Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Điều trị bằng thuốc

b. Điều trị bằng thuốc

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



khác của hệ thống thức. Hệ thống kích thích ngủ bao gồm các tế bào thần

kinh thuộc hệ GABAergic nằm ở vùng não giữa, hành não và bên cạnh vùng

dưới đồi có tác dụng ức chế các phức hợp của hệ thống thức nhờ đó gây ra

giấc ngủ. Các thuốc điều trị mất ngủ thường tác động thông qua hai cơ chế:

ngăn chặn các đường dẫn truyền của hệ thống thức hoặc làm tăng hiệu quả

của GABA được sản xuất trong hệ thống ngủ (Hình 1.4) [1].



Hình 1.4. Cơ chế tác động của thuốc gây ngủ lên hệ thống thức – ngủ [1]



10



• Hiện nay có các thuốc gây ngủ được sử dụng bao gồm:

- Nhóm Benzodiazepin (BZD): diazepam (Valium, Seduxen) 5 – 10mg/ ngày,

dùng từ 1 – 12 tuần, triazolam 125 – 250 mg/ngày (điều trị mất ngủ đầu giấc,

trong thời gian ngắn), estazolam, temazepam, flurazepam, và quazepam [24],

[25].

- Nonbenzodiazepin (nonBZD) là nhóm thuốc gây ngủ thế hệ mới với cơ chế

chưa rõ ràng nhưng có thể tác động chọn lọc lên receptor GABA, bao gồm

zaleplon, zolpidem, eszopiclone là những thuốc có tác dụng nhanh, thời gian

bán thải ngắn [26].

- Các thuốc khác: chất chủ vận Melatonin đại diện là ramelteon, chất đối vận

receptor orexin (suvorexant), thuốc chống trầm cảm liều thấp (amitriptyline,

doxepine, nefazodone, sinequan, trazodone), thuốc chống loạn thần, thuốc

kháng histamin [23], [24], thuốc ngủ nhóm barbiturat (hiện khơng còn được

sử dụng với mục đích điều trị mất ngủ ở người lớn) [25].

• Một số tác dụng khơng mong muốn của thuốc gây ngủ: Nhiều nghiên cứu

đã chỉ ra các tác dụng không mong muốn của các thuốc gây ngủ thuộc nhóm

BZD và nonBZD, phổ biến nhất bao gồm: buồn ngủ ban ngày, ngủ gật, chóng

mặt, cảm giác lâng lâng, suy giảm nhận thức, rối loạn đồng vận và phụ thuộc

thuốc. Sử dụng dài ngày các loại thuốc này có thể gây nghiện và mất ngủ có

thể tái phát nếu dừng các thuốc gây ngủ tác dụng ngắn. Các tác dụng phụ ít

gặp hơn bao gồm các hành vi phức tạp liên quan đến giấc ngủ (ví dụ đi bộ, lái

xe, ăn uống, gọi điện, hoạt động tình dục… trong khi ngủ), mất trí nhớ tạm

thời, hành vi hung tính, và các phản ứng dị ứng nghiêm trọng [6], [7], [8].

Eszopiclone, zolpidem và suvorexant có thể cải thiện các rối loạn liên quan

đến giấc ngủ trong thời gian ngắn nhưng không cho thấy hiệu quả khi điều trị

lâu dài. Liệu pháp hóa dược trong điều trị mất ngủ có thể gây ra những thay

đổi về nhận thức và hành vi có liên quan đến những tác hại khơng thường

xuyên nhưng nghiêm trọng [27].



11



Tháng 3 – 2016, Hiệp hội thầy thuốc Mĩ (American College of

Physicians) đã đưa ra khuyến cáo điều trị mất ngủ mạn tính ở người trưởng

thành, theo đó trị liệu hành vi – nhận thức là lựa chọn hàng đầu và có thể bổ

sung điều trị bằng thuốc nếu liệu pháp tâm lý không thành công trên cơ sở cân

nhắc giữa lợi ích, nguy cơ và giá thành điều trị. Các thuốc được Hiệp hội thuốc

và dược phẩm Mĩ (FDA) chấp thuận bao gồm: các BZD (triazolam, estazolam,

temazepam, flurazepam, và quazepam), thuốc ngủ nonBZD (như zolpidem,

eszopiclone, và zaleplon), thuốc đối vận receptor orexin (suvorexant), thuốc

đồng vận receptor melatonin (ramelteon), và doxepin [23].

