấy, tỉ lệ bệnh nhân khỏi bệnh và thuyên giảm là 95,9%, rất ít bệnh nhân nặng lên 4,1%, không có bệnh nhân nào tử vong.

Tải bản đầy đủ - 0trang

46



ngày



Biểu đồ 3.4. Liên quan giữa tải lượng virus và số ngày điều trị

Kết quả nghiên cứu theo (biểu đồ 3.4) ta thấy tải lượng virus càng cao

thì thời gian điều trị càng dài, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với (r=0,12,

p=0,035)



3.2.4. Sự thay đổi các dấu hiệu lâm sàng với mức độ viêm phổi

Bảng 3.19. Sự thay đổi các dấu hiệu lâm sàng và mức độ viêm phổi

Chỉ tiêu

Thời gian hết sốt

Thời gian hết khó thở

Ngày thở oxy



Viêm phổi



Viêm phổi nặng



P



(n=33)

6,2 ± 1,3

7,2 ± 4,3

3,5 ± 2,2



(n=40)

7,7 ± 2,1

18,2 ± 8,9

16,8 ± 11,2



T-student test



0,37

0,02

0,005



47



Ngày thở máy (n=3)

Ngày điều trị



0

18,9 ± 13,4



9,5 ± 2,1

32,1 ± 11,5



0,046



Nhận xét: Thời gian hết sốt, hết khó thở, số ngày thở oxy và số ngày điều trị

trung bình ở nhóm viêm phổi nặng dài hơn nhóm viêm phổi, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê.

3.2.5. Sự thay đổi tải lượng vi rút trong quá trình điều trị

25

22.5

20

15

12

10

5



5



0

vào viện



0.7

sau 1 tuần



sau 2 tuần



ra viện



Biểu đồ 3.5 Thay đổi tải lượng trong quá trình điều trị (n=30)

Nhìn vào biểu đồ ta thấy tải lượng virus giảm dần trong quá trình

điều trị.



3.2.6. Sự thay đổi của hình ảnh X quang trong quá trình điều trị

Bảng 3.20. Sự thay đổi của hình ảnh X quang trong quá trình điều trị

Chỉ tiêu



Sau 1 tuần



Sau 2 tuần



Ra viện



7 (9,6%)



5 (6,8%)



0



Thuyên giảm



12 (16,4%)



34 (46,6%)



51 (69,9%



Không đổi



54 (74,0%)



31 (42,5%)



7 (9,6%)



Nặng lên



48



Hết tổn thương



0



3 (4,1%)



15 (20,5%)



Nhận xét: 69,9% trường hợp thuyên giảm sau khi điều trị, 20,5 % trường

hợp hết tổn thương, 9,6% trường hợp khơng có thay đổi sau khi điều trị,

khơng có trường hợp nào nặng lên.

3.2.7. Sự thay đổi về huyết học trong quá trình điều trị

Bảng 3.21. Sự thay đổi về huyết học trong quá trình điều trị

Chỉ tiêu



P

Trước



1 tuần



Ra viện

Anova test



nghiên cứu

Bạch cầu

Tiểu cầu

Hemoglobin



8,7 ± 3,1

198±89

9,8±3,4



7,2±2,5

215±119

10,7±5,6



7,6±2,2

214±202

11,2±4,7



0,39

0,22

0,015



Kết quả nghiên cứu theo bảng 3.21 cho thấy khơng có sự thay đổi về số

lượng bạch cầu và tiểu cầu trong quá trình điều trị. Hemoglobin tăng dần sau

khi được điều trị (P<0,05 Anova test)



3.2.8. Sự thay đổi về men gan trong quá trình điều trị

45

40

35

30



39.8



30.4



29.7

25.6



25



25.9

21.4



20



Trước điều trị

Sau 1 tuần

Ra viện



15

10

5

0



AST



ALT



Biểu đồ 3.6. Sự thay đổi men gan trong quá trình điều trị



49



Nồng độ men gan có xu hướng giảm dần trong quá trình điều trị, tuy

nhiên sự thay đổi này khơng có ý nghĩa thống kê với P>0,05 Anova test)

