Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể trung bình theo nghiên cứu của chúng tôi là 146,95±38,87 phút. Thời gian THNCT của một số tác giả lần lượt là 160 phút (Lê Tuấn Anh), 119 phút (Nguyễn Thị Lan Anh) [63],[64]. Chúng tôi nhận thấy rằng cần hoàn thiện thêm kĩ

Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể trung bình theo nghiên cứu của chúng tôi là 146,95±38,87 phút. Thời gian THNCT của một số tác giả lần lượt là 160 phút (Lê Tuấn Anh), 119 phút (Nguyễn Thị Lan Anh) [63],[64]. Chúng tôi nhận thấy rằng cần hoàn thiện thêm kĩ

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



Tuấn Anh), 119 phút (Nguyễn Thị Lan Anh) [63],[64]. Chúng tơi nhận thấy rằng

cần hồn thiện thêm kĩ thuật phẫu thuật để rút ngắn thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể

và cặp ĐMC nhằm cải thiện kết quả phẫu thuật.

4.1.2.3. Tiền sử cơn tím thiếu Oxy

Tiền sử có cơn thiếu oxy phát hiện ở 37 trường hợp chiếm 39,4%. Cơn thiếu

oxy xuất hiện do giảm đột ngột lượng oxy trong máu gây ra tình trạng thiếu oxy cho

các tạng trong đó có não, tim, thận và biểu hiện trên lâm sàng nặng nề nhất là cơn

ngất kéo dài và hậu quả toan máu, tăng CO 2 và tử vong hoặc nhẹ hơn là cơn tím,

ngồi xổm. Tỷ lệ cơn tím thiếu oxy trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự như

trong các nghiên cứu của Phan Hùng Việt (36,4%),Lê Tuấn Anh (39,2%) mặc dù

các quần thể nghiên cứu của các tác giả này có độ tuổi lớn hơn độ tuổi của các bệnh

nhân trong nghiên cứu của chúng tôi. Điều này cho thấy cơn thiếu oxy ở những

bệnh nhi mắc bệnh tứ chứng Fallot cần được đặc biệt chú ý phát hiện để chỉ định

phẫu thuật kịp thời [60],[63],

4.1.2.4. Chỉ số SpO2 trước phẫu thuật

Bệnh tứ chứng Fallot là bệnh tim bẩm sinh có tím và tím xuất hiện tương đối

sớm, đặc biệt là ở các thể nặng. Độ bão hòa oxy đo được qua da phản ánh khá chính

xác về mức độ tím của bệnh nhân trên lâm sàng, cũng như mức độ hẹp của ĐRTP

qua siêu âm tim. Có 22,34% số trẻ có độ bão hòa oxy đo được dưới 80%. Tỉ lệ này

thấp hơn so với nghiên cứu của Đặng Thị Hải Vân là 30,2%[66].

4.2. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHỎE CỦA TRẺ

SAU PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ BỆNH TỨ CHỨNG FALLOT.

4.2.1. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe theo thang điểm PedsQL TM

4.0 Generic Core Scales

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe về lĩnh vực thể chất

Về CLCS trong lĩnh vực thể chất, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy lĩnh vực

này trong đánh giá của trẻ và bố mẹ trẻ sau phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng

Fallot thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với nhóm trẻ khỏe mạnh theo



62



nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Mai(p<0,05) [36].Nghiên cứu của tác giả Kwon

và cộng sự cũng cho thấy kết quả tương tự [38]. Việc mắc tứ chứng Fallot và phải

trải qua một cuộc đại phẫu đã làm ảnh hưởng đến vấn đề vui chơi, hoạt động thể lực

của trẻ.

Các bệnh tim mạch nói chung và bệnh tứ chứng Fallot nói riêng đều có những

ảnh hưởng to lớn đến thể lực của trẻ. Những biến chứng và mức độ nguy hiểm đều

tăng lên theo thời gian mắc bệnh. Việc điều trị phẫu thuật sửa tồn bộ cho trẻ mắc

bệnh tứ chứng Fallot đã góp phần làm cải thiện rất nhiều CLCS đặc biệt về vấn đề

thể chất. Do vậy, trẻ sau phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng Fallot cần được hỗ

trợ ngay từ đầu đối với vấn đề nâng cao thể chất tồn diện để có thể thực hiện được

các sinh hoạt cá nhân, tham gia những hoạt động vui chơi giải trí tại gia đình và

trường lớp. Trong đó, chế độ ăn uống và hoạt động thể dục thể thao đóng vai trò

quan trọng để đảm bảo mục tiêu điều trị này. Tại các nền y học phát triển, điều này

đã được thực hiện có hiệu quả bằng một chế độ ăn uống – sinh hoạt khoa học phù

hợp với từng bệnh nhân do các chuyên gia dinh dưỡng thiết lập kết hợp với tư vấn cụ

thể cho trẻ và phụ huynh. Vì vậy, trẻ nhỏ sau phẫu thuật sửa tồn bộ bệnh tứ chứng

Fallot vẫn phát triển thể chất khá toàn diện khi đến tuổi trưởng thành [10].