1.1.3. Mất ngủ và giai đoạn mãn kinh theo y học hiện đại

Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng phụ nữ bước vào giai đoạn mãn

kinh có tỉ lệ mất ngủ cao hơn ở phụ nữ trẻ tuổi và gặp nhiều vấn đề về giấc

ngủ hơn [28], [29], [30], [31]. Nhìn chung, một số yếu tố ảnh hưởng tới giấc

ngủ của phụ nữ thời kì mãn kinh có thể kể đến là [5], [29], [32]:

- Các triệu chứng rối loạn vận mạch bao gồm bốc hỏa và vã mồ hôi thường xảy

ra vào ban đêm, trong khi ngủ, đánh thức bệnh nhân;

- Nồng độ estrogen sụt giảm đột ngột gây ra một loạt các biến đổi ảnh hưởng

đến trạng thái tâm thần kinh, là yếu tố thuận lợi gây mất ngủ;

- Progesteron được chứng minh có tác dụng an thần và giải lo âu, sự sụt giảm nồng

độ hormone này trong giai đoạn mãn kinh cũng góp phần gây mất ngủ;

- Tuổi và tình trạng sức khỏe: các vấn đề sức khỏe phát sinh trong giai đoạn này bao

gồm: béo phì, bệnh tim mạch, các vấn đề về tiêu hóa, tiết niệu, nội tiết; các vấn đề

liên quan đến đau nhức mãn tính, vấn đề sử dụng thuốc kích thích, rượu, thuốc lá,

cafein, thuốc giãn phế quản, thuốc chống động kinh,…

- Lo âu và trầm cảm là những yếu tố liên quan đến các rối loạn giấc ngủ và

thường xuất hiện vào giai đoạn mãn kinh.

• Điều trị mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh

Những nguyên nhân gây ra mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh được chia thành 4

nhóm với phương pháp điều trị riêng [33]:



12



- Mất ngủ do mãn kinh: là mất ngủ gây ra bởi quá trình mãn kinh liên quan đế

sự thay đổi nội tiết tố, thường kèm theo các triệu chứng mãn kinh. Điều trị:

Liệu pháp hormone thay thế; các thuốc tái hấp thu chọn lọc serotonin, các

thuốc tái hấp thu chọn lọc serotonin và noradrenalin; clonidine; gabapentin;

chế độ ăn giàu isoflavone, các loại đậu; vệ sinh giấc ngủ; liệu pháp thư giãn;

liệu pháp hành vi nhận thức; liệu pháp kiểm sốt kích thích.

- Mất ngủ ngun phát: là tình trạng mất ngủ có ngun nhân khơng rõ ràng

(mất ngủ tâm sinh lý). Điều trị: Vệ sinh giấc ngủ, liệu pháp thư giãn, liệu

pháp kiểm sốt kích thích, liệu pháp hành vi nhận thức.

- Mất ngủ thứ phát: là mất ngủ có nguyên nhân là các rối loạn về thể chất, tâm

thần. Các rối loạn ảnh hưởng đến giấc ngủ ở giai đoạn này bao gồm: hội

chứng ngừng thở khi ngủ, hội chứng chân dao động, các bệnh lý (Alzheimer,

Parkinsons, ung thư, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hội chứng

trào ngược dạ dày thực quản, tăng huyết áp, đau thắt ngực, suy tim, tiểu đêm,

béo phì, suy giáp, các bệnh lý cơ xương khớp,…), các rối loạn tâm thần (trầm

cảm, lo âu), do tác dụng phụ của thuốc, do ảnh hưởng của tuổi. Điều trị: Phát

hiện và điều trị các bệnh lý gây ra mất ngủ

- Mất ngủ do yếu tố môi trường, tâm lý xã hội, nhận thức. Điều trị cần tìm

ra và thay đổi các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ [33].

1.2. MÃN KINH VÀ MẤT NGỦ THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

1.2.1. Giai đoạn mãn kinh

Mãn kinh là trạng thái người phụ nữ không còn kinh nguyệt khi bước

vào độ tuổi trung niên, gọi là “kinh tuyệt”. Mãn kinh là một biểu hiện của quá

trình lão suy. Kinh nguyệt vốn là huyết dư trào ra hàng tháng từ huyết hải

(mạch thái xung) do khí huyết dồi dào từ ngũ tạng theo 12 kinh dồn góp lại.

