Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tỷ lệ hạ bạch cầu và hạ bạch cao hạt cao hơn ở nhóm điều trị hóa chất truyền tĩnh mạch (43,2% và 41,5%) so với hai đường còn lại. Nôn/buồn nôn, tiêu chảy và viêm miệng gặp nhiều hơn ở đường uống tương ứng 45,2%, 42,1% và 42,1%.

Tỷ lệ hạ bạch cầu và hạ bạch cao hạt cao hơn ở nhóm điều trị hóa chất truyền tĩnh mạch (43,2% và 41,5%) so với hai đường còn lại. Nôn/buồn nôn, tiêu chảy và viêm miệng gặp nhiều hơn ở đường uống tương ứng 45,2%, 42,1% và 42,1%.

Tải bản đầy đủ - 0trang

24



Đối với bệnh ung thư vú, tuổi BN ở thời điểm chẩn đoán ban đầu là một

yếu tố liên quan chặt chẽ với tỷ lệ mắc bệnh và tiên lượng bệnh. Một số

nghiên cứu cho thấy mắc ung thư vú ở tuổi càng trẻ thì tiên lượng bệnh càng

xấu. Trong nghiên cứu của chúng tơi, nhóm tuổi mắc UTV ở thời điểm chẩn

đoán ban đầu và xuất hiện di căn sau điều trị cao nhất ở nhóm bệnh nhân 4060 tuổi, chiếm tỷ lệ 67,6%. Tuổi thấp nhất là 32, cao nhất là 68, độ tuổi trung

bình là 53,4 ± 8,9. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu

của một số tác giả trong nước và nước ngoài. Martin M và CS (2005) nghiên

cứu trên 252 BN UTV di căn cho kết quả tuổi trung bình 56 tuổi [11]. Nghiên

cứu của D. Laessig, Vehling U. Kaiser và CS (2007) trên 39 BN UTV di căn,

độ tuổi trung bình là 60, trẻ nhất là 29 và lớn tuổi nhất là 77 [13].

4.1.2. Vị trí tái phát di căn

UTV là một bệnh tồn thân, bệnh có thể di căn theo đường máu hay

đường bạch huyết và có thể di căn đến bất kỳ vị trí nào. Theo biểu đồ 3.2 các

vị trí tái phát di căn thường gặp là xương, phổi, gan với tỷ lệ tương ứng là

61,9%, 46,5% và 40,0%.

Nghiên cứu của Lê Thanh Đức (2013) chỉ ra tỷ lệ tái phát di căn xương,

phổi, gan trên 37 BN UTV TPDC tương ứng là 56,8%, 43,2% và 18,9% [10].

Các nghiên cứu này cho kết quả tương tự của chúng tôi.

4.1.3. Số cơ quan tái phát di căn

Trong nghiên cứu của chúng tơi, 50/71 BN có di căn từ 2 vị trí trở lên,

chiếm 70,1% (biểu đồ 3.3). Kết quả này cũng tương tự với kết quả của một số

các nghiên cứu trong nước và nước ngoài.

4.2. Đánh giá kết quả điều trị

4.2.1. Số tuần điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tổng số tuần điều trị là 1.754 tuần, số

tuần điều trị trung bình 24,7 tuần; BN được điều trị ít nhất 5 tuần, BN được



25



điều trị nhiều nhất 63 tuần. Đa số các BN điều trị từ 24 tuần trở lên, chiếm

76%. Tỷ lệ BN điều trị dưới 6 tuần thấp nhất, chiếm 7%.

Nghiên cứu của Fumoleau P và CS (2006) trên 145 BN UTV TPDC,

tổng số tuần điều trị là 1.673 tuần, số tuần trung bình điều trị Vinorelbine

bước 1 là 12, bước 2 là 11, bước 3 là 9 và bước 4 là 13[14]. Nghiên cứu của

chúng tôi là điều trị bước 2, 3, 4, do đó kết quả của chúng tơi tương tự kết quả

của nghiên cứu này. Số tuần điều trị liên quan đến thời gian sống bệnh không

tiến triển. Như vậy, với kết quả này có thể dự đốn được phác đồ này giúp

kéo dài đáng kể thời gian sống bệnh không tiến triển.

