Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mức độ sưng đau khớp ngoại vi? (tương ứng với ASDAS câu hỏi 4 – BASDAI câu hỏi 3)

Mức độ sưng đau khớp ngoại vi? (tương ứng với ASDAS câu hỏi 4 – BASDAI câu hỏi 3)

Tải bản đầy đủ - 0trang

22



Thang điểm SASDAS thể hiện được tính khách quan tương tự như thang

điểm ASDAS, nhưng có cơng thức tính tốn đơn giản hơn, dễ dàng áp dụng

trong thực hành lâm sàng hằng ngày. Do vậy, SASDAS là công cụ đơn giản

và thiết thực để đánh giá được tình trạng hoạt động bệnh của VCSDK [8].

1.3. Tình hình nghiên cứu về thang điểm SASDAS

Đánh giá mức độ hoạt động bệnh của bệnh nhân VCSDK có ý nghĩa

quan trọng trong việc theo dõi và đưa ra quyết định điều trị bệnh. Chỉ số

BASDAI và thang điểm ASDAS là những công cụ đánh giá mức độ hoạt

động bệnh được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Nghiên cứu năm 2014 của

Nguyễn Thị Thu Hằng áp dụng thang điểm BASDAI trong đánh giá đáp ứng

điều trị của bệnh nhân VCSDK với thuốc infliximab. Nghiên cứu này cho

thấy sau 14 tuần điều trị, chỉ số BASDAI có sự cải thiện rõ rệt với p< 0,001,

điều này cho thấy có sự giảm mức độ hoạt động bệnh ở những bệnh nhân

được dùng infliximab[63]. Nghiên cứu của Mai Thị Minh Tâm năm 2008 chỉ

ra rằng, các bệnh nhân VCSDK có mật độ xương thấp hơn so với nhóm chứng

và chỉ số BASDAI là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến mật độ

xương ở bệnh nhân VCSDK [29] Nghiên cứu trong nước của Hoàng Thị

Phương Thảo cho thấy thang điểm ASDAS-CRP và ASDAS-ML có mối

tương quan đồng biến với chỉ số BASDAI (r=0,81 và r=0,80; p<0,05) và nhận

thấy đây là một thang điểm có giá trị trong việc đánh giá mức độ hoạt động

bệnh ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp [64].

Thang điểm SASDAS được đưa ra từ năm 2012 bởi Schneeberger và

cộng sự. Từ đó đến nay, thang điểm này đã được nhiều tác giả nghiên cứu

nhằm so sánh khả năng phản ánh mức độ hoạt động bệnh VCSDK với những

thang điểm đã được biết đến trước đây. Trong nghiên cứu của mình,

Schneeberger đã cho thấy, thang điểm SASDAS-ML có mối tương quan chặt

chẽ với thang điểm ASDAS (r = 0,93), với chỉ số BASDAI (r = 0,96) và với

chỉ số BASFI (r = 0,75)[6].



23



Nghiên cứu năm 2015 của Dilek Solmaz và cộng sự cũng chỉ ra mối

tương quan giữa chỉ số SASDAS-ML so với ASDAS-ML (r = 0.942, p < 0,001)

ASDAS-CRP (r = 0.847, p <0.001) và BASDAI (r = 0.916, p <0.001) [65].

Theo Fausto Salaffi và cộng sự, khi nghiên cứu trên 397 bệnh nhân

cũng khẳng định có sự tương quan mạnh giữa thang điểm SASDAS-ML với

các thang điểm ASDAS-CRP, ASDAS-ML và chỉ số BASDAI với hệ số

tương quan r lần lượt là 0,805, 0,835 và -0,886. Đánh giá về khả năng phản

ánh sự thay đổi của bệnh, thang điểm SASDAS kém nhạy hơn so với

ASDAS-CRP nhưng lại nhạy hơn so với chỉ số ASDAS-ML và BASDAI.