Khi ngũ tạng kém điều hòa, khí hư huyết thiếu, mạch xung, nhâm bị tổn thương

thì kinh nguyệt bị ảnh hưởng. Theo thiên “Thượng cổ thiên chân luận” sách Tố

vấn, phụ nữ từ 42 tuổi thận khí bắt đầu suy, kinh nguyệt rối loạn, ba kinh dương

ở phần trên cơ thể suy, da mặt nhăn, khơ, tóc bắt đầu bạc,…và đến tuổi 49 thì



13



thận khí suy, thiên q kiệt, nhâm mạch hư, thái xung mạch kém, địa đạo không

thông, mất kinh, thân thể gầy mòn, khơng thể có con,... [34].

Ở thời kì mãn kinh, tinh tiên thiên của người phụ nữ suy kiệt, thiên quý

hết, lại thêm chức năng của ngũ tạng suy giảm nên tinh huyết hậu thiên cũng

thiếu. Hậu quả của tình trạng trên là mất cân bằng âm dương, khí huyết kém

điều hòa, và rối loạn hai thuộc tính hàn nhiệt dẫn đến một loạt các biến hóa bệnh

lý trên cơ thể người phụ nữ biểu hiện bằng các triệu chứng mãn kinh. Mức độ

nặng nhẹ của những triệu chứng này trên từng cá nhân là khác nhau tùy vào điều

kiện sống, trạng thái tâm lý của từng người. Tình trạng trên có thể được mơ tả

trong các chứng Hỏa vượng, Huyễn vựng, Đầu thống, Thất miên, Chứng tý, Hư

lao, Tâm căn suy nhược, Cốt trưng lao nhiệt,… của YHCT.

Phụ thuộc vào triệu chứng chính trên lâm sàng, mức độ, q trình diến

biến bệnh mà có thể phân chia các rối loạn thời kì mãn kinh thành các thể [12]:

• Âm hư nội nhiệt:

- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện đau lưng mỏi gối, ù tai,

huyễn vựng, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt, gò má đỏ, tiểu ngắn đỏ, đại tiện

táo, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.

- Pháp điều trị: Dưỡng âm thanh nhiệt

- Phương dược: Lục vị địa hoàng hồn gia giảm

• Âm hư huyết thiếu :

- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện thắt lưng và các khớp

đau mỏi, đầu choáng, kiện vong, ù tai, điếc tai, răng lung lay, rụng sớm, lưỡi

nhợt, rêu mỏng, mạch tế nhược.

- Pháp điều trị: Tư thận, điền tinh, dưỡng huyết

- Phương dược: Tả quy hồn gia giảm

• Âm hư can vượng:

- Triệu chứng: phụ nữ thời kì mãn kinh có đau lưng mỏi gối, đầu thống, phiền

táo, dễ cáu, đạo hãn, mắt khô, lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch huyền tế sác.

- Pháp điều trị: Tư thận dưỡng can, bình can tiềm dương

- Phương dược: Kỉ cúc địa hồng hồn gia vị

• Tâm thận bất giao:



14



- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện đau lưng, mỏi gối,

chóng mặt, ù tai, đạo hãn, tâm quý, chính xung, tâm phiền khơng n, thất

miên, đa mộng, nặng thì tình chí thất thường, đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch tế

sác.

- Pháp điều trị: tư âm giáng hỏa, giao thơng tâm thận

- Phương dược: Lục vị địa hồng hồn kết hợp Hồng liên a giao thang gia

giảm

• Thận dương hư:

- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện đau lạnh thắt lưng,

người lạnh, chân tay lạnh, tinh thần uể oải, tiều trong dài, tiểu đêm, mặt mũi

tay chân sưng phù, ăn kém, đại tiện nát, nặng có thể ngũ canh tiết tả, chất lưỡi

nhợt, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế nhược.

- Pháp điều trị: Ôn thận phù dương

- Phương dược: Hữu quy hồn gia giảm

• Thận âm thận dương đều hư:

- Triệu chứng: phụ nữ quanh thời kì mãn kinh xuất hiện chóng mặt, ù tai, kiện

vong, người lúc nóng lúc lạnh, tự hãn, sợ gió, eo lưng lạnh đau, lưỡi nhợt, rêu

mỏng, mạch trầm nhược.

- Pháp điều trị: Âm dương song bổ

- Phương dược: Nhị chí hồn kết hợp Nhị tiên thang gia giảm.

1.2.2. Mất ngủ theo y học cổ truyền

Mất ngủ trong YHCT gọi là chứng “thất miên”, “bất mị”, “bất đắc miên”.

