Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các hội chứng tâm lý khác có thể dẫn đến đau mạn tính, như đau tâm lý kéo dài dẫn đến đau thực thể hóa, rối loạn do chuyển đổi, rối loạn do chân động tấm lý sau chấn thương, chứng hoang tưởng và rối loạn cảm giác đau do bệnh tâm thần. Các hội chứng tâm lý

Các hội chứng tâm lý khác có thể dẫn đến đau mạn tính, như đau tâm lý kéo dài dẫn đến đau thực thể hóa, rối loạn do chuyển đổi, rối loạn do chân động tấm lý sau chấn thương, chứng hoang tưởng và rối loạn cảm giác đau do bệnh tâm thần. Các hội chứng tâm lý

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Đau là cảm giác chủ quan của bệnh nhân và đau phụ thuộc vào nhiều yếu

tố: mức độ đau, vị trí đau, tác nhân gây đau và ngưỡng chịu đựng của mỗi cá

thể nên khó ghi nhận củ thể, lượng giá một cách cụ thể và chính xác, vì vậy

cần khám và kiểm tra đánh giá thường xuyên.

1.3.1. Tiền sử đau

Đau từ bao giờ, kéo dài trong bao lâu, yếu tố nào làm cho đau tăng lên

hoặc giảm đi, đau tại ví trí nào đầu tiên, đau có lan hay khơng, cường độ và

tính chất đau, các biện pháp điều trị đã dùng, tiền sử các bệnh liên quan.

1.3.2. Đánh giá kiểu đau

Xác định kiểu đau rất quan trọng trong điều trị đau vì nó quyết định

phương pháp điều trị hợp lý cho bệnh nhân.

Có ba kiểu đau là đau cảm thụ, đau do bệnh lý thần kinh và đau hỗn hợp

nhưng trên thực tế lâm sàng chỉ xác định được hai kiểu đau vì đau hỗn hợp là

những bệnh nhân có biểu hiện đồng thời các triệu chứng của cả hai kiểu đau trước.

1.3.3. Nguyên nhân gây đau

 Khám thực thể phát hiện các bệnh hoặc các hội chứng.

 Đánh giá tổng thể các yếu tố tâm lý, xã hội, tinh thần, tín ngưỡng, thói

quen sinh hoạt.

1.3.4. Đánh giá mức độ đau

 Mức độ đau được đánh giá dựa trên cơ sở bệnh nhân tự đánh giá.

Nếu cần thiết, khai thác thêm thông tin về đánh giá đau từ người nhà BN.

 Để theo dõi, so sánh tiến triển đau, nhân viên y tế chỉ nên sử dụng và

hướng dẫn một thang đánh giá trong mọi lần khám.

 Đánh giá thêm nguy cơ phụ thuộc thuốc của BN trong mỗi lần

thăm khám.

Lưu ý: So sánh thang điểm, mức độ đau giữa các lần khám chỉ có giá trị

trên từng người bệnh, khơng có gía trị so sánh giữa các người bệnh với nhau.



7



Trong đánh giá mức độ đau, có thể sử dụng một trong các công cụ sau:

Công cụ số 1: Thang điểm cường độ đau (0-10 Numberic

Pain Rating Scale)

- Cơng cụ này thích hợp với người lớn; có thể dùng để đánh giá cả ở lần

khám hiện tại và những lần đau trước đây.

- Có thể giải thích bằng lời các mức độ đau từ 0-10 cho người bệnh hoặc

vẽ lại công cụ ra giấy để sử dụng.

Ghi lại mức độ đau do người bệnh tự đánh giá để đưa ra quyết định điều

trị và theo dõi, so sánh giữa các lần thăm khám.

Bảng 1.1. Thang điểm mức độ đau [2].



Công cụ số 2: Thang đánh giá đau theo “Nét mặt Wong-Baker”

- Cơng cụ này đơn giản, thích hợp cho trẻ em và thích hợp để đánh giá

mức độ đau của lần khám hiện tại.

- Giải thích cho người bệnh về từng khuôn mặt thể hiện đang vui vẻ vì

khơng đau, hay đang đau hoặc rất đau: biểu hiện bằng độ cong và chiều cong

của miệng, cung mày, ánh mắt.

- Đề nghị người bệnh tự chọn khuôn mặt mô tả đúng nhất mức độ đau

hiện tại.

Bảng 1.2. Bảng nét mặt Wong-Baker [2]



8



Không đau



Hơi đau



Hơi đau hơn Đau hơn nữa



Đau nhiều



Cực kỳ đau



///////

Bảng 1.3. Kết quả đánh giá mức độ đau

Mức độ đau



Thang điểm cường độ đau



Thang đánh giá đau theo

”Nét mặt Wong-Baker”



Đau nhẹ



1- 3



Hơi đau



Đau vừa



4–5



Hơi đau hơn

Đau hơn nữa



Đau nặng



Trên 7



Đau hơn nhiều

và cực kì đau



1.3.5. Bảng hỏi Tóm tắt đánh giá đau(Phụ lục ...)

Bảng hỏi này cũng là một công cụ thường được dùng trong các nghiên

cứu đau ở người bệnh UT và AIDS tại các cơ sở điều trị khi muốn đánh giá,

theo dõi tác động của đau lên khía cạnh của chất lượng cuộc sống.