Điều này cho thấy SASDAS là một công cụ hiệu quả cao trong việc đánh giá

hoạt động của bệnh, đồng thời thang điểm này rất dễ tính toán, phù hợp cho

theo dõi bệnh nhân trên lâm sàng hằng ngày, nghiên cứu dịch tễ, và các thử

nghiệm lâm sàng [8].

Năm 2016, tác giả Schneeberger và cộng sự phát triển từ thang điểm

SASDAS-ML, đưa ra thang điểm SASDAS-CRP đánh giá mức độ hoạt động

bệnh trong bệnh VCSDK. Thang điểm này cũng sử dụng bộ câu hỏi về triệu

chứng lâm sàng như thang điểm SASDAS-ML, nhưng thay giá trị máu lắng

chia 10 bởi chỉ số CRPhs (mg/dl). Nghiên cứu của Schneeberger chỉ ra rằng

thang điểm SASDAS-CRP có mối tương quan rất cao với ASDAS-CRP (r=

0,93) và SASDAS-ML (r =0,96), tương quan cao với ASDAS-ML (r = 0,89)

và BASDAI (r= 0,88). Sử dụng các giá trị ngưỡng phân loại ASDAS-CRP đã

đề xuất trước đây [59], các giá trị cut-off tương ứng cho SASDAS-CRP như

sau: 0 đến <10,5 (bệnh không hoạt động), từ 10,5 đến 19 (bệnh hoạt động

trung bình),từ 19 đến 36 (hoạt động mạnh) và từ 36 trở lên (hoạt động bệnh



24



rất mạnh). Diện tích dưới đường cong (AUC) cho các giá trị ngưỡng này dao

động từ 0,96 đến 100 với độ nhạy 87-100% và độ đặc hiệu 99-100%. Hệ số

tương đồng giữa SASDAS-CRP và ASDAS-CRP là 0,70, giữa SASDAS-CRP

và SASDAS-ML là 0,74, tuy nhiên giữa SASDAS-CRP và ASDAS-ML thì

khá thấp (0,15).

Đối với hầu hết các bác sĩ lâm sàng, sử dụng các công cụ đơn giản và

nhanh nhất trong chẩn đốn và đánh giá bệnh nhân hàng ngày có ý nghĩa

quan trọng. Do đó, SASDAS là thang điểm hồn toàn phù hợp trong thực

hành lâm sàng.



25



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm: Khoa Cơ – xương – khớp bệnh viện Bạch Mai.

- Thời gian: Từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

 Nghiên cứu gồm 61 bệnh nhân được chẩn đoán là VCSDK theo tiêu chuẩn

New York sửa đổi năm 1984 [38], đang điều trị nội trú tại khoa Cơ xương



-



khớp bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018.

 Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

• Tiêu chuẩn New York sửa đổi năm 1984 bao gồm:

Đau thắt lưng từ 3 tháng trở lên, cải thiện khi luyện tập, không giảm khi nghỉ.

Hạn chế vận động cột sống thắt lưng ở 4 tư thế: cúi, ngửa, nghiêng, xoay.

Giảm độ giãn lồng ngực (dưới hoặc bằng 2,5 cm).

Tổn thương khớp cùng chậu trên X-quang: khi viêm giai đoạn 2 trở lên cả 2

bên hoặc viêm giai đoạn 3 – 4 ở 1 bên.

Chẩn đốn xác định khi có tiêu chuẩn trên X-quang và có ít nhất 1 tiêu

chuẩn về lâm sàng.

2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

+ Bệnh nhân đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn: viêm phổi, viêm khớp

nhiễm khuẩn, viêm họng, viêm hệ tiết niệu, sinh dục …

+ Bệnh nhân mắc các bệnh rối loạn tâm thần.

+ Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

* Cỡ mẫu nghiên cứu: Mẫu thuận tiện.