1.2.2.1. Triệu chứng và điều trị

Khi biện luận về mất ngủ, trước hết cần hiểu được là khó ngủ hoặc ngủ

mà khơng sâu hoặc khi ngủ dễ tỉnh giấc hoặc sau khi tỉnh dậy thì khó ngủ lại

hoặc suốt đêm khơng ngủ được, sau đó cần biện rõ hư thực. Chứng hư phần

nhiều thuộc âm huyết không đủ, trách ở tâm, tỳ, can, thận. Chứng thực phần

nhiều vì can uất hóa hỏa, thức ăn đình trệ, đờm trọc, vị phủ khơng hòa. Khi

chữa lấy bổ hư, tả thực, điều chỉnh âm dương làm ngun tắc: hư thì nên bổ

vào chỗ suy, ích khí dưỡng huyết, tư bổ can thận; thực thì tả chỗ thừa, tiêu



15



đạo hòa trung, thanh hỏa hóa đàm. Chứng thực lâu ngày làm cho khí huyết

hao tổn, cũng có thể chuyển thành hư, hình thành hư thực xen lẫn, khi đó cách

chữa vừa bổ vừa tả [35], [36].

Tùy thuộc vào biểu hiện lâm sàng, YHCT phân mất ngủ thành các thể và

áp dụng phương pháp điều trị như sau [37]:

• Thể tâm tỳ lưỡng hư:

- Triệu chứng: mất ngủ, ngủ hay mơ nhiều, dễ tỉnh giấc, tâm quý, hay quên, có

thể kèm theo hoa mắt chóng mặt, người mệt mỏi, chân tay rã rời, ăn uống

không ngon miệng hoặc đầy bụng chán ăn; sắc mặt nhợt nhạt; chất lưỡi nhợt,



-



rêu trắng mỏng hoặc rêu nhờn dày; mạch tế nhược hoặc nhu hoạt.

Pháp điều trị: Dưỡng tâm, kiện tỳ, an thần

Phương dược: Quy tỳ thang

Thể âm hư hỏa vượng:

Triệu chứng: mất ngủ, tâm phiền, chóng mặt ù tai, hay quên, nhức mỏi lưng,

con trai bị mộng tinh, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khơ, chất lưỡi đỏ, ít rêu





-



hoặc khơng rêu, mạch tế sác.

Pháp điều trị: Tư âm giáng hỏa, dưỡng tâm an thần

Phương dược: Hoàng liên a giao thang

Thể tâm đởm khí hư:

Triệu chứng: Mất ngủ, khi ngủ dễ tỉnh giấc, hay sợ hãi, dễ bị giật mình, tâm

q, khí đoản, nước tiểu trong dài; hoặc người mệt mỏi nhưng khó ngủ, người

gầy, sắc mặt nhợt; hoặc mất ngủ, tâm q, hoa mắt chóng mặt, miệng và họng

khơ, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, hoặc chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế hoặc





-



huyền nhược.

Pháp điều trị: Ích khí trấn kinh, an thần định chí

Phương dược: An thần định chí hồn.

Thể can uất hóa hỏa

Triệu chứng: Mất ngủ, tính tình dễ cáu giận, nếu nặng bệnh nhân cả đêm

không ngủ được, tức ngực, đau tức vùng mạng sườn, miệng khát, thích uống

nước, chán ăn, miệng khô, đắng miệng, mắt đỏ, ù tai, nước tiểu vàng, hoặc



16



bệnh nhân hoa mắt chóng mặt, đau đầu dữ dội, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu



-



lưỡi vàng hoặc rêu vàng khô, mạch huyền sác hoặc huyền hoạt sác.

Pháp điều trị: Thanh can tả nhiệt, an thần

Phương dược: Long đởm tả can thang

Thể đàm nhiệt nội nhiễu:

Triệu chứng: Mất ngủ, nặng đầu, tức ngực, tâm phiền, có thể kèm buồn nôn,

nôn, ợ hơi, miệng đắng, hoa mắt chóng mặt hoặc đại tiện táo, cả đêm mất ngủ,



chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác.

- Pháp điều trị: Thanh nhiệt hóa đàm, hòa trung an thần

- Phương dược: Ôn đởm thang

1.2.3. Mất ngủ và giai đoạn mãn kinh theo y học cổ truyền

Giấc ngủ của con người chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Sự rối loạn

hoạt động của ngũ tạng đều gây ra mất ngủ: mất ngủ do tâm gọi là chính tà, do

can hư là hư tà, do vị thực là thực tà, nếu do thận hỏa là tặc tà, nếu do phế thực là

vi tà [38]. Các chứng trạng thường gặp trong thời kì mãn kinh bao gồm Hỏa

vượng, Thất miên, Đầu thống, Huyễn Vựng, Cốt trưng, Tý chứng,… có nguồn

gốc sâu xa là do thận suy, khí hư huyết thiếu, cơng năng của ngũ tạng suy giảm

(đặc biệt thận âm hư và huyết hư).

