Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mức độ sưng đau khớp ngoại vi? (ASDAS 4 tương ứng với BASDAI câu hỏi 3)

Mức độ sưng đau khớp ngoại vi? (ASDAS 4 tương ứng với BASDAI câu hỏi 3)

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



ASDAS-ML = 0,08 x mức độ đau tại cột sống cổ, lưng và khớp háng +

0,07 x thời gian cứng khớp buổi sáng + 0,11 x tình trạng bệnh do bệnh nhân

tự đánh giá + 0,09 x mức độ sưng đau khớp ngoại vi + 0,29 x ML

Đơn vị của ML là mm/h.

Hội nghị của ASAS năm 2010 cũng đưa ra các giá trị cut – off của thang

điểm ASDAS như sau[59]:

- ASDAS < 1,3: bệnh không hoạt động.

- 1,3 ≤ ASDAS < 2,1: bệnh hoạt động trung bình.

- 2,1 ≤ ASDAS < 3,5: bệnh hoạt động mạnh.

- ASDAS ≥ 3,5: bệnh hoạt động rất mạnh.

Nhằm đánh giá sự tiến triển của bệnh trước và sau điều trị, các nhà khoa

học đã thống nhất đưa ra giá trị thay đổi của thang điểm ASDAS được tính

bằng hiệu số của điểm ASDAS trước và sau điều trị (gọi là Δ):

Trong đó: Δ ≥ 1,1: có cải thiện lâm sàng.

Δ ≥ 2,0: cải thiện lớn về lâm sàng [59].

Theo nghiên cứu của Van der Heijde và cộng sự năm 2008 cho thấy

thang điểm ASDAS có tính phân loại cao đối với bệnh nhân ở các mức độ

hoạt động bệnh khác nhau và nhạy cảm với sự thay đổi của bệnh, điều này có

ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá đáp ứng với điều trị trong các thử

nghiệm lâm sàng. Cân nhắc vấn đề về tính khả thi và chi phí, người ta thấy

xét nghiệm tốc độ máu lắng giờ đầu có thể được thực hiện dễ dàng hơn so với

xét nghiệm CRP, nhưng khó đạt chuẩn trong các nghiên cứu đa trung tâm.

Thay vào đó xét nghiệm CRP được chuẩn hóa và đo lường được trong các

phòng thí nghiệm. Do đó ASAS lựa chọn phiên bản ASDAS-CRP là phiên

bản được ưu tiên trong đánh giá mức độ hoạt động bệnh ở bệnh nhân

VCSDK, còn thang điểm ASDAS-ML được lựa chọn thứ hai, áp dụng ở

những cơ sở không tiến hành được xét nghiệm CRP [60].



20



Nghiên cứu trên 150 bệnh nhân của Malong Xu chỉ ra rằng ASDASCRP và ASDAS-ML có mối tương quan tốt với tình trạng bệnh do bệnh nhân

tự đánh giá (r=0,65 và r=0,72), với tốc độ máu lắng giờ đầu (r= 0,57 và

r=0,81) và với CRP (r=0,51 và r=0,70), được tính ở thời điểm ban đầu và sau

6 tuần dùng thuốc kháng TNF-α. Nghiên cứu này khẳng định ASDAS là thang

điểm tốt để đánh giá mức độ hoạt động bệnh ở bệnh nhân VCSDK. Đây cũng

là thước đo có giá trị trong việc lựa chọn bệnh nhân và đánh giá hiệu quả sau

dùng thuốc kháng TNF-α [61].

Nghiên cứu năm 2014 của Ramiro và cộng sự trên 184 bệnh nhân cho

thấy có mối liên hệ theo chiều dọc giữa mức độ tiến triển của bệnh với sự

phát triển của tổn thương trên x-quang, trong đó ASDAS là chỉ số đánh giá

phù hợp hơn so với BASDAI [62].

Thang điểm ASDAS ra đời là một bước tiến lớn trong việc đánh giá một

cách tồn diện và cụ thể hơn tình trạng hoạt động bệnh ở bệnh nhân. Đồng thời

thang điểm này cũng là cơng cụ thích hợp cho việc lựa chọn phương pháp điều

trị và đánh giá đáp ứng của bệnh nhân sau quá trình điều trị [39].