26



* Phương tiện nghiên cứu:

+ Nghiên cứu tiến cứu, thực hiện trên các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn

đoán VCSDK điều trị tại khoa khớp Bệnh viện Bạch Mai.

* Phương pháp thu thập số liệu:

+ Số liệu được thu thập theo một mẫu bệnh án thống nhất, thông tin khai

thác từ các bệnh nhân điều trị tại khoa khớp Bệnh viện Bạch Mai.

* Phân tích số liệu:

+ Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0

+ Các biến số trong nghiên cứu được đại diện bằng giá trị trung bình và

độ lệch chuẩn.

+ Mối tương quan giữa các thang điểm được đánh giá thông qua kiểm

định Spearman’s và biểu đồ phân bố.

+ Sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá mức độ tin cậy của thang

điểm SASDAS, trong đó

 Từ 0,8 đến gần bằng 1: thang đo lường rất tốt.

 Từ 0,7 đến gần bằng 0,8: thang đo lường sử dụng tốt.

 Từ 0,6 trở lên: thang đo lường sử dụng được trong trường hợp thang đo

lường là mới [66].

+ Hệ số Cohen’s kappa được sử dụng nhằm đánh giá mức độ phù hợp

giữa các thang điểm khi đánh giá mức độ hoạt động bệnh của VCSDK.

+ Độ nhạy tính bằng tỷ lệ bệnh nhân được đánh giá là hoạt động bệnh

mạnh hoặc rất mạnh theo cả 2 thang điểm ASDAS-CRP và SASDAS-CRP.

Độ đặc hiệu được tính bằng tỷ lệ bệnh nhân được đánh giá trong mức khơng

hoạt động hoặc hoạt động trung bình theo cả 2 thang điểm trên

+ Đường cong ROC, diện tích dưới đường cong AUC, khoảng tin cậy

95% dựa vào phần mềm SPSS 20.0.

2.4. Các chỉ số trong nghiên cứu

2.4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu



27



Phỏng vấn bệnh nhân nhằm xác định các thông số cơ bản:

- Tuổi, giới, tuổi khởi phát bệnh.

- Thời gian mắc bệnh: được xác định là khoảng thời gian từ khi bệnh nhân

xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến thời điểm phỏng vấn.

2.4.2. Đặc điểm lâm sàng

- Khám bệnh nhân nhằm xác định thể bệnh: thể cột sống, thể ngoại vi, hay thể hỗn

hợp. Bệnh nhân mắc VCSDK thể cột sống là khi bệnh nhân chỉ đau vùng cột sống

và khớp cùng chậu, mà không đau các khớp khác kèm theo. Bệnh nhân được xác

định mắc VCSDK thể ngoại vi nếu chỉ đau các khớp ngoại vi như khớp háng,

khớp gối, khóp vai, khớp khuỷu … mà không đau vùng cột sống và khớp cùng

chậu. Nếu bệnh nhân có biểu hiện đau ở cả các khớp cùng chậu, cột sống và cả

các khớp ngoại vi thì đó là VCSDK thể hỗn hợp[1].

- Đo độ giãn cột sống thắt lưng, độ giãn lồng ngực, khoảng cách tay đất.

 Đo độ giãn cột sống thắt lưng (Nghiệm pháp Schober):

+ Bệnh nhân đứng thẳng.

+ Đánh dấu một điểm, là giao điểm của đường nối 2 mào chậu với

đường giữa cột sống.

+ Điểm tiếp theo cao hơn điểm thứ nhất 10 cm trên đường thẳng giữa

cột sống..

+ Bệnh nhân cúi về phía trước tối đa, chân giữ thẳng, sau đó đo khoảng

cách giữa 2 điểm lúc này (được tính bằng cm). Độ giãn cột sống thắt

lưng tính bằng giá trị sau khi cúi tối đa trừ đi 10 (đơn vị cm).

+ Phép đo được thực hiên 2 lần sau đó ghi lại kết quả trung bình.