Chứng mất ngủ có nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng chủ yếu là có liên

quan tới tâm, tỳ, can, thận và âm huyết khơng đủ, và đều là vì âm suy, dương

thinh, âm dương không giao nhau. Huyết được hóa sinh từ tinh vi từ thủy cốc,

lên ni dưỡng cho tâm thì tâm được sung túc, đến tàng ở can thì can được

nhu hòa; huyết hóa sinh ra tinh, tinh tàng chứa ở thận, thận tinh liên tiếp với

tâm, tâm hỏa giao xuống ở thận thì thần chí được yên [35]. Bản chất của kinh

tuyệt phần nhiều do thận âm hư, tinh tiên thiên suy kiệt, thiên quý cạn, tinh

huyết hư do đó tất yếu sẽ có ảnh hưởng tới tâm thần, gây mất ngủ, mà chủ yếu

là tình trạng âm hư hỏa vượng, hoặc tâm tỳ hư.



17



Cơ chế bệnh sinh chính của thời kì mãn kinh là do thận tinh hư tổn, âm

huyết hư dẫn tới một loạt các biến hóa bệnh lý đều ảnh hưởng tới giấc ngủ. Khi

điều trị bệnh lý mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh cần phải áp dụng pháp trị cả tiêu lẫn

bản: lấy bổ huyết sinh tinh làm căn bản để điều trị rối loạn thời kì mãn kinh;

đồng thời sử dụng các vị thuốc có tác dụng an thần để điều trị triệu chứng.

1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MẤT NGỦ Ở PHỤ NỮ MÃN KINH

1.3.1. Trên thế giới

Về mức độ phổ biến của mất ngủ trong giai đoạn mãn kinh, trên thế

giới đã có nhiều nghiên cứu:

- Năm 2005, một nghiên cứu trên đối tượng phụ nữ trung niên (tuổi từ 43 đến

53, bao gồm phụ nữ trước và trong giai đoạn mãn kinh) chỉ ra rằng nhóm phụ

nữ trong giai đoạn mãn kinh gặp vấn đề về giấc ngủ nhiều hơn [28];

- Một nghiên cứu khác do Kalleinen và cộng sự tiến hành năm 2008 trên 21

phụ nữ tiền mãn kinh, 29 phụ nữ đã mãn kinh và 11 phụ nữ trẻ cho thấy có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê về giấc ngủ chủ quan giữa nhóm phụ nữ trẻ và

nhóm phụ nữ đang trong quá trình mãn kinh [39];

- Năm 2012, Blumel và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 6079 phụ nữ trung niên

tuổi từ 40 đến 59 ở 11 nước Mỹ Latin cho kết quả 56,6% số phụ nữ này có bị

mất ngủ hoặc giảm chất lượng giấc ngủ, hoặc cả hai. Đặc biệt, mức độ phổ biến

của triệu chứng mất ngủ, cũng như sự giảm chất lượng giấc ngủ tăng lên theo

tuổi và theo giai đoạn mãn kinh; các triệu chứng do rối loạn vận mạch, trạng thái

trầm cảm và lo âu cũng liên quan tới các rối loạn giấc ngủ [30].

Về vấn đề điều trị, nhiều phương pháp đã được nghiên cứu:

- Năm 2006, Anfonso và cộng sự đã báo cáo kết quả của một thử nghiệm lâm

sàng về tác dụng của phương pháp yoga làm giảm tỉ lệ mất ngủ ở phụ nữ mãn

kinh [40];



18



- Hoặc thử nghiệm lâm sàng trên 410 phụ nữ tuổi từ 40 – 60 của Soares và

cộng sự cho thấy Eszopiclone có tác dụng điều trị mất ngủ ở phụ nữ mãn

kinh, làm tăng thời lượng giấc ngủ cũng như giảm các triệu chứng mãn kinh,

làm tăng chất lượng cuộc sống [41];

- Năm 2009, Teurachi và cộng sự nghiên cứu trên 1451 phụ nữ mãn kinh và

tiền mãn kinh Nhật Bản bị mất ngủ cho thấy liệu pháp hormone thay thế và

thuốc gây ngủ đều có hiệu quả điều trị rõ rệt [42];