4.2.2. Đường dùng thuốc

Vinorelbine đường uống với liều 60 hoặc 80 mg/m 2 hấp thu vào máu

tương đương với vinorelbine đường tĩnh mạch với liều 25 hoặc 30 mg/ 2, và

đây là cơ sở để điều trị phối hợp. Trên lâm sàng việc quyết định điều trị

vinorelbine đường uống, đường truyền tĩnh mạch hay phối hợp tùy thuộc vào

nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế xã hội, khả năng di chuyển của bệnh nhân,

sự dung nạp thuốc và ý kiến chủ quan của bệnh nhân. Thầy thuốc lâm sàng

cần thảo luận với bệnh nhân để lập kế hoạch điều trị phù hợp. Trong nghiên

cứu của chúng tôi có 32,4% bệnh nhân điều trị Vinorelbine đường uống,

31,0% dùng đường tĩnh mạch và 36,6% bệnh nhân được phối hợp.

Nghiên cứu của C Vogel và cộng sự (2010) trên 65 bệnh nhân ung thư vú

tái phát di căn, 100% các bệnh nhân này sử dụng hóa chất đường uống, lý do

là các bệnh nhân C Vogel lựa chọn vào nghiên cứu đều trên 65 tuối, việc điều

trị đường uống sẽ thuận lợi hơn, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được

đảm bảo [15]. Trong nghiên cứu của nghiên cứu của Fumoleu và cộng sự trên

175 bệnh nhân có 30,5% điều trị đường truyền tĩnh mạch, 34, 6% dùng phối

hợp và 34,9% sử dụng thuốc uống [14]. Nghiên cứu này tương tự với nghiên

cứu của chúng tơi.



26



4.2.3. Liều hóa chất được sử dụng

Kết quả ở biểu đồ 3.5 cho thấy, phần lớn BN được điều trị liều 100%,

chiếm 90,1%; có 7 BN phải giảm liều do độc tính trong q trình điều trị,

chiếm 9,9%; khơng có BN nào phải dừng điều trị do độc tính khơng thể chấp

nhận được. Điều này cho thấy điều trị thuốc có thể dung nạp được.

Theo Andres Garcia Palomo (2012), nghiên cứu trên 216 BN UTV tái

phát di căn điều trị Vinorelnine bước 1, 2 cho tỷ lệ BN phải giảm liều do độc

tính là 17%, không bệnh nhân nào phải ngừng điều trị [9]. Nghiên cứu của M.

Baweja (2008), tỷ lệ BN giảm liều khi điều trị vinorelbine đường tĩnh mạch là

12%. Fumoleau và CS (2006) nghiên cứu trên 175 BN có 19% phải giảm liều

do tác dụng phụ của hóa chất [8]. BN nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả

thấp hơn các nghiên cứu này có thể do chúng tơi có sử dụng một số thuốc và

các phương pháp hỗ trợ làm giảm bớt các triệu chứng của độc tính.

4.2.4. Đáp ứng chung của phác đồ

Biểu đồ 3.6 cho kết quả tỷ lệ đáp ứng chung của phác đồ là 40,8%, trong

đó đáp ứng hoàn toàn 4,2%, đáp ứng một phần 36,6%; 38,1% bệnh giữ

nguyên và 21,1% bệnh tiến triển. Nghiên cứu của Lê Thanh Đức (2013) cho

tỷ lệ đáp ứng chung là 40,5%, trong đó 8,1% đáp ứng hồn tồn, đáp ứng một

phần là 32,4%; 40,5% bệnh giữ nguyên và 18,9% bệnh tiến triển [10].

Một nghiên cứu của C. Vogel và CS (2010) trên 56 trường hợp UTV tái

phát di căn sau điều trị hóa chất phác đồ có anthracycline và taxan. Kết quả

nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ đáp chung là 38%, trong đó 4% đáp ứng hồn tồn,

34% đáp ứng một phần; 38% bệnh giữ nguyên và 20% bệnh tiến triển [6].

Theo Fumoleau và CS (2006), nghiên cứu trên 175 BN UTV di căn đã

thất bại với taxan và anthracycline cho kết quả tỷ lệ đáp ứng chung 41%,

trong đó có 4% đáp ứng hồn tồn [14].



27



Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tương tự kết quả của các nghiên

cứu trên.