+ Độ giãn cột sống thắt lưng bình thường là 4 đến 6 cm [67].



28



Hình 2.1: Đo độ giãn cột sống thắt lưng (Nghiệm pháp Schober) [35].

 Đo độ giãn lồng ngực

+ Bệnh nhân đặt tay lên phía trên hoặc sau đầu.

+ Dùng thước dây vòng quanh ngực bệnh nhân, đo ở ngang mức liên

sườn thứ tư phía trước.

+ Đo kích thước lồng ngực khi bệnh nhân hít vào tối đa và thở ra tối đa.

+ Độ giãn lồng ngực chính là hiệu số của kích thước lồng ngực khi hít

vào tối đa và thở ra tối đa.

+ Phép đo được thực hiện 2 lần và lấy kết quả trung bình.

+ Bình thường cột sống ngực giãn 4 đến 5 cm [67].



Hình 2.2: Đo độ giãn lồng ngực [35].

 Đo khoảng cách tay đất

Khoảng cách tay đất được xác định bằng cách yêu cầu bệnh nhân cúi gập

người tối đa về phía trước, khớp gối giữ thẳng, sau đó đo khoảng cách từ ngón tay

bệnh nhân đến mặt đất. Bình thường, ngón tay sẽ chạm đất. Khi khả năng vận

đọng cột sống giảm, ngón tay có thể khơng chạm đất [67].

- Nhóm thuốc đang điều trị: Có 4 nhóm: thuốc giảm đau chống viêm không

steroid (NSAIDs), thuốc điều trị cơ bản kinh điển (DMARDs kinh điển), thuốc

sinh học (DMARDs sinh học), các thuốc khác (corticoid…).

- Bệnh nhân được đưa bảng câu hỏi BASDAI, ASDAS, SASDAS để tự trả

lời, sau đó sẽ được thu thập lại để chấm điểm cho mỗi bệnh nhân theo từng chỉ số.

- Thời gian cứng khớp buổi sáng: là khoảng thời gian được tính từ lúc bệnh

nhân ngủ dậy đến khi các khớp hoạt động trở lại như trạng thái ban ngày (tính

bằng phút).



29



- Mức độ đau: tính theo thang điểm VAS: bệnh nhân được nhìn vào một

thước có biểu thị các mức độ đau theo hình ảnh rồi tự đánh giá mức độ đau của

mình theo hình ảnh đó. Mặt sau của thước có các vạch chia từ 0 đến 10 cm tương

ứng với các hình ảnh của mặt trước. Giá trị VAS được tính bằng cách đối chiếu

hình ảnh ở mặt trước với điểm đau ở mặt sau của thước. Cấu tạo thang thước VAS

như sau:

Mặt trước



Mặt sau



Hình 2.3: Cấu tạo của thước VAS.

Trong đó: Từ 1 – 4 điểm: đau nhẹ.

Từ 5 – 6 điểm: đau trung bình.

Từ 7 – 10 điểm: đau nặng [68].

2.4.3. Đặc điểm cận lâm sàng

- Xét nghiệm miễn dịch: HLA-B27 được làm tại Viện Huyết học truyền máu

Trung ương.

- Protein phản ứng C có độ nhạy cao (CRPhs).

Nồng độ CRPhs huyết thanh được định lượng bằng phương pháp miễn dịch

đo độ đục bằng máy AU 640 cuả hãng Olympus, giá trị CRPhs huyết thanh >

0,5mg/dl được coi là tăng.

- Tốc độ máu lắng giờ đầu:



30



Tốc độ máu lắng được đo tại khoa Huyết học, Bệnh viện Bạch Mai theo

phương pháp Westergren bằng máy Monitor 100 của hãng Electa Lab (Italia). Tốc

độ máu lằng giờ đầu tăng khi > 10mm.

