Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ngay cả trong các trường hợp bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn, không còn khả năng điều trị triệt căn thì phẫu thuật giảm nhẹ như cắt giảm khối u, dẫn lưu, nối tắt hay phong bế thần kinh dẫn truyền đau…vẫn có tác dụng giảm đau đớn cho người bênh. Tuy nhiên

Ngay cả trong các trường hợp bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn, không còn khả năng điều trị triệt căn thì phẫu thuật giảm nhẹ như cắt giảm khối u, dẫn lưu, nối tắt hay phong bế thần kinh dẫn truyền đau…vẫn có tác dụng giảm đau đớn cho người bênh. Tuy nhiên

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



Khơng chỉ có tác dụng với các tổn thương ác tính tại xương, trong một

vài trường hợp xạ trị chống chèn ép cũng có cải thiện đáng kể tình trạng đau

của bệnh nhân.

1.4.3. Điều trị đau bằng thuốc

1.4.3.1. Nguyên tắc chung

a) Đường dùng: Ưu tiên sử dụng đường uống trừ khi người bệnh không thể

uống được hoặc đau quá mức cần được kịp thời xử trí nhanh chóng và tích cực.

b) Mỗi người bệnh có liều thuốc giảm đau khác nhau, liều đúng là liều

đủ để khống chế đau.

c) Theo dõi: Phải chú ý theo dõi sát đáp ứng với điều trị của người bệnh để

đảm bảo hiệu quả điều trị là cao nhất mà tác dụng không mong muốn lại ít nhất.

d) Sử dụng Thang giảm đau ba bậc của tổ chức Y tế thế giới.

• Đau nhẹ: Dùng các thuốc giảm đau khơng opioid, có thể dùng thêm

các thuốc hỗ trợ giảm đau.

• Đau vừa: Dùng các thuốc giảm đau opioid nhẹ, kết hợp với các

thuốc giảm đau khơng opioid, có thể dùng thêm thuốc hỗ trợ giảm đau.

• Đau nặng: Dùng các thuốc giảm đau opioid mạnh, kết hợp các thuốc

giảm đau khơng opioid, có thể dùng thêm thuốc hỗ trợ giảm đau.



11



Đau dai dẳng

hoặc tăng lên

Đau dai dẳng

hoặc tăng lên



2

ĐAU VỪA



1

ĐAU NHẸ



3

ĐAU NẶNG



Thuốc opioid

mạnh +/thuốc hỗ trợ



Thuốc opioid

nhẹ +/- thuốc

hỗ trợ



Thuốc không

opioid +/thuốc hỗ trợ



Biểu đồ 1.1. Thang giảm đau ba bậc của Tổ chức y tế Thế giới

đ) Liều lượng

 Liều đều đặn theo giờ: Thuốc giảm đau phải được sử dụng thường

xuyên, đều đặn theo giờ, theo từng khoảng thời gian cố định, liều tiếp sau

phải dùng trước khi liều trước hoàn toàn hết tác dụng.

 Liều đột xuất: Là những liều bổ sung thêm vào liều thường xuyên để

khống chế các cơn đau đột xuất (còn gọi là liều “cứu hộ”).



Biểu đồ 1.2. Cơn đau đột xuất



12



- Các thuốc giảm đau không opioid (như paracetamol, thuốc giảm đau

không steroid) chỉ được dùng liều tối đa nhất định trong một ngày vì có thể có

các phản ứng có hại nặng nếu vượt quá liều quy định. Do đó, các thuốc giảm đau

khơng opioid có tác dụng rất hạn chế trong khống chế các cơn đau cấp tính.

- Khơng nên dùng các thuốc hỗ trợ giảm đau trong đau do bệnh lý thần

kinh để điều trị các cơn đau đột xuất.

- Khi sử dụng các thuốc giảm đau opioid tại các cơ sở điều trị ngoại trú,

liều khống chế cơn đau đột xuất xấp xỉ 10% tổng liều opioid cho cả ngày.

