Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
UNG THƯ DẠ DÀY LAN TỎA DI TRUYỀN

UNG THƯ DẠ DÀY LAN TỎA DI TRUYỀN

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



2.1. Nguồn gốc và dịch tễ học ung thư dạ dày lan tỏa di truyền

Năm 1994, Hiệp hội tiêu hóa của Mỹ đã báo cáo một gia đình trong đó

có 8 thành viên bị UTDD xảy ra ở lứa tuổi từ 31 – 65 tuổi, trong vòng 4 thế

hệ [21]. Gia đình có một cặp sinh đơi giống nhau, cả hai đều bị chết vì

UTDD. Người ta phân tích tiêu bản giải phẫu bệnh của 3 thành viên trong gia

đình đều thấy các tế bào ung thư hình nhẫn trong niêm mạc dạ dày. Đây chỉ là

một báo cáo về gia đình có các thành viên bị UTDD, nhưng cơ sở di truyền

của hiện tượng này vẫn chưa được biết rõ vào thời điểm đó.

Năm 1998, trong một gia đình người Maori ở New Zealand, với nhiều

trường hợp khởi phát ung thư sớm, đa thế hệ. Phân tích di truyền cho thấy có

sự liên quan đáng kể với E – cadherin (protein mã hố bởi gen CDH1), có vai

trò quan trọng trong việc bám dính của tế bào. Phát hiện này đã giúp xác định

đột biến gen CDH1 trong các gia đình có nhiều thành viên bị UTDD lan tỏa

[22]. Nghiên cứu được thực hiện trên 6 gia đình bị chi phối bởi ung thư dạ

dày lan tỏa và ung thư vú thùy. Các đột biến dị hợp được tìm thấy trong gen

CDH1. Các đột biến này nằm rải rác trên khắp cả gen CDH1. Các bệnh nhân

bị đột biến gen CDH1 thường khơng có triệu chứng cho đến thời điểm chẩn

đoán, do các tế bào ung thư phát triển âm thầm dưới niêm mạc dạ dày, và

khơng hình thành khối u nên rất khó phát hiện sớm, khi được chẩn đoán

thường là đã muộn.

Khoảng 10% các trường hợp UTDD cho thấy có tính chất gia đình,

nhưng chỉ có 1 – 3% gây ra bởi hội chứng ung thư dạ dày lan tỏa di truyền

(HDGC) [23]. Trong một bài đánh giá trên 439 gia đình có người mắc UTDD,

đột biến gen CDH1 được ưu tiên quan sát thấy trong các gia đình có đầy đủ

tiêu chuẩn lâm sàng của HDGC chiếm 36,4% [24]. Trong ung thư dạ dày lan

tỏa gia đình (FDGC), thì tần số đột biến dòng mầm gen CDH1 thấp hơn nhiều

(12,5%) [24]. Đột biến gen CDH1 chưa đuọc tìm thấy trong các gia đình



10



khơng có tiền sử UTDD. Tuy nhiên, tỷ lệ đột biến lên đến 10% đã được mơ tả

ở các cá nhân khơng có tiền sử gia đình nhưng được chẩn đốn bệnh ở độ tuổi

< 35 tuổi, từ các quần thể với tỷ lệ thấp của UTDD [25].

Một điều lưu ý khác là có sự tương quan nghịch giữa tần số đột biến gen

CDH1 và tỉ lệ mắc UTDD. Cụ thể, tại các nước có tỷ lệ UTDD thấp, thì tần số

đột biến gen ở những gia đình HDGC là >40%, trong khi ở những nước có tỷ

lệ trung bình hoặc cao của bệnh UTDD thì tỷ lệ đột biến gen CDH1 là khoảng

20% [26]. Tỷ lệ mắc HDGC ở Mỹ được báo cáo là tăng 62% từ năm 1996 –

2000, sau đó lại giảm nhẹ từ năm 2001 – 2005 [27]. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh

UTDD cao hơn ở Nhật Bản, Hàn Quốc, nhưng tỷ lệ mắc HDGC ở các nước

này lại thấp hơn, hầu hết đột biến gen CDH1 lại được phát hiện nhiều trong

quần thể người châu Âu và châu Mỹ. Có thể nhận định tỷ lệ mắc UTDD ở

mức trung bình và cao ở các nước này có sự liên quan với các yếu tố nguy cơ

về môi trường (lối sống, chế dộ ăn uống), còn các yếu tố di truyền chỉ đóng

góp một phần nhỏ.

2.2. Nguyên nhân gây ung thư dạ dày lan tỏa di truyền

Năm 1998, Guilford và cộng sự đã xác định đột biến gen CDH1 là

nguyên nhân chủ yếu gây ra ung thư dạ dày lan tỏa di truyền (HDGC) [28].

Gen CDH1 mã hóa protein E-cadherin, đóng vai trò quan trọng trong sự kết

dính tế bào với nhau và duy trì sự tồn vẹn của biểu mô. Các loại đột biến phổ

biến nhất là thêm hoặc mất đoạn gen nhỏ (chiếm 35%), đột biến sai nghĩa

chiếm 28%, đột biến vô nghĩa và đột biến vị trí nối intron-exon chiếm khoảng

16%, đột biến mất đoạn lớn chiếm khoảng 5% [29, 30]. Nguy cơ mắc tích lũy

UTDD ở người mang đột biến gen CDH1 lần lượt là 70% ở nam và 56% ở

nữ, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 38 tuổi. Ngoài ra phụ nữ mang đột biến

gen CDH1 có nguy cơ mắc ung thư vú là 42% [31]



11



Trong khoảng hai phần ba số gia đình được chẩn đoán là HDGC với các

tiêu chuẩn chẩn đoán chặt chẽ, khơng tìm thấy trên các gia đình này đột biến

gen CDH1. Và đến giờ cũng chưa tìm ra các yếu tố nguy cơ di truyền nào

khác. Một loại protein có chức năng gần tương tự như E-cadherin là các thành

viên trong họ catenin (CTNNA1, CTNNB1,CTNND1 và JUP) được coi là

ứng cử viên cho nguyên nhân gây HDGC [32]. Majewski và cộng sự, đã phát

hiện ra đột biến gen -E-catenin (CTNNA1) có mặt ở hai thành viên trong

một gia đình có 6 thành viên bị ung thư dạ dày lan tỏa di truyền [33]. Với các

thành viên khác trong gia đình catenin (CTNNB1, CTNND1 và JUP), các nhà

khoa học vẫn chưa tìm thấy đột biến nào có ý nghĩa.

2.3. Chẩn đoán ung thư dạ dày lan tỏa di truyền

Tiêu chuẩn chẩn đốn đầu tiên được cơng bố năm 1999 bao gồm: 1) Có

trên 2 trường hợp được chẩn đốn ung thư dạ dày lan tỏa với quan hệ họ hàng

cấp độ 1 hoặc 2, với ít nhất một trường hợp được chẩn đốn trước 50 tuổi; 2)

Có trên 3 trường hợp UTDD lan tỏa ở người có quan hệ họ hàng cấp độ 1

hoặc 2 không phụ thuộc tuổi. Khi áp dụng tiêu chuẩn này, mức độ phát hiện

đột biến CDH1 là 25-50%.

Nhằm mở rộng đối tượng sàng lọc và chủ yếu phục vụ cho những nước

có tỷ lệ mắc UTDD thấp, hướng dẫn đồng thuận của Hiệp hội liên kết Ung

thư dạ dày thế giới (International Gastric Cancer Linkage Consortium IGCLC) [34] năm 2010, đã đưa ra các tiêu chí lâm sàng để sàng lọc di truyền

ở các gia đình bị ung thư dạ dày lan tỏa di truyền bao gồm một trong các tiêu

chuẩn sau:

1) Gia đình có từ 2 người trở lên bị ung thư dạ dày ở bất kể lứa tuổi, trong

đó có ít nhất một trường hợp chẩn đoán ung thư dạ dày lan tỏa.