4.2.5. Đáp ứng điều trị và một số yếu tố liên quan

- Số cơ quan tái phát di căn

Bảng 3.5 cho thấy mối liên quan giữa việc đáp ứng với số vị trí tái phát

di căn. Tỷ lệ đáp ứng đối với các tổn thương di căn đơn độc (1 vị trí) cao hơn

các tổn thương phối hợp nhiều vị trí. Tỷ lệ này tương ứng là 72,0% ở các tổn

thương đơn độc và 28,6% ở các tổn thương phối hợp nhiều vị trí. Sự khác biệt

này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Một số nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự kết quả nghiên cứu của

chúng tôi. Lê Thanh Đức (2013) cho kết quả di căn 1 vị trí có thời gian sống

bệnh khơng tiến triển dài hơn di căn nhiều vị trí [10]. Điều này đồng nghĩa với tỷ

lệ đáp ứng của nhóm BN di căn 1 vị trí cao hơn nhóm BN di căn nhiều vị trí.

Theo nghiên cứu của Andres Gadcia Palomo và CS (2012) cho thấy BN di căn

nhiều vị trí có tỷ lệ đáp ứng thấp hơn BN có di căn một vị trí (p =0,002) [9].

- Đường dùng thuốc

Bảng 4.1. Đáp ứng theo đường dùng thuốc của một số nghiên cứu

Năm NC



Tác giả



Đường dùng thuốc Số bệnh nhân (n) Đáp ứng (%)



2003



Rossi [16] Tĩnh mạch



2006



Fumoleu [7] Tĩnh mạch

Uống



54



37,7%

39,9%



175



Phối hợp



41%

45,7%



Trong kết quả nghiên cứu của chúng tơi khơng có sự khác biệt về tỷ lệ đáp

ứng khi điều trị hóa chất vinorelbine đường uống (43,4%), đường truyền tĩnh

mạch (45,5%) hay phối hợp cả hai con đường (50,0%).



28



Phân tích đường dùng theo các bước điều trị, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ đáp

ứng ở bước một cao hơn so với các bước tiếp theo (48,2%) so với 27,6% khi

điều trị ở bước hai và 24,2% khi điều trị ở bước sau. Trong bảng 3.3 cho thấy

BN dùng vinorelbin ở đường uống hay đường truyền tĩnh mạch thì tỷ lệ đáp ứng

giảm dần theo các bước điều trị. Tuy nhiên phân tích trên số lượng bệnh nhân

còn nhỏ nên sự khác biệt này chưa ghi nhận có ý nghĩa thống kê.

4.2.6. Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển

Kết quả thể hiện ở bảng 3.4 và biểu đồ 3.7 cho thấy có 43/71 BN có thời

gian sống bệnh khơng tiến triển trên 5 tháng, chiếm 45,2%. Trung bình thời

gian bệnh khơng tiến triển 7,2 ±5,6 tháng. Nghiên cứu của Lê Thanh Đức

(2013) cho thời gian đến khi bệnh tiến triển trung bình là 8,3 tháng, cao hơn

nghiên cứu của chúng tơi, điều này có thể giải thích do các BN trong nghiên

cứu của Lê Thanh Đức các bệnh nhân được điều trị vinorelbine ở những bước

sớm hơn (bước 1, bước 2) [10]. Theo nghiên cứu của Andres Gadcia Palomo

và CS (2012) trên 216 BN cho thấy thời gian sống bệnh khơng tiến triển trung

bình là 7,1 tháng, tương đương với nghiên cứu của chúng tôi [9]. Theo nghiên

cứu của Vogel C và CS (2010) là 6 tháng [15], thấp hơn nghiên cứu của chúng

tôi. Tuy nhiên nghiên cứu của Vogel C tiêu chuẩn lựa chọn là BN trên 60 tuổi,

do vậy mà thể trạng của BN có thể sẽ kém hơn trong nghiên cứu của chúng

tôi, dẫn đến kết quả thấp hơn.

4.2.7. Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và một số yếu tố liên quan

- Liên quan tới số cơ quan tái phát di căn

Số cơ quan tái phát di căn có liên quan tới tiên lượng bệnh, khả năng đáp

ứng với hóa chất, thời gian sống thêm của bệnh nhân. Tái phát di căn ở nhiều

cơ quan đặc biệt ở các tạng như gan, phổi, não có tiên lượng xấu hơn so với

một cơ quan và ở các vị trí như xương, hạch. Trong nghiên cứu của chúng tôi,

thời gian sống thêm bệnh không tiến triển ở những bệnh nhân tái phát di căn 1



29



cơ quan (9,1±6,2 tháng) dài hơn đáng kể so với nhiều cơ quan (4,3±3,7

tháng), có ý nghĩa thống kê với P<0,05. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu

của Fumoleu và CS với thời gian sống thêm bệnh khơng tiến triển trung bình

ở nhóm tái phát di căn một cơ quan và nhiều hơn một cơ quan trung bình là

9,4 tháng và 4,7 tháng [14].