- Năm 2011, Kung và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 45 phụ nữ Đài Loan

mãn kinh và nhận thấy phương pháp nhĩ châm có hiệu quả cải thiện rõ rệt

chất lượng giấc ngủ theo thang điểm PSQI [43];

- Năm 2011, tại Đài Loan, Chia-Hao Yeh cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu

trên 67 phụ nữ trong thời kì mãn kinh và tiền mãn kinh đánh giá tác dụng của

bài thuốc Toan táo nhân thang điều trị tình trạng mất ngủ ở đối tượng này và

cho thấy thuốc an toàn, có hiệu quả cải thiện thời lượng giấc ngủ cũng như

các rối loạn ban ngày [44].

Để đánh giá lợi ích và nguy cơ của liệu pháp hormone thay thế đối với

phụ nữ mãn kinh có rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành:

- Một thử nghiệm lâm sàng của Tổ chức hành động vì sức khỏe phụ nữ (WHI Women's Health Initiative) đã được tiến hành trên 16608 phụ nữ mãn kinh

khỏe mạnh độ tuổi từ 50 – 79 tại 40 trung tâm y tế trên toàn nước Mĩ với thời

gian theo dõi trung bình là 5,2 năm. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng viên

uống kết hợp estrogen và progestin làm tăng nguy cơ các biến cố mạch vành,

đột quỵ, huyết khối tĩnh mạch và đặc biệt là ung thư vú [9]. Kết quả trên kết

hợp với một số bằng chứng khác khuyến cáo rằng liệu pháp hormone ngắn

hạn có thể được sử dụng để điều trị các triệu chứng vận mạch từ trung bình

đến nặng ở phụ nữ khỏe mạnh ngay sau khi mãn kinh, nhưng không phù hợp

để điều trị dài hạn các bệnh lý tim mạch [10];



19



- Một phân tích gộp trên 23 thử nghiệm lâm sàng trước năm 2012 cho thấy viêc

sử dụng kéo dài liệu pháp estrogen phối hợp làm tăng đáng kể nguy cơ mắc

các biến cố tim mạch, huyết khối tĩnh mạch, đột quỵ, ung thư vú, tử vong do

ung thư phổi, sa sút trí tuệ. Trong khi đó liệu pháp estrogen đơn trị làm tăng

nguy cơ huyết khối tĩnh mạch, đột quỵ và bệnh túi mật. Lợi ích lâm sàng rõ

ràng nhất của liệu pháp hormone là làm giảm các triệu chứng mãn kinh và

giảm nguy cơ gãy xương [11].

1.3.2. Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về mất ngủ và phụ nữ tiền mãn

kinh, mãn kinh. Tuy nhiên lại chưa có nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu về

tình trạng mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh. Nghiên cứu về các rối loạn trong thời

kì mãn kinh có thể kể đến như:

- Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Đức về Thực trạng sức khỏe sinh sản của phụ

nữ Việt Nam tuổi mãn kinh và đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao

chất lượng cuộc sống của phụ nữ ở lứa tuổi này ở bảy vùng trong cả nước cho

thấy có 11 triệu chứng cơ năng trong thời kì tiền mãn kinh: đau đầu, hay cáu gắt,

cơn bừng nóng, cảm giác buồn bực, hay quên, mất ngủ, hay hồi hộp, tê buồn

chân tay, buồn ngủ ban ngày, cảm giác buồn chán và tê lạnh sống lưng và bàn

tay, bàn chân. Các biểu hiện của thời kì mãn kinh hay gặp nhất là đau mỏi lưng

(80,7%), hay quên (69,6%), thay đổi cân nặng (69,9%), mất ngủ ban đêm

(57,5%), hay hồi hộp (52, 9%), cơn bừng nóng (44,5%). Các biểu hiện khác có tỉ

lệ thấp hơn, thời gian kéo dài triệu chứng là từ 1 – 5 năm [45];

- Một điều tra dịch tễ học của Nguyễn Thị Ngọc Phượng và cộng sự trên đối

tượng phụ nữ mãn kinh vào các năm 1998, 2003, 2006 cho thấy các triệu

chứng cơ xương khớp chiếm tỉ lệ cao nhất (67%), rối loạn vận mạch chiếm

40%, rối loạn về tiết niệu, sinh dục chiếm 30 – 35% [46], [47].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Điều trị bằng thuốc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×