2) Một trường hợp ung thư dạ dày lan tỏa chẩn đốn trước 40 tuổi.

3) Gia đình có trường hợp bị ung thư dạ dày lan tỏa và ung thư vú thùy,

trong đó có một trường hợp chẩn đốn trước 50 tuổi.



12



Trong một báo cáo của Hansford và cộng sự, trong số các gia đình đáp

ứng tiêu chí 1 (gia đình có từ 2 trường hợp UTDD, có ít nhất một trường hợp

bị ung thư dạ dày lan tỏa và thêm một tiêu chí là có một trường hợp chẩn

đốn trước 50 tuổi), có 26% trong số 84 trường hợp được phát hiện có đột

biến gen CDH1 [31]. Tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ có 2 trong số 38

trường hợp (chiếm 5%) đột biến gen CDH1 được chẩn đoán ung thư dạ dày

lan tỏa trước 40 tuổi [31]. Ở tiêu chí thứ 3 (có cá nhân trong gia đình bị ung

thư dạ dày lan tỏa và ung thư vú thùy với một trường hợp dưới 50 tuổi), có 10

trong số 60 trường hợp (chiếm 17%) có đột biến gen CDH1 [31].

2.4. Mối liên quan của ung thư dạ dày lan tỏa di truyền với các hội chứng

ung thư di truyền khác.

Khoảng 10% ung thư biểu mơ dạ dày có yếu tố gia đình, nhưng chỉ có 1

– 3% gây ra bởi hội chứng UTDD di truyền. Bao gồm các hội chứng: Ung thư

dạ dày lan tỏa di truyền (HDGC), polyp tuyến gia đình (GAPPS), ung thư đại

trực tràng khơng polyp di truyền (hội chứng Lynch), hội chứng polyp ở người

trẻ tuổi, hội chứng Li-Fraumeni, hội chứng Peut-Jeghers…[35]

2.4.1. Polyp tuyến gia đình (GAPPS)

Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng hội chứng polyp tuyến gia

đình (GAPPS) thực ra là một biến thể kiểu hình của ung thư dạ dày lan tỏa.

Nghiên cứu về hội chứng này trong 3 gia đình cho thấy GAPPSS được đặc

trưng bởi di truyền trội các polyp tuyến, bao gồm loạn sản hoặc ung thư tuyến

dạ dày đường ruột và khơng có bằng chứng của polyp đại trực tràng hoặc hội

chứng ung thư đường tiêu hóa có thể di truyền khác [36]. Một nghiên cứu gần

đây trên 6 gia đình GAPPS đã xác định đột biến điểm trong exon 1B của gen

APC vùng promoter, mà khơng liên quan biểu hiện kiểu hình polyp tuyến gia

đình [37]. Một số thành viên gia đình này có biểu hiện kiểu hình của polyp



13



tuyến, trong khi một số thành viên khác thì khơng. Nghiên cứu này đã chứng

minh rằng những thành viên trong gia đình với kiểu hình này đã có đột biến

dòng mầm, trong khi một số thành viên khác khơng biểu hiện kiểu hình này

thì khơng có đột biến, gọi là đột biến tách biệt với kiểu hình. Nguy cơ mắc

UTDD ở bệnh nhân bị hội chứng GAPPS vẫn chưa được xác định rõ [37].

2.4.2. Hội chứng Lynch (ung thư đại tràng không polyp di truyền)

Hội chứng Lynch là hội chứng ung thư đường tiêu hóa di truyền phổ biến

nhất, gây ra bởi đột biến gen trong các gen sửa chữa không phù hợp với DNA.