Lưu ý:

- Nếu BN không đau, nên đánh giá lại sau mỗi lần thăm khám, hoặc

được yêu cầu đánh giá. Việc đánh giá đau thời điểm hiện tại thông qua việc

đánh giá lại để phục vụ cho việc điều trị đau hiệu quả nhất.

1.4. Xử trí đau ở người lớn

Nguyên tắc chung



9



 Người bệnh bị đau cần được xử trí nhằm giảm đau và cải thiện chất

lượng sống của họ trong mọi giai đoạn bệnh.

 Xử trí đau là giảm cường độ đau và ngăn chặn đau tái phát. Xử trí đau

có kết quả là khi người bệnh thấy hết đau, thoải mái và có thể duy trì được

hoạt động bình thường.

 Xử trí đau có thể tiến hành ở cơ sở y tế, tại nhà hay cộng đồng.

 Tôn trọng ghi nhận mô tả của người bệnh về cảm giác đau và hiệu

quả giảm đau của biện pháp can thiệp, kể cả khi người bệnh đang sử dụng

chất gây nghiện.

 Không chỉ sử dụng các biện pháp bằng thuốc mà phải kết hợp các

biện pháp không dùng thuốc và luôn chú ý đến vấn đề tâm lý.

 Các biện pháp giảm đau và liều lượng thuốc được sử dụng tùy thuộc

vào từng người bệnh.

 Luôn chú ý kết hợp tâm lý liệu pháp trong điều trị đau.

1.4.1. Điều trị đau bằng can thiệp ngoại khoa:

Can thiệp ngoại khoa thường được áp dụng trong các trường hợp điều trị

triệt căn các bệnh ung thư. Việc phẫu thuật cắt bỏ khối u kèm theo với xạ trị,

hóa hóa trị, nội tiết…ngồi tác dụng ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh cũng có

tác dụng làm giảm đau vì có tới 75% bệnh nhân ung thư than phiền về tình

trạng đau tại thời điểm chẩn đoán ra bệnh và hoặc trong thời gian điều trị.

Ngay cả trong các trường hợp bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn, khơng

còn khả năng điều trị triệt căn thì phẫu thuật giảm nhẹ như cắt giảm khối u,

dẫn lưu, nối tắt hay phong bế thần kinh dẫn truyền đau…vẫn có tác dụng

giảm đau đớn cho người bênh. Tuy nhiên việc can thiệp ngoại khoa cần được

cân nhắc kỹ lưỡng trước khi áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.

1.4.2. Điều trị đau bằng tia xạ

Là phương pháp điều trị hiệu quả cho đau do ung thư xương nguyên phát

hoặc các loại ung thư di căn vào xương.



10



Không chỉ có tác dụng với các tổn thương ác tính tại xương, trong một

vài trường hợp xạ trị chống chèn ép cũng có cải thiện đáng kể tình trạng đau

của bệnh nhân.

1.4.3. Điều trị đau bằng thuốc

1.4.3.1. Nguyên tắc chung

a) Đường dùng: Ưu tiên sử dụng đường uống trừ khi người bệnh không thể

uống được hoặc đau quá mức cần được kịp thời xử trí nhanh chóng và tích cực.

b) Mỗi người bệnh có liều thuốc giảm đau khác nhau, liều đúng là liều

đủ để khống chế đau.

c) Theo dõi: Phải chú ý theo dõi sát đáp ứng với điều trị của người bệnh để

đảm bảo hiệu quả điều trị là cao nhất mà tác dụng không mong muốn lại ít nhất.

d) Sử dụng Thang giảm đau ba bậc của tổ chức Y tế thế giới.

• Đau nhẹ: Dùng các thuốc giảm đau khơng opioid, có thể dùng thêm

các thuốc hỗ trợ giảm đau.

• Đau vừa: Dùng các thuốc giảm đau opioid nhẹ, kết hợp với các

thuốc giảm đau không opioid, có thể dùng thêm thuốc hỗ trợ giảm đau.

• Đau nặng: Dùng các thuốc giảm đau opioid mạnh, kết hợp các thuốc

giảm đau khơng opioid, có thể dùng thêm thuốc hỗ trợ giảm đau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các hội chứng tâm lý khác có thể dẫn đến đau mạn tính, như đau tâm lý kéo dài dẫn đến đau thực thể hóa, rối loạn do chuyển đổi, rối loạn do chân động tấm lý sau chấn thương, chứng hoang tưởng và rối loạn cảm giác đau do bệnh tâm thần. Các hội chứng tâm lý

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×