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe về lĩnh vực cảm xúc

Về lĩnh vực cảm xúc, CLCS của trẻ sau phẫu thuật bệnh tứ chứng Fallot do trẻ

và bố mẹ trẻ đánh giá là thấp hơn với trẻ khỏe mạnh [36]. Theo nghiên cứu của Kwon

và cộng sự, CLCS về lĩnh vực cảm xúc do bố mẹ đánh giá hay do trẻ đánh giá là tương

đương so với trẻ khỏe mạnh [38]. Nghiên cứu của Elisabeth Bygstad và cộng sự trên

những người đàn ông trưởng thành đã từng phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng

Fallot lúc nhỏ cũng cho kết quả tương tự [62]. Sự khác biệt giữa các nghiên cứu có thể

do độ tuổi của đối tượng khác nhau cũng như bộ câu hỏi sử dụng khác nhau.

Bệnh tứ chứng Fallot là căn bệnh bẩm sinh nặng nề, q trình điều trị và các

biến chứng có thể tác động tiêu cực đến nhiều mặt trong cuộc sống, đặc biệt là tâm

lý của trẻ. Không chỉ ở các quốc gia đang phát triển, tại những nước phát triển với

điều kiện điều trị hiện đại và tồn diện thì cảm xúc, tâm lý của trẻ vẫn là vấn đề rất



63



khó can thiệp trong công tác quản lý bệnh nhân. Để có thể cải thiện, nâng cao

CLCS về cảm xúc cần phải có sự hỗ trợ của các bác sỹ, chuyên gia tâm lý cũng như

gia đình, bạn bè và những người xung quanh để có thể giúp trẻ ổn định cảm xúc,

phát triển tâm lý phù hợp với lứa tuổi.

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe về lĩnh vực quan hệ xã hội

Về lĩnh vực quan hệ xã hội, điểm CLCS ở trẻ sau phẫu thuật bệnh tứ chứng

Fallot tự đánh giá hay do bố mẹ đánh giá đều thấp hơn so với trẻ khỏe mạnh theo

nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Mai [36]. Kết quả này cũng tương tự với nghiên

cứu của Alessandra Frigiola và cộng sự [67]. Nghiên cứu cuả Kwon và cộng sự lại chỉ

ra rằng, điểm CLCS về lĩnh vực quan hệ xã hội là tương đương trẻ khỏe mạnh theo trẻ

tự đánh giá nhưng thấp hơn trẻ khỏe mạnh theo bố mẹ đánh giá (p<0,001) [38].

Ngồi ra, chúng tơi nhận thấy khó khăn lớn nhất của những trẻ lớn trong lĩnh

vực này là vết sẹo lớn ở ngực, đặc biệt là các trẻ nữ tuổi dậy thì. Điều này khiến

nhiều trẻ cảm thấy rụt rè, tự ti, mặc cảm về cơ thể mình, qua đó khó khăn trong việc

hòa nhập với bạn bè. Điều này cũng xảy ra trong nghiên cứu của Daliento và cộng

sự khi nghiên cứu về CLCS ở người lớn có tiền sử phẫu thuật bệnh tứ chứng Fallot

khi còn nhỏ. Kết quả này cho thấy: Sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội

là rất cần thiết, có thể bù đắp những thiệt thòi giúp trẻ hòa nhập tốt với bạn bè đồng

trang lứa, vì thế bố mẹ, nhà trường và xã hội cần tạo nhiều điều kiện giúp đỡ cho trẻ

sau phẫu thuật bệnh tứ chứng Fallot có thể vượt qua mặc cảm, hòa nhập tốt hơn với

xã hội

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe về lĩnh vực học tập

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong lĩnh vực học tập theo trẻ và bố mẹ đánh

giá, trẻ sau phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng Fallot có điểm CLCS thấp hơn so

với trẻ khỏe mạnh [36]. Theo Kwon và cộng sự thì điểm CLCS trong lĩnh vực học

tập theo cả bố mẹ và trẻ đánh giá đều thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với

trẻ khỏe mạnh, điều này cũng tương tự với nghiên cứu của Alessandra Frigiola và

cộng sự [38],[67].