Ung thư đại trực tràng, ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng là những khối

u ác tính phổ biến nhất để phát triển ở những người có hội chứng Lynch. Theo

nghiên cứu của Capelle và cộng sự (2010), những người mang đột biến gây ra

hội chứng Lynch có nguy cơ cao mắc UTDD, đặc biệt là ở những bệnh nhân

có đột biến MLH1 hoặc MLH2 [38].

2.4.3. Hội chứng Li-Fraumeni

Hội chứng Li-Fraumeni lần đầu được mô tả vào năm 1969 như một hội

chứng có khuynh hướng gây ung thư. Nghiên cứu của tác giả Li thể hiện hội

chứng này có nguy cơ gây các ung thư như ung thư mô mềm, ung thư vú, ung

thư phổi và các khối u ác tính khác thường xảy ra ở trẻ em và vị thành niên

[39]. Hội chứng Li-Fraumeni do đột biến gen TP53, là gen ức chế khối u, và

là nguy cơ của một số bệnh ung thư khác như: bệnh bạch cầu, ung thư biểu

mô đám rối mạch mạc, các khối u não, ung thư biểu mô vỏ thượng thận, ung

thư đại trực tràng và ung thư dạ dày [40]. Giống như ung thư dạ dày lan tỏa

và hội chứng Lynch, hội chứng Li-Fraumeni thường gặp ở những bệnh nhân

có gốc châu Á, gây tăng nguy cơ mắc UTDD [41]. Hiện khơng có hướng dẫn

về sàng lọc UTDD ở những bệnh nhân có đột biến TP53 và tỷ lệ đột biến

trong số bệnh nhân UTDD vẫn chưa được nghiên cứu.



14



2.4.4. Hội chứng Peutz-Jeghers

Hội chứng Peutz-Jeghers gây ra bởi các đột biến gen STK11 (hoặc

LKB1). Bệnh nhân bị hội chứng Peutz-Jeghers có nguy cơ mắc ung thư vú,

đại trực tràng, phổi, ruột non, buồng trứng, tinh hoàn cũng như dạ dày tăng

lên đáng kể [42]. Các bệnh nhân thường được phát hiện có polyp trong dạ

dày. Năm 2000, trong một nghiên cứu phân tích cộng gộp trên 210 bệnh nhân

Peutz-Jeghers, có 29% nguy cơ mắc UTDD đến 64 tuổi [43]. Tuy nhiên do sự

hiếm gặp của hội chứng này nên nó chiếm một phần rất nhỏ trong các ca UTDD.

2.4.5. Hội chứng polyp ở người trẻ tuổi

Hôi chứng polyp ở người trẻ tuổi là do đột biến gen BMPR1A hoặc

SMAD4, đặc trưng bởi polyp ở đường tiêu hóa. Báo cáo đầu tiên về mối liên

quan giữa UTDD với hội chứng polyp ở người trẻ tuổi là từ Đại học Lowa

vào năm 1975 [44]. Qua 3 thế hệ, với 21 thành viên trong gia đình, bao gồm 4

người xuất hiện polyp dạ dày khi chưa trưởng thành và 2 người bị ung thư dạ

dày xâm lấn [44]. Vẫn là gia đình đó, được theo dõi và cập nhật đến năm

1998, với 117 thành viên trong 6 thế hệ, trong đó có 29 thành viên có tiền sử

bị hội chứng polyp khi chưa đến tuổi trưởng thành, 16 thành viên (chiếm

55%) phát triển thành ung thư đường tiêu hóa, trong đó có 4 thành viên (14%)

bị UTDD. Mặc dù số liệu còn hạn chế do sự hiếm gặp của hội chứng này và

khó khẳng định chẩn đoán chắc chắn, nguy cơ UTDD ở những người mắc hội

chứng polyp ở người trẻ tuổi được ước tính khoảng 21% và hướng dẫn đề

nghị sàng lọc nội soi đường tiêu hóa trên là 12 – 15 tuổi. Cũng như các hội

chứng khác, hội chứng polyp ở người trẻ tuổi rất hiếm gặp, nên nó chiếm một

phần rất nhỏ trong tất cả các ca UTDD.