- Liên quan tới đường dùng thuốc

Khi phân tích mối liên quan giữa thời gian sống thêm bệnh không tiến

triển với đặc điểm dùng thuốc, nghiên cứu của chúng tôi không cho thấy sự

khác biệt về đường dùng thuốc. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương

tự so với nghiên cứu của Barni (2007) [17]. Kết quả này phù hợp với các

nghiên cứu về dược lý học của thuốc vinorelbine dạng bào chế đường uống và

đường truyền với nồng độ thuốc trong huyết thanh giữa hai đường là khơng

có sự khác biệt.

4.3. Đánh giá một số độc tính của phác đồ

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ hạ bạch cầu (43,2%) và hạ bạch

cầu hạt (41,5%) cao hơn ở nhóm các bệnh nhân điều trị hóa chất đường

truyền tĩnh mạch so với đường uống tương ứng 25,7% và 24,9%. Kết quả này

cũng tương tự như nghiên cứu của A. Gauvin và CS (2000), nghiên cứu trên

các bệnh nhân UTV TPDC sử dụng vinorelbine truyền tĩnh mạch cho tỷ lệ hạ

bạch cầu là 50% và hạ bạch cầu hạt là 47%. Tuy nhiên, các bệnh nhân sử

dụng hóa chất đường uống lại có độc tính gây nơn/buồn nơn, viêm miệng và

tiêu chảy cao hơn. Đây là cơ sở để bác sỹ lâm sàng cân nhắc lựa chọn phương

pháp điều trị phù hợp với từng bệnh nhân để đạt được hiệu quả cao nhất và

hạn chế tối đa độc tính của hóa chất, nâng cao chất lượng cuộc sống cho

người bệnh.



KẾT LUẬN



30



Nghiên cứu trên 71 bệnh nhân ung thư vú tái phát di căn, đã điều trị hóa

chất phác đồ có taxane /anthracycline trước đó, được điều trị đơn hóa chất

vinorelbine tại Bệnh viện K từ 3/2018 đến tháng 12/2018. Chúng tôi đưa ra

các kết luận sau:







Kết luận về kết quả điều trị

- Tỷ lệ đáp ứng

4,2% BN đáp ứng hoàn toàn, 36,6% BN đáp ứng một phần, tỷ lệ đáp ứng







chung là 40,8%.

Tỷ lệ đáp ứng đối với các tổn thương di căn đơn độc (71,4%) cao hơn các tổn







thương phối hợp nhiều vị trí (21,0%) với p<0,05.

Khơng có sự khác biệt về tỷ lệ đáp ứng giữa việc điều trị thuốc đường uống



1.



và truyền tĩnh mạch hoặc phối hợp cả hai đường.

- Thời gian sống thêm bệnh khơng tiến triển







Trung bình thời gian đến khi bệnh tiến triển 7,2 tháng.

Khơng có sự khác biệt về thời gian sống thêm bệnh không tiến triển giữa việc

điều trị thuốc đường uống, truyền tĩnh mạch hoặc phối hợp.

2. Kết luận về độc tính của phác đồ

- Đường truyền tĩnh mạch gây độc tính hạ bạch cầu và bạch cầu hạt

nhiều hơn trong khi hóa chất đường uống cho gây ra nhiều độc tính trên hệ

tiêu hóa, viêm miệng và nơn/buồn nơn.



KIẾN NGHỊ

1.



Thời gian nghiên cứu bị hạn chế nên chúng tôi chưa tiến hành theo dõi,

đánh giá được thời gian sống thêm toàn bộ.



31



2.



Vinorelbine sử dụng đường uống hoặc đường truyền tĩnh mạch đơn

thuần hoặc phối hợp trên BN UTV tái phát di căn là phác đồ phù hợp về

tính tiện lợi, hiệu quả và an toàn cho các BN UTV đã trải qua nhiều phác

đồ hóa chất trước đó, nên được áp dụng rộng rãi trên lâm sàng tại các cơ

sở điều trị ung thư đặc biệt là các tuyến cơ sở.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



GLOBOCAN (2012), Breast Cancer Estimated Incidence, Mortality and

Prevalence Worldwide in 2012, tại trang web http://globocan.iarc.fr/



2.



Pages/fact_sheets_cancer.aspx.

Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Quảng và CS (2015), Ung thư vú, Ung

thư học, NXB Y học, tr. 67-71.