3.2.9. Biến chứng trong quá trình điều trị

Bảng 3.22. Biến chứng trong q trình điều trị

Biến chứng



Số lượng



Tỷ lệ %



Khơng có biến chứng



27



90,0



Có biến chứng



3



10,0



Tổng



30



100



Nhận xét:

Trong q trình điều trị 30 bệnh nhân bằng thuốc kháng virus chúng tơi

thấy có 3 bệnh nhân (10,0%) có biến chứng, trong đó có 1 bệnh nhân tăng

men gan >4 lần và 2 bệnh nhân thiếu máu nặng phải truyền máu.



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng

của VP có nhiễm CMV

4.1.1. Phân bố viêm phổi có nhiễm CMV theo tuổi

Viêm phổi do CMV là bệnh có thể gặp ở mội lứa tuổi, đặc biệt là ở trẻ

nhỏ và người già, người có tình trạng miễn dịch giảm thì tỉ lệ mắc bệnh cao

hơn. Khi nghiên cứu viêm phổi có nhiễm CMV ở trẻ dưới 5 tuổi, chúng tôi

nhận thấy lứa tuổi 2-12 tháng tuổi hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 57,5%, đồng thời

đây cũng là lứa tuổi hay phải nhập viện nhiều nhất, kết quả nghiên cứu được



50



thể hiện ở bảng 3.1. Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả trong nước và

thế giới.

Khúc Văn Lập và cộng sự (cs) nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của

bệnh do CMV tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2009 tác giả thấy rằng: độ

tuổi trung bình của bệnh nhân là 9,44 ± 21,27 tháng, nhóm tuổi gặp nhiều

Snhất là dưới 12 tháng tuổi (85,98%), tiếp theo là nhóm 1-5 tuổi (10,19%),

tuổi ít gặp nhất là nhóm 10-15 tuổi (1,27%) [35].

Nghiên cứu của tác giả Đồn Thị Mai Thanh về tình hình dịch tễ và các

đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm phổi có nhiễm

CMV tại viện Nhi Trung ương cho thấy: trong số 246 bệnh nhân nghiên cứu

lứa tuổi nhỏ nhất là trên 1 tháng tuổi và lứa tuổi cao nhất trong nghiên cứu là

14 tháng tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm trẻ từ 2 - <6 tháng tuổi với

60,98% [23].

Kết quả nghiên cứu của Avila – Aguero ML và cs cho thấy tuổi trung

bình 11.5 tháng (0.3-132 tháng) [36], còn nghiên cứu của Sun X và cs ghi

nhận lứa tuổi nhiễm CMV cao nhất là dưới 6 tháng tuổi [37].

Tuy nhiên theo tác giả Restrepo-Gualteros khi nghiên cứu 15 trẻ viêm

phổi nhiễm CMV vào năm 2014 tuổi trung bình mắc bệnh là 3 tuổi, lứa tuổi

thấp nhất là 1 tháng tuổi [38].

Sở dĩ có sự khác biệt về tuổi mắc bệnh của VP có nhiễm CMV trong các

nghiên cứu như vậy có lẽ là do cách lựa chọn đối tượng nghiên cứu của các

nghiên cứu là không đồng nhất.

4.1.2. Phân bố bệnh nhân theo giới

Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 3.1 trong nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy trẻ nam gặp với tỉ lệ cao hơn chiếm 64.4 %, nữ chiếm 35.6%, tỉ lệ

nam/nữ = 1.8/1, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,014; χ2 test), kết quả

này phù hợp với một số các nghiên cứu:



51



Kết quả nghiên cứu của Khúc Văn Lập và cs ghi nhận tỷ lệ bệnh nhi

nam nhiễm CMV (61,78%) cao hơn bệnh nhi nữ tỷ lệ (38,22%) [35].

Kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh cho thấy số bệnh nhân nam

nhiều hơn nữ một cách rõ rệt với tỷ lệ nam: nữ là 2,2:1 [23].

Adjei AA và cs khi nghiên cứu 3275 bệnh nhân tác giả cho kết quả tương

tự nam chiếm 78,6% cao hơn nữ chiếm 21.4% [39].

Capulong MG cũng nhận thấy bệnh hay gặp ở trẻ trai hơn trẻ gái [40].

Tuy nhiên kết quả này lại khác biệt với một số nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu của Sun X và cs, Restrepo-Gualteros và cs [37], [38]

lại ghi nhận tỉ lệ mắc bệnh khơng có sự khác biệt theo giới.

Còn kết quả của tác giả Avila-Aguero và cs lại cho thấy tỷ lệ nam nhiễm

bệnh thấp hơn nữ. Tuy nhiên sự khác biệt là rất ít [36].

Để khẳng định tỉ lệ mắc bệnh có liên quan như thế nào theo giới có lẽ

cần phải có nghiên cứu với quy mô lớn hơn và với thời gian dài hơn.



4.1.3. Phân bố bệnh nhân theo thời gian trong năm

Kết quả nghiên cứu của biểu đồ 3.2 trong nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy bệnh gặp ở tất cả các tháng trong năm trong đó tháng có tỷ lệ mắc bệnh

có xu hướng cao hơn trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12, đây là

những tháng mùa đông thời tiết lạnh, độ ẩm cao, chuyển mùa là điều kiện

thuận lợi cho virus phát triển và gây bệnh gia tăng do đó số bệnh nhân phải

nhập viện vì viêm phổi gia tăng. Các tháng mùa hè (tháng 6 đến tháng 8 có tỉ

lệ bệnh nhân nhập viện ít nhất. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên

cứu của các tác giả khác trên thế giới và trong nước:

Restrepo-Gualteros SM và cs [38] nhận thấy tỉ lệ mắc bệnh cao nhất là

tháng 10-12 (47.9%).



52



Kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh cho thấy bệnh gặp nhiều

nhất vào ba tháng giao mùa 9, 10, 11 [23].

4.1.4. Mối liên quan giữa tiền sử bệnh với tình trạng

viêm phổi nhiễm CMV

Nghiên cứu các yếu tố tiền sử liên quan đến tình trạng nhiễm CMV cho

thấy đa số các đối tượng nghiên cứu trẻ đủ tháng, khơng có vàng da, phát triển

tinh thần vận động bình thường Đa số các đối tượng nghiên cứu là có tình

trạng phát triển thể chất, tinh thần, vận động bình thường. 1/4 số trẻ có tiền sử

đẻ non, có 36,9 % số trẻ có cân nặng khi sinh < 2500g, vàng da sơ sinh chiếm

tỉ lệ thấp 20,5%.

Theo Victora C.G những trẻ được sinh ra do mổ thiếu đi sức ép cần thiết

của đường sinh sản so với khi sinh tự nhiên, rất dễ mắc hội chứng suy hô hấp,

dễ mắc viêm phổi. Khả năng miễn dịch với bệnh của trẻ đẻ mổ thường kém

hơn so với những trẻ được sinh ra bằng đường âm đạo nên các trẻ này sau khi

ra đời dễ mắc bệnh. Tuy nhiên với bệnh nhân nhiễm CMV thì lại khác, con

đường lây truyền của CMV chủ yếu qua tiếp xúc với dịch tiết cơ thể: dịch âm

đạo, sữa mẹ, máu và các chế phẩm của máu. Do đó việc sinh con qua đường

âm đạo của bà mẹ nhiễm CMV là yếu tố nguy cơ để trẻ tiếp xúc với dịch tiết

âm đạo nhiều hơn và khả năng lây nhiễm bệnh cao hơn. Và đặc biệt các bà mẹ

trẻ trong quá trình mang thai bị nhiễm CMV tiên phát thì có nguy có truyền

bệnh cho con cao hơn nhiễm tái hoạt hoặc tái nhiễm [41], [42].