- Khi phải dùng nhiều liều đột xuất trong ngày, cần bổ sung thêm tổng

liều đột xuất hàng ngày vào liều thường xuyên theo giờ.

- Với các cơn đau phát sinh do sinh hoạt như khi tắm rửa, đi lại…nên cho

dùng thuốc giảm đau 20-30 phút trước khi tiến hành hoạt động đó [2], [3], [9].

1.4.3.2. Điều trị giảm đau bằng opioid

Một số khái niệm cần lưu ý:

a) Dung nạp opioid là hiện tượng khi dùng kéo dài một loại thuốc với

liều cố định thì tác dụng của thuốc sẽ giảm dần do đó phải tăng liều duy trì để

được tác dụng giảm đau.

Dung nạp thuốc xảy ra khi điều trị opiod kéo dài và không phải là biểu

hiện bệnh lý.

b) Phụ thuốc opioid là tình trạng khi ngừng một loại thuốc đột ngột hoặc

dùng thuốc đối kháng tranh chấp opiod thì người sử dụng sẽ xuất hiện hội

chúng cai nghiện. Phụ thuộc thuốc xảy ra khi điều trị oipid kéo dài và không

phải là một biểu hiện bệnh lý.

c) Nghiện opioid là rối lọan các đặc tính bắt buộc phải sử dụng một loại

thuốc dẫn đến tình trạng người sử dụng bị mất chức năng thực thể, tinh thần,

xã hội mà vẫn tiếp tục sử dụng bất chấp các tác hại đó.

d) Nghiện giả tạo là hành vi tìm cáchđể có thuốc do không được điều trị

đau đúng mức và hành vi này chấm dứt sau khi được điều trị đau thỏa đáng.



13



Cần phân biệt hiện tượng nghiện giả với nghiện thực sự là khi người bệnh vẫn

tìm cách có thuốc mặc dù đau được điều trị thỏa đáng.

Các thuốc opioid có tác dụng kéo dài

a) Nếu sẵn có nên sử dụng các thuốc opioid có tác dụng kéo dài để điều

trị đau mạn tính do thuốc này có thể duy trì nồng độ ổn định trong máu, do đó

có thể giảm đau ổn định hơn các thuốc có tác dụng ngắn

b) Các thuốc opioid dạng uống có tác dụng kéo dài bao gồm oxycodone có tác

dụng 12h (morphin và hydromorphone tác dụng kéo dài hiện chưa có tại Việt Nam).

c) Các thuốc opioid có tác dụng kéo dài chỉ nên sử dụng đều đặn theo

giờ, không sử dụng để điều trị cơn đau đột xuất. Nên dùng một loại opioid có

tác dụng nhanh để điều trị cơn đau đột xuất.

Các thuốc opioid

Bảng 1.4. Qui đổi liều các opiod khác sang morphin

Các Opioids



Tiêm (mg)



Uống(mg)



10



20-30



130-150



200



Tramadol



100



120



Oxycodone



15



30



Pethidine



75



300



Hydromorphone



1,5



7,5



Methadone



10



20



Morphin

Codein



Tác dụng không mong muốn của thuốc opioid

Nguy cơ về các tác dụng phụ không mong muốn nghiêm trọng của

thuốc là rất thấp nếu tuân thủ chặt chẽ các quy định chuẩn mực về kê đơn.

a) Nên dùng liều thấp nhất mà vẫn có thể đạt được tác dụng giảm đau

hoàn toàn hoặc giảm đau đến mức mà người bệnh chấp nhận được.

b) Táo bón là một trong các tác dụng phụ thường gặp, cũng có thể gây

đau và khó chịu. Do đó người bệnh điều trị đau bằng opiod nếu khơng bị tiêu

chảy cần điều trị dự phòng táo bón.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngay cả trong các trường hợp bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn, không còn khả năng điều trị triệt căn thì phẫu thuật giảm nhẹ như cắt giảm khối u, dẫn lưu, nối tắt hay phong bế thần kinh dẫn truyền đau…vẫn có tác dụng giảm đau đớn cho người bênh. Tuy nhiên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×