- Chụp Xquang quy ước khớp cùng chậu:

+ Giai đoạn 1: Nghi ngờ viêm khớp cùng chậu, biểu hiện bằng hình

ảnh khớp cùng chậu dường như rộng ra (rộng và mờ khe khớp).

+ Giai đoạn 2: Bờ khớp khơng đều, hình ảnh bào mòn ở cả 2 diện

khớp (hình ảnh tem thư).

+ Giai đoạn 3: Đặc xương dưới sụn 2 bên, dính khớp một phần.

+ Giai đoạn 4: Dính tồn bộ khớp cùng chậu.

2.4.4. Cách tính các bảng điểm

- Chỉ số BASDAI:

Chỉ số BASDAI được xây dựng với 6 câu hỏi do bệnh nhân tự trả lời và

tự đánh giá mức độ dựa trên thang công cụ VAS. 5 câu hỏi đầu tiên, điểm mỗi

câu thể hiện mức độ ảnh hưởng của bệnh do bệnh nhân tự đánh giá, tương

ứng với 0 điểm là khơng ảnh hưởng gì và 10 điểm là ảnh hưởng trầm trọng

làm bệnh nhân không chịu được. Riêng câu 5 và 6 đánh giá về tình trạng cứng

khớp buổi sáng và được gộp chung thành 1 chỉ số, có giá trị bằng trung bình

cộng điểm câu 5 và 6. Sau đó chỉ số BASDAI được tính bằng tổng của câu

hỏi từ 1 đến 4 và điểm cứng khớp buổi sáng rồi chia cho 5. Bộ câu hỏi của chỉ

số BASDAI đã được trình bày ở phần 1.2

- Thang điểm ASDAS-CRP:

1. Mức độ đau tại cột sống cổ, lưng và khớp háng?

Không 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 trầm trọng

2. Thời gian cứng khớp buổi sáng?

Không cứng khớp: 0 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 30 phút: 2,5 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 60 phút: 5 điểm.



31



Cứng khớp buổi sáng kéo dài 90 phút: 7,5 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 120 phút: 10 điểm.

3. Tình trạng bệnh do bệnh nhân tự đánh giá?

Không 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 trầm trọng

4. Mức độ sưng đau khớp ngoại vi?

Không 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 trầm trọng

Cơng thức tính ASDAS-CRP:

ASDAS-CRP = 0,12 x mức độ đau tại cột sống cổ, lưng và khớp háng +

0,06 x thời gian cứng khớp buổi sáng + 0,11 x tình trạng bệnh do bệnh nhân

tự đánh giá + 0,07 x mức độ sưng đau khớp ngoại vi + 0,58 x ln (CRP + 1)

Đơn vị của CRPhs là mg/L.

- Thang điểm SASDAS-CRP:

Thang điểm SASDAS-CRP, được đánh giá bằng cách tính tổng các chỉ

số trong thang điểm ASDAS bao gồm 5 thành phần: Tình trạng bệnh do bệnh

nhân tự đánh giá, mức độ đau cột sống cổ, lưng và khớp háng (BASDAI câu

hỏi 2), mức độ sưng đau các khớp ngoại vi (BASDAI câu hỏi 3), thời gian

cứng khớp buổi sáng (BASDAI câu hỏi 6) và giá trị CRPhs (mg/dl). Bộ câu

hỏi trong thang điểm SASDAS-CRP bao gồm [7]:

1. Mức độ đau tại cột sống cổ, lưng và khớp háng? (tương ứng với ASDAS

câu hỏi 1 và BASDAI câu hỏi 2)

Không 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 trầm trọng

2. Thời gian cứng khớp buổi sáng? (tương ứng với ASDAS câu hỏi 2 BASDAI câu hỏi 6)

Không cứng khớp: 0 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 30 phút: 2,5 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 60 phút: 5 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 90 phút: 7,5 điểm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mức độ sưng đau khớp ngoại vi? (tương ứng với ASDAS câu hỏi 4 – BASDAI câu hỏi 3)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×