Sự khác biệt này có thể là ngẫu nhiên trong một vài nghiên cứu và chưa

thể kết luận được vì số lượng trẻ viêm phổi có nhiễm CMV còn hạn chế.

Những trẻ đẻ non thường có cân nặng sơ sinh thấp hơn và sức đề kháng thấp

hơn trẻ đẻ đủ tháng. Theo nghiên cứu của tác giả Bonalumi thì trẻ đẻ non và

cân nặng sơ sinh thấp có liên quan tới tình trạng viêm phổi có nhiễm CMV.

Tuy nhiên, trong kết quả nghiên cứu của chúng tơi thì cân nặng khi sinh



53



khơng ảnh hưởng tới tình trạng viêm phổi, kết quả này phù hợp với một số tác

giả khác như Đoàn thị Mai Thanh [23], Sun X và cs [37].

Tiền sử vàng da trong thời kỳ sơ sinh cũng được nhiều nhà khoa học trên

thế giới quan tâm trong bệnh lý nhiễm CMV nói chung và VP có nhiễm CMV

nói riêng. Trong nghiên cứu của chúng tơi 79,5% bệnh nhân nhiễm CMV

khơng có tiền sử vàng da, chỉ có 20,5 % trẻ có tiền sử vàng da. Kết quả này

thấp hơn kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh [23] và Young Mei X

và cs [43], vì bệnh lý do nhiễm CMV thường xảy ra sớm sau sinh và tổn

thương nhiều cơ quan: gan, huyết học, phổi…trong đó bệnh lý do CMV tại

gan và huyết học gây thiếu máu, vàng da là bệnh lý hay gặp và thường đi

cùng với các bệnh lý khác do CMV. Việc khai thác tiền sử vàng da sơ sinh từ

lúc nào cũng như diễn biến của nó ra sao kéo dài như thế nào đóng vai trò

quan trọng trong việc tìm mối liên quan với VP có hay khơng nhiễm CMV.

4.1.5. Triệu chứng cơ năng trước khi nhập viện

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ho, khò khè, khó thở là triệu

chứng thường gặp nhất với tỉ lệ tương ứng là 94,5%, 90,4% và 72,6% trường

hợp, triệu chứng sốt chỉ gặp ở 46,5%.

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Restrepo-Gualteros và cs thì ho



100%, khó thở 93%, sốt chiếm 67% và 53% trẻ có sút cân [38].

Bú kém tuy khơng phải là triệu chứng đặc hiệu của VP nhưng đây là dấu

hiệu lâm sàng quan trọng có giá trị tiên lượng về mức độ nặng của bệnh, khi

một trẻ bị VP mà trẻ bú kém hoặc bỏ bú hoặc không ăn hoặc uống được có

nghĩa là trẻ mắc bệnh VP rất nặng, trong nghiên cứu này chúng tơi ghi nhận

có 15% trẻ bú kém và 4,1% trẻ bỏ bú, mặc dù những triệu chứng này gặp với

tỉ lệ không cao nhưng những trẻ có dấu hiệu này là những trẻ nhỏ và biểu hiện

lâm sàng nặng.

4.1.6. Triệu chứng thực thể

Phân tích triệu chứng thực thể của 73 bệnh nhân thể hiện trong bảng 3.4

trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: 100% trẻ có ho, 78,1% có khó thở;



54



69,8% trẻ có rút lõm lồng ngực, 86,3% biểu hiện khò khè, 47,9% có biểu hiện

tím và 58,9% bệnh nhân có biểu hiện sốt.

Ho và khó thở là triệu chứng hay gặp nhất, Kết quả này cũng phù hợp

với kết quả của các tác giả khác trên thế giới [44].

Restrepo-Gualteros SM và cs, khi nghiên cứu 15 bệnh nhân thấy rằng:

100% bệnh nhân có biểu hiện ho, 93% bệnh nhân có khó thở [38].