3.



National Comprehensive Cancer Network (V.2.2016), Breast cancer.



4.



NCCN clinical practice guidelines in oncology (V.3.2014), Breast cancer.



5.



P. Fumoleau, T. Delozier, J. M. Extra et al (1995), Vinorelbine

(Navelbine) in the treatment of breast cancer: the European experience,

Semin Oncol, 22(2 Suppl 5), Pg. 22-8; discussion 28-9.



6.



C. Vogel, M. O'Rourke, E. Winer et al (1999), Vinorelbine as first-line

chemotherapy for advanced breast cancer in women 60 years of age or

older, Ann Oncol, 10(4), Pg. 397-402.



7.



P. Fumoleau, T. Delozier, J. M. Extra et al (1995), Vinorelbine

(Navelbine) in the treatment of breast cancer: the European experience,

Semin Oncol, 22(2 Suppl 5), Pg. 22-8; discussion 28-9.



8.



Baweja. M, Suman. V, Fitch. T et al (2006), Phase II trial of oral

vinorelbine for the treatment ofmetastatic breast cancer in patients ‡65

years of age, Annals of Oncology.



9.



Andres Garcia Palomo1, et al (2012), Final Results of an International

Retrospective Observational Study in Patients with Advanced Breast

Cancer Treated with Oral Vinorelbine-based Chemotherapy, Anticancer

research.



10.



Lê Thanh Đức và CS (2013), Đánh giá hiệu quả của phác đồ đơn hóa

chất Vinorelbine trong điều trị ung thư vú tái phát di căn, Tạp chí ung

thư học Việt Nam.



11.



M. Marty et al, Oral vinorelbine pharmacokinetics and absolute

bioavailability study in patients with solid tumors, Annals of Oncology

12 1643-1649, 2001.



12.



H. Bourgeois et al, Evaluation of oral versus intravenous dose of

vinorelbine to achieve blood exposures in patients with solid tumours,

Cancer Chemother Pharmacol (2007) 60:407-413.



13.



D. Laessig, H. J. Stemmler, U. Vehling-Kaiser et al (2007), Gemcitabine

and carboplatin in intensively pretreated patients with metastatic breast

cancer, Oncology, 73(5-6), Pg. 407-14.



14.



P. Fumoleau, T. Delozier, J. M. Extra et al (1995), Vinorelbine

(Navelbine) in the treatment of breast cancer: the European experience,

Semin Oncol, 22(2 Suppl 5), Pg. 22-8; discussion 28-9.



15.



C. Vogel, M. O'Rourke, E. Winer et al (1999), Vinorelbine as first-line

chemotherapy for advanced breast cancer in women 60 years of age or

older, Ann Oncol, 10(4), Pg. 397-402.



16.



S. Rossi, M. Basso, A. Strippoli et al (2015), Hormone Receptor Status

and HER2 Expression in Primary Breast Cancer Compared With

Synchronous Axillary Metastases or Recurrent Metastatic Disease, Clin

Breast Cancer, 15(5), Pg. 307-12



17.



S. Barni, B. Freier, I. Garau et al (2016), Burden of advanced breast

cancer for patients and caregivers in Europe: comparison of two

treatment forms of vinorelbine, oral and intravenous, Curr Med Res

Opin, 32(11), Pg. 1807-1812.



18.



Amelie Gauvin et al, Bayesian Estimate of vinorelbine pharmacokinetic

parameters in elderly patients with advanced metastatic cancer, Clin

Cancer Research, 2690 Vol 6, 2690-2695, July 2000.



19.



Verma S, Wong NS, Trudeau M et al (2007), Survival differences

observed in metastatic breast cancer patients treated with capecitabine

when compared with vinorelbine after pretreatment with anthracycline

and taxane, Am J Clin Oncol, 30(3), Pg. 297-302.



20.



P. Reichardt, G. von Minckwitz, P. C. Thuss-Patience et al (2003),

Multicenter phase II study of oral capecitabine (Xeloda) in patients with

metastatic breast cancer relapsing after treatment with a taxanecontaining therapy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tỷ lệ hạ bạch cầu và hạ bạch cao hạt cao hơn ở nhóm điều trị hóa chất truyền tĩnh mạch (43,2% và 41,5%) so với hai đường còn lại. Nôn/buồn nôn, tiêu chảy và viêm miệng gặp nhiều hơn ở đường uống tương ứng 45,2%, 42,1% và 42,1%.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×