2.5. Nguy cơ ung thư ước tính liên quan đến ung thư dạ dày lan tỏa di truyền

Khơng phải tất cả những ai có đột biến gen CDH1 trong ung thư dạ dày

lan tỏa di truyền cũng sẽ phát triển thành ung thư. Ở những người có đột biến

gen CDH1, nguy cơ mắc UTDD lan tỏa được ước tính là 67 – 70% ở nam

giới và 56 – 83% đối với nữ giới ở độ tuổi 80 [31]. Nguy cơ tích lũy ung thư



15



vú ở nữ giới có đột biến gen CDH1 khoảng 39 – 52% sau 80 tuổi. Nguy cơ

tăng đáng kể khi những người này đến tuổi 80. Mặc dù một số nghiên cứu gần

đây cho thấy có thể có liên quan giữa đột biến này và ung thư đại tràng nhưng

những bằng chứng hiện tại lại không cho thấy đột biến gen CDH1 di truyền

làm tăng nguy cơ mắc ung thư.

2.6. Quản lý ung thư dạ dày lan tỏa di truyền

2.6.1. Tư vấn di truyền và tiêu chí xét nghiệm đột biến gen CDH1

Tư vấn di truyền là một phần rất cần thiết của việc quản lý HDGC. Nó

bao gồm việc phân tích phả hệ gia đình với ít nhất là ba thế hệ và xác nhận

mô bệnh học của ung thư dạ dày lan tỏa. Q trình tư vấn khơng chỉ bao gồm

đánh giá về di truyền mà nó còn liên quan đến các chuyên ngành khác như

ngoại khoa, nội tiêu hóa và vấn đề dinh dưỡng.

Xét nghiệm di truyền nên được bắt đầu khi có một thành viên trong gia

đình bị bệnh. Rất hiếm các trường hợp ung thư dạ dày lan tỏa được báo cáo ở

các gia đình có thành viên bị bệnh trước 18 tuổi, nguy cơ UTDD lan tỏa trước

20 tuổi là rất thấp [45]. Xét nghiệm di truyền có thể được sử dụng khi thành

viên 18 tuổi, tuy nhiên với lứa tuổi dưới 18 tuổi cần xem xét lại tuổi khởi phát

sớm của bệnh ung thư trong các gia đình bị HDGC. Các tiêu chí do hội

IGCLC đưa ra để chọn bệnh nhân có nguy cơ ung thư dạ dày gia đình để làm

xét nghiệm đột biến gen CDH1 là: Gia đình có từ 2 người trở lên bị ung thư

dạ dày ở bất kể lứa tuổi, trong đó có ít nhất một trường hợp chẩn đoán ung

thư dạ dày lan tỏa, một trường hợp ung thư dạ dày lan tỏa chẩn đoán trước 40

tuổi, gia đình có trường hợp bị ung thư dạ dày lan tỏa và ung thư vú thùy,

trong đó có một trường hợp chẩn đốn trước 50 tuổi. Ngồi ra trong trường

hợp chẩn đốn UTDD mà mơ bệnh học xuất hiện tế bào nhẫn hoặc có sự xâm

nhập của các tế bào nhẫn đến các cơ quan lân cận với UTDD lan tỏa thì nên

xem xét việc làm xét nghiệm di truyền vì hiếm khi xảy ra trong các trường

hợp UTDD lẻ tẻ [46].



16



Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phát hiện đột biến gen CDH1 là 25 – 30%,

trong đó có 4% những trường hợp đột biến này có sự mất đoạn lớn của gen

CDH1 mà không phát hiện được bằng giải trình tự DNA thơng thường, mà

cần xác định bằng phương pháp MLPA.