ZHAO W và cs, khi nghiên cứu triệu chứng lâm sàng của 24 bệnh nhân

viêm phổi do nhiễm CMV tác giả thấy rằng triệu chứng lâm sàng phổ biến

nhất là ho, khó thở và sốt [45].

Theo Tổ chức Y tế thế giới [7], nếu trẻ có dấu hiệu RLLN là biểu hiện

của VP nặng. Rút lõm lồng ngực là do phổi bị tổn thương nhiều, làm mất tính

mềm mại, trẻ khó thở phải gắng sức để thở, các cơ hô hấp phải tăng cường

hoạt động co bóp làm cho lồng ngực phải lõm vào. Ngoài ra, khi phổi tổn

thương do viêm, áp suất bên trong lồng ngực thấp hơn nhiều so với áp suất

bên ngoài lồng ngực. Sự chênh lệch áp suất này càng tăng thì rút lõm lồng

ngực càng mạnh và rút lõm lồng ngực là dấu hiệu của viêm phổi nặng.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy RLLN chiếm 75% trường hợp. Kết quả

này cũng phù hợp với nghiên cứu của Restrepo-Gualteros SM và cs, 85%

bệnh nhân có rút lõm lồng ngực, và kết quả của Đoàn Thị Mai Thanh RLLN

được ghi nhận ở 95% số trẻ [23].

Sốt là phản ứng của cơ thể trước tác nhân gây bệnh. Trong nghiên cứu

của chúng tơi chỉ có 58,9% bệnh nhân có sốt, kết quả này phù hợp với nghiên

cứu của Restrepo-Gualteros SM và cs, sốt chiếm 67% [36] và nghiên cứu của

ZHAO và cs, sốt chiếm 58% [44].

Thở rên là dấu hiệu gặp chủ yếu ở các trẻ sơ sinh nhưng cũng có ở trẻ

nhũ nhi và trẻ nhỏ. Ở những bệnh nhân có tắc nghẽn hoặc xẹp đường hơ hấp

dưới, thở rên thể hiện sự gắng sức để tăng dung tích cặn chức năng. Bệnh

nhân phải thở ra trong khi thanh mơn đóng, do đó áp lực cuối kỳ thở ra tăng.



55



Điều này giúp đường thở hẹp hoặc bị xẹp trước đó có thể mở ra, tạo khoảng

thời gian dài hơn cho việc trao đổi oxy và carbon dioxide ở các phế nang.

Tiếng thở rên xuất hiện khi khí bị đẩy ra đột ngột lúc thanh môn mở. Trong

nghiên cứu của chúng tơi thì dấu hiệu thở rên chiếm 10,7%.

Tím là một trong những dấu hiệu để đánh giá trẻ có suy hơ hấp, trong

nghiên cứu của chúng tơi thấy 47,9% có biểu hiện tím, kết quả này có thấp

hơn so với nghiên cứu của Restrepo-Gualteros và cs [36] tím gặp 87%, Đồn

Thị Mai Thanh ghi nhận triệu chứng tím chiếm 78% [23].

Nghe phổi là dấu hiệu lâm sàng quan trọng giúp các bác sĩ lâm sàng

đánh giá vị trí và tính chất tổn thương phổi, trong nghiên cứu của chúng tơi có

thấy 100 % số bệnh nhân có ran ẩm nhỏ hạt, 72,6% số bệnh nhân có ran ẩm to

hạt, ral rít và ral ngáy có tỉ lệ thấp hơn 56,1% và 36,9%.

Đoàn Thị Mai Thanh dựa vào lâm sàng phát hiện được 94,3% trẻ có ran

ẩm, 24,8% trẻ có ran rít, 3,3% trẻ có ran ngáy [23].

Restrepo-Gualteros và cs nhận thấy 73% trường hợp có ran ở phổi, chủ

yếu là ran ẩm nhỏ hạt [38].