64



Điều này chứng tỏ rằng, sau phẫu thuật sửa tồn bộ bệnh tứ chứng Fallot, trẻ

có khó khăn về học tập nhiều hơn so với trẻ bình thường. Các bệnh nhân được theo

dõi ngoại trú định kì tại các trung tâm y tế lớn và có thể phải điều trị thuốc kéo dài

cộng với những lo lắng về bệnh tật có thể ảnh hưởng tới việc học tập của trẻ, vì thế

sự sát sao, chú ý của thầy cô ở trường là vô cùng quan trọng trong việc giúp trẻ sau

phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng Fallot tiếp thu kiến thức tốt hơn.

- Chất lượng cuộc sống tổng quát liên quan đến sức khỏe theo thang điểm PedsQL

TM



4.0 Generic Core Scales

CLCS tổng quát do trẻ sau phẫu thuật bệnh tứ chứng Fallot tự đánh giá và do



bố mẹ đánh giá (với nhóm 2-4 tuổi) trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với

CLCS của trẻ khỏe mạnh khi so sánh trên từng nhóm tuổi. Điều này là hồn tồn dễ

hiểu vì những biến chứng sau mổ, những vết sẹo lớn trên cơ thể, những thời gian

nghỉ học tái khám, nằm viện, hay những tác dụng phụ của thuốc tim mạch thật sự

ảnh hưởng nhiều đến CLCS của trẻ sau phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot.

Theo nghiên cứu của Kwon và cộng sự thì CLCS chung do trẻ sau phẫu thuật bệnh

tứ chứng Fallot đánh giá là tương đương so với trẻ khỏe mạnh, nhưng CLCS chung

do bố mẹ đánh giá lại thấp hơn so với trẻ khỏe mạnh (p<0,05), điều này cũng tương

tự với nghiên cứu của Alessandra Frigiola và cộng sự [38],[67]. Sự khác biệt có thể

do cỡ mẫu khác nhau cũng như bộ câu hỏi sử dụng khác nhau.

Điểm CLCS do bố mẹ trẻ sau phẫu thuật bệnh tứ chứng Fallot đánh giá thấp

hơn so với trẻ tự đánh giá, điều này giống với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh

Mai trên trẻ khỏe mạnh và giống với nghiên cứu của Kwon và cộng sự [38],[36].

Điều này cho thấy bố mẹ thường có xu hướng lo lắng cho con cái nhiều hơn là trẻ tự

lo lắng cho mình nhất là khi con cái mắc một bệnh nặng và trải qua 1 cuộc đại

phẫu thuật như phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng Fallot.

4.2.2. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe theo thang điểm Pediatric

Quality of Life Inventory TM 3.0 Cardiac Module

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe trong lĩnh vực

triệu chứng tim mạch



65



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm HrQoL của trẻ ở lĩnh vực

liên quan đến các triệu chứng tim mạch ở trẻ sau phẫu thuật bệnh tứ chứng Fallot

do bố mẹ trẻ đánh giá thấp hơn so với trẻ đánh giá (p < 0,05). Điều này có nghĩa

là, bố mẹ cảm thấy con mình có nhiều khó khăn hơn bản thân trẻ tự báo cáo đối

với các biểu hiện triệu chứng của bệnh. Cụ thể, những khó khăn mà bố mẹ trẻ

cảm thấy nhiều hơn rõ rệt là: cảm thấy hụt hơi khi chơi thể thao hoặc tập thể dục,

dễ bị cảm lạnh, tim đập nhanh, mơi xanh tím khi chạy, cần phải nghỉ ngơi nhiều hơn

các bạn (p < 0,05).

Nghiên cứu của tác giả Sindy Atmadja (2017) cũng cho thấy điểm trung bình

HrQoL khi bố mẹ trẻ đánh giá trong lĩnh vực triệu chứng tim mạch thấp hơn trẻ

đánh giá, trong khi nghiên cứu của Kwon (2011) không thấy sự khác biệt [38],[45].