1.2.3. Thang điểm SASDAS

Tuy thang điểm ASDAS có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhưng lại tương

đối phức tạp, khó áp dụng trong thực hành lâm sàng, khi cần đánh giá bệnh

một cách nhanh chóng. Do vậy năm 2012, Schneeberger và cộng sự đã đề

xuất thang điểm SASDAS-ML, được tính tốn bằng việc tính tổng các chỉ số

trong thang điểm ASDAS. Thang điểm SASDAS-ML bao gồm năm thành

phần: Tình trạng bệnh do bệnh nhân tự đánh giá, mức độ đau cột sống cổ,

lưng, khớp háng (BASDAI câu hỏi 2), sưng đau các khớp ngoại biên

(BASDAI câu hỏi 3), thời gian cứng khớp buổi sáng (BASDAI câu hỏi 6) và

tốc độ máu lắng giờ đầu chia cho 10 [6]. Đến năm 2016, Schneeberger dựa

trên thang điểm ASDAS và SASDAS-ML, đã đưa ra thang điểm SASDAS-



21



CRP, trong đó, thay thơng số tốc độ máu lắng giờ đầu chia 10 bởi CRPhs

(mg/dl). Nội dung thang điểm SASDAS-ML và SASDAS-CRP bao gồm:

1. Mức độ đau tại cột sống cổ, lưng và khớp háng? (tương ứng với ASDAS

câu hỏi 1 và BASDAI câu hỏi 2)

Không 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 trầm trọng

2. Thời gian cứng khớp buổi sáng? (tương ứng với ASDAS câu hỏi 2 BASDAI câu hỏi 6)

Không cứng khớp: 0 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 30 phút: 2,5 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 60 phút: 5 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 90 phút: 7,5 điểm.

Cứng khớp buổi sáng kéo dài 120 phút: 10 điểm.

3. Tình trạng bệnh do bệnh nhân tự đánh giá? (tương ứng với ASDAS câu hỏi 3)

Không 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 trầm trọng

4. Mức độ sưng đau khớp ngoại vi? (tương ứng với ASDAS câu hỏi 4 –

BASDAI câu hỏi 3)

Không 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 trầm trọng

Các giá trị cut - off cho SASDAS-ML như sau:

- SASDAS-ML < 7,9: bệnh không hoạt động.

- 7,9 ≤ SASDAS-ML < 13,9: bệnh hoạt động trung bình.

- 13,9 ≤ SASDAS-ML < 27,7: bệnh hoạt động mạnh.

- SASDAS ≥ 27,7: bệnh hoạt động rất mạnh.

Các giá trị cut-off cho SASDAS-CRP như sau:

- SASDAS-CRP< 10,5: bệnh không hoạt động.

- 10,5 ≤ SASDAS-CRP < 19: bệnh hoạt động trung bình.

- 19 ≤ SASDAS-CRP < 36: bệnh hoạt động mạnh.

- SASDAS-CRP ≥ 36: bệnh hoạt động rất mạnh.



22



Thang điểm SASDAS thể hiện được tính khách quan tương tự như thang

điểm ASDAS, nhưng có cơng thức tính tốn đơn giản hơn, dễ dàng áp dụng

trong thực hành lâm sàng hằng ngày. Do vậy, SASDAS là công cụ đơn giản

và thiết thực để đánh giá được tình trạng hoạt động bệnh của VCSDK [8].

1.3. Tình hình nghiên cứu về thang điểm SASDAS

Đánh giá mức độ hoạt động bệnh của bệnh nhân VCSDK có ý nghĩa

quan trọng trong việc theo dõi và đưa ra quyết định điều trị bệnh. Chỉ số

BASDAI và thang điểm ASDAS là những công cụ đánh giá mức độ hoạt

động bệnh được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Nghiên cứu năm 2014 của

Nguyễn Thị Thu Hằng áp dụng thang điểm BASDAI trong đánh giá đáp ứng

điều trị của bệnh nhân VCSDK với thuốc infliximab. Nghiên cứu này cho

thấy sau 14 tuần điều trị, chỉ số BASDAI có sự cải thiện rõ rệt với p< 0,001,

điều này cho thấy có sự giảm mức độ hoạt động bệnh ở những bệnh nhân

được dùng infliximab[63]. Nghiên cứu của Mai Thị Minh Tâm năm 2008 chỉ

ra rằng, các bệnh nhân VCSDK có mật độ xương thấp hơn so với nhóm chứng

và chỉ số BASDAI là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến mật độ

xương ở bệnh nhân VCSDK [29] Nghiên cứu trong nước của Hoàng Thị

Phương Thảo cho thấy thang điểm ASDAS-CRP và ASDAS-ML có mối

tương quan đồng biến với chỉ số BASDAI (r=0,81 và r=0,80; p<0,05) và nhận

thấy đây là một thang điểm có giá trị trong việc đánh giá mức độ hoạt động

bệnh ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp [64].

Thang điểm SASDAS được đưa ra từ năm 2012 bởi Schneeberger và

cộng sự. Từ đó đến nay, thang điểm này đã được nhiều tác giả nghiên cứu

nhằm so sánh khả năng phản ánh mức độ hoạt động bệnh VCSDK với những

thang điểm đã được biết đến trước đây. Trong nghiên cứu của mình,

Schneeberger đã cho thấy, thang điểm SASDAS-ML có mối tương quan chặt

chẽ với thang điểm ASDAS (r = 0,93), với chỉ số BASDAI (r = 0,96) và với

chỉ số BASFI (r = 0,75)[6].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mức độ sưng đau khớp ngoại vi? (ASDAS 4 tương ứng với BASDAI câu hỏi 3)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×