Riêng Capulong MG và cs lại thấy rằng triệu chứng thực thể phổi của

bệnh nhân VP có nhiễm CMV rất nghèo nàn và khơng đặc hiệu [40].

4.1.7. Độ bão hòa oxi mao mạch khi nhập viện

SpO2 (độ bão hòa oxy mao mạch ngoại vi), đó là tỷ lệ hemoglobin oxy

hóa (hemoglobin có chứa oxy) so với tổng lượng hemoglobin trong máu (oxy

hóa và khơng oxy hóa hemoglobin), là một chỉ số giúp đánh giá nhanh tình

trạng và mức độ suy hơ hấp. Theo nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.5 cho

thấy 26% bệnh nhân có Sp02 ≥ 95% , 84% bệnh nhân có Sp02< 95%, kết quả

này phù hợp với nghiên cứu của Restrepo-Gualteros và cs, kết quả của chúng

tôi cao hơn so với nghiên cứu của Đoàn Thị Mai Thanh 62,6% bệnh nhân có

Sp02< 95% [38], [23].



56



Phân tích mối liên quan giữa dấu hiệu tím kết quả trong bảng 3.4 và sự

thay đổi Sp02 trong bảng 3.5 cho thấy chỉ 47.9% bệnh nhân có biểu hiện tím

trong khi 84,0% bệnh nhân có Sp02< 95% ( trong đó 54,8% bệnh nhân có

Sp02 ở trong khoảng 90-94 %, 9,6% bệnh nhân có Sp02 85-90 %, 59,6%

bệnh nhân có Sp02< 85%) điều này có thể giải thích việc phát hiện dấu hiệu

tím của những bệnh nhân có Sp02 90-94% rất khó khăn, đòi hỏi các bác sĩ

lâm sàng phải thăm khám một cách tỉ mỉ tránh bỏ sót triệu chứng.

4.1.8. Phân bố theo mức độ nặng của bệnh theo nhóm tuổi

Chẩn đốn viêm phổi nặng khi một trẻ viêm phổi có 1 trong các dấu

hiệu sau: Tím trung tâm hoặc SPO2 < 90%, suy hô hấp nặng, rút lõm lồng

ngực xuất hiện thường xuyên hoặc trẻ có dấu hiệu nguy hiểm tồn thân: sốt

cao hoặc hạ thân nhiệt [7].

Trong nghiên cứu của chúng tôi: 60,3% bệnh nhân được phân loại là

viêm phổi nặng, 40,7% bệnh nhân được phân loại là viêm phổi.

Phân tích mối liên quan giữa các nhóm tuổi và mức độ nặng của bệnh cho

thấy tuổi càng nhỏ thì tỉ lệ viêm phổi nặng càng cao, ở nhóm từ 1-2 tháng có

100% trẻ bị viêm phổi nặng, 2 tháng – 12 tháng có 42,4% viêm phổi nặng và

nhóm trẻ từ 1-5 tuổi chỉ có 35,8% viêm phổi nặng (p=0,027; Phi and Cramer's)

4.1.9. Triệu chứng ngoài phổi

Triệu chứng cơ năng và thực thể của viêm phổi có nhiễm CMV có

nhiều đặc điểm tương tự như viêm phổi do các căn nguyên khác, đặc biệt là

các nhóm virus khác. Vì vậy, định hướng chẩn đốn viêm phổi có nhiễm

CMV trên lâm sàng vẫn là một điều khó khăn. Các nghiên cứu trên thế giới

cho thấy ngồi biểu hiện viêm phổi thì CMV còn có thể gây bệnh ở nhiều cơ

quan khác và thể hiện nhiều triệu chứng ở các cơ quan gây bệnh như: ở hệ

thần kinh trung ương, tim mạch, tiêu hóa, huyết học, da và niêm mạc.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích kết quả điều trị chung cho thấy, tỉ lệ bệnh nhân khỏi bệnh và thuyên giảm là 95,9%, rất ít bệnh nhân nặng lên 4,1%, không có bệnh nhân nào tử vong.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×