2.6.2. Nội soi tiêu hóa

Kiểm tra định kỳ bằng nội soi tiêu hóa được khuyến cáo cho những

người mang đột biến gen CDH1 mà không muốn cắt dạ dày dự phòng, cho

những người có nguy cơ cao mà chưa làm sàng lọc di truyền, cũng như cho

các thành viên trong gia đình HDGC mà khơng có đột biến gen CDH1. Các

đối tượng này cần thực hiện nội soi dạ dày, sinh thiết vùng niêm mạc bất

thường, làm xét nghiệm H.P. Mặc dù chưa thấy mối liên quan giữa nhiễm H.P

với HDGC, nhưng tỷ lệ nhiễm H.P ở những người mang đột biến gen cần phải

ghi lại; hơn nữa H.P lại là yếu tố nguy cơ gây UTDD. Nội soi cho phép kiểm

tra trực tiếp và sinh thiết các vùng nghi ngờ. Nhưng HDGC rất khó phát hiện

ở giai đoạn đầu, các tổn thương có khuynh hướng lây lan rộng mà khơng xuất

hiện khối u. Vì thế các mẫu mô bệnh học cần phải được đánh giá bởi các nhà

chuyên khoa với loại hình này.

2.6.3. Cắt dạ dày dự phòng

Cắt dạ dày dự phòng hiện là lựa chọn duy nhất để loại bỏ nguy cơ tiến

triển thành ung thư dạ dày ở những thành viên mang đột biến gen CDH1. Tiên

lượng của phương pháp cắt dạ dày dự phòng là tốt. Tỷ lệ tử vong ước tính cho

sau khi cắt dạ dày dự phòng là 2 – 4% so với nguy cơ mắc bệnh lâu dài là

80%. Các vấn đề sau phẫu thuật cắt dạ dày bao gồm đau bụng sau ăn, đầy

bụng, khó tiêu, khơng dung nạp lactose, kém hấp thu chất béo, chứng hôi

miệng…[47] [48]. Thời gian tối ưu cắt dạ dày dự phòng ở những người mang

đột biến gen CDH1 vẫn còn là điều tranh cãi. Tuy nhiên các nghiên cứu đều



17



đồng thuận là những cá nhân làm xét nghiệm di truyền có đột biến gen CDH1

nên được phẫu thuật cắt dạ dày dự phòng bất kể phát hiện hình ảnh nội soi.

Tuy nhiên thời gian của hoạt động này có thể thay đổi tùy theo nhu cầu, tuổi

tác, thể trạng và tâm lý của bệnh nhân. Trong ung thư dạ dày lan tỏa di truyền,

các tế bào ung thư xâm lấn ở dạng lan tỏa, tiến triển âm thầm trong một thời

gian dài. Điều này giải thích tại sao nhiều cá nhân sau khi tiến hành cắt dạ dày

dự phòng và làm sinh thiết dạ dày mới phát hiện ra có các khối u ở giai đoạn

T1N0, mà khơng có bất kỳ dấu hiệu hay triệu chứng của UTDD [49]. Gần đây

với sự hiểu biết sâu hơn về HDGC, đặc biệt về ung thư tế bào nhẫn, sau khi

được phát hiện trên nội soi sinh thiết, bệnh nhân cần được tư vấn nhằm phẫu

thuật cắt dạ dày dự phòng bất kể tuổi tác. Bệnh nhân mang đột biến gen

CDH1 với kết quả sinh thiết dạ dày bình thường nên được tư vấn cắt dạ dày

dự phòng sau khi có kết quả di truyền và trên 20 tuổi [45]. Nhờ sự hiểu biết

sâu hơn về sự tiến triển của ung thư niêm mạc trong HDGC, có thể chờ bệnh

nhân cho đến khi trưởng thành hơn rồi mới tiến hành cuộc phẫu thuật.

Cắt dạ dày dự phòng là một biện pháp phòng bệnh rất hiệu quả, tuy

nhiên nó lại chịu sự chi phối bởi tâm lý, sức khỏe cá nhân, cam kết gia đình

về việc quyết định thời điểm phẫu thuật. Do đó cần có một sự liên kết giữa

nhiều chuyên khoa với nhau như ngoại khoa, di truyền, nội soi… để tư vấn

trước phẫu thuật cho bệnh nhân.

Trong tương tai, có thể với những hiểu biết sâu hơn về bất hoạt gen

CDH1 thứ phát, các nhà nghiên cứu có thể tìm ra phương pháp điều trị dự

phòng bằng hóa chất [47].

3. Mơ bệnh học của ung thư dạ dày lan tỏa di truyền

UTDD là một vấn đề lớn về sức khỏe cộng đồng, là nguyên nhân gây tử

vong đứng thứ ba trong các bệnh ung thư trên thế giới. Mặc dù tỷ lệ mắc



18



UTDD trong những thập kỷ gần đây có xu hướng giảm, tỷ lệ ung thư biểu mô

tế bào nhẫn lại đang tăng lên. Sự gia tăng của ung thư biểu mô tế bào nhẫn

(SRCC) trong UTDD có thể được giải thích là do sự thay đổi trong phân loại

mô bệnh học để mô tả và phân biệt UTDD. Trước đây SRCC được phân loại

là UTDD khuếch tán theo phân loại của Lauren (1965) [50]. Ngày nay SRCC

được xác định theo phân loại của WHO, như một ung thư biểu mô kém liên kết.

3.1. Dịch tễ học của SRCC

Từ khi có phác đồ điều trị H.P, tỷ lệ mắc UTDD đã giảm. Tuy nhiên tỷ lệ

mắc SRCC lại tăng lên. Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ khác biệt đáng kể

so với các loại UTDD khác. Ví dụ: SRCC thường xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn,

xảy ra ở những bệnh nhân trẻ hơn, với độ tuổi trung bình 55 – 61 tuổi [51],

phân bố dân tộc không rõ ràng. Trong một nghiên cứu gần đây với hơn 1000

bệnh nhân bị UTDD cho thấy SRCC phổ biến hơn ở những người da đen,

châu Á – Thái Bình Dương, người Mỹ da đỏ, thổ dân Alaska và nhóm dân tộc

gốc Tây Ban Nha [51]. Một nghiên cứu lớn gần đây ở các nước châu Á,

SRCC được tìm thấy ở 15% bệnh nhân Hàn Quốc, 10% bệnh nhân Nhật Bản

và 6 – 15% bệnh nhân ở Trung Quốc [52] [53], mặc dù các nghiên cứu gần

đây từ Hoa Kỳ hoặc ở các nước châu Âu thì tỷ lệ SRCC là 25 – 30% [51].

3.2. Yếu tố nguy cơ của SRCC

Yếu tố nguy cơ của ung thư biểu mơ tế bào nhẫn (SRCC) có thể khác so

với không phải SRCC. Các trường hợp không phải SRCC do nhiều yếu tố gây

nên như: nhiễm H.P dẫn đến viêm dạ dày mạn tính và gây UTDD. Tuy nhiên

trong SRCC thì vai trò của H.P vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Vai trò của các

yếu tố nguy cơ khác trong UTDD như chế độ ăn nhiều thực phẩm bảo quản bằng

muối, hút thuốc lá, béo phì… cũng không được nghiên cứu kỹ trong SRCC.

SRCC kết hợp với đột biến gen CDH1 – gen mã hóa protein bám dính tế

bào biểu mơ là ngun nhân chính dẫn đến ung thư dạ dày lan tỏa di truyền.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

UNG THƯ DẠ DÀY LAN TỎA DI TRUYỀN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×