Không phải tất cả trẻ mắc bệnh ở mọi lứa tuổi khi được phỏng vấn đều hiểu được

cụ thế mức độ nghiêm trọng của vấn đề mình gặp phải ảnh hưởng như thế nào

đến cuộc sống nói chung. Trong khi đó, bố mẹ là những người ln quan tâm cho

sức khỏe của con cái nên họ cảm nhận được rõ hơn sự khơng hài lòng của con

mình khi thường xuyên phải đối mặt với các triệu chứng của một bệnh nặng phải

trải qua phẫu thuật như bệnh tứ chứng Fallot. Tuy nhiên, tâm lý lo lắng của các

bậc phụ huynh có thể là yếu tố chủ quan khiến kết quả đánh giá của họ khác biệt

nhiều so với trẻ.

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe về lĩnh vực rào cản điều trị

Trong nghiên cứu, điểm HrQoL ở lĩnh vực rào cản điều trị do bố mẹ đánh giá

tương đương so với trẻ tự đánh giá (p > 0,05). Kết quả này có nghĩa là bố mẹ thấu

hiểu những khó khăn mà trẻ gặp phải trong quá trình điều trị của trẻ. Điều này rất

đáng mừng. Do nhiều trẻ tuổi còn nhỏ, chưa nhận thức hết được những phức tạp của

bệnh cũng như mức độ quan trọng của việc tuân thủ điều trị vì thế bố mẹ phải là

người hiểu được rõ ràng tình trạng bệnh của con mình, hỗ trợ con giúp con tuân thủ

theo đúng phác đồ của bác sĩ.

Khi so sánh với những nghiên cứu khác của Karen E và cộng sự hay Andrea B

và cộng sự về CLCS của trẻ mắc TBS nói chung, chúng tơi nhận thấy các BN sau



66



phẫu thuật bệnh tứ chứng Fallot có nhiều khó khăn về lĩnh vực rào cản điều trị hơn

so với những trẻ mắc TBS nói chung [47],[68].

Tuân thủ điều trị là vấn đề cơ bản quyết định hiệu quả điều trị, đặc biệt đối với

bệnh nặng như sau phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng Fallot. Tuy nhiên, khi điều trị

trẻ có thể gặp khó khăn như quên uống thuốc, quá lo lắng về việc uống thuốc, uống thuốc

làm trẻ cảm thấy mệt mỏi… Điều này có thể khiến trẻ lúng túng và trẻ cần phải có sự tư

vấn của bác sỹ điều trị kết hợp với quan tâm của người thân trong điều trị bệnh lâu dài.

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe trong lĩnh vực

cảm nhận về ngoại hình.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, điểm CLCS về lĩnh vực cảm nhận về ngoại

hình do trẻ đánh giá thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với bố mẹ trẻ đánh

giá (p<0,05), điều này tương đương với nghiên cứu của Sindy A và cộng sự [45].

Nghiên cứu của Kwon và cộng sự cho thấy về lĩnh vực này, sự đánh giá của trẻ và

bố mẹ trẻ là tương đương [38].

Điều này cho thấy nhiều khi trẻ có những mặc cảm, tự ti riêng về bản thân của

mình mà bố mẹ khơng biết được, nhất là ở những trẻ gái tuổi dậy thì. Những trẻ gái

độ tuổi dậy thì 8-12 tuổi trong nghiên cứu của chúng tơi cho biết các em thường

cảm thấy tự ti và xấu hổ vì vết sẹo để lại trên ngực mình và ngại khi tham gia các

hoạt động tập thể như bơi lội cùng các bạn. Nghiên cứu của Daliento và cộng sự

cũng cho thấy thời kỳ niên thiếu là một giai đoạn khó khăn với những trẻ sau phẫu

thuật sửa tồn bộ bệnh tứ chứng Fallot do những vết sẹo cản trở sự kết bạn cũng

như sự thân thiết trong quan hệ bạn bè [10]. Ngày nay có nhiều phương pháp điều

trị sẹo hứa hẹn đem lại kết quả khả quan [69].

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe trong lĩnh vực lo lắng về điều trị.

Điểm HrQoL ở lĩnh vực lo lắng về điều trị do bố mẹ đánh giá thấp hơn so với

đánh giá của trẻ bị bệnh. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy bố mẹ đánh giá sự

lo lắng của trẻ trầm trọng hơn rất nhiều [48],[35]. Bố mẹ là những người thân thiết

và quan tâm nhất đối với trẻ em, là nhân tố quan trọng trong quá trình hỗ trợ điều trị

bệnh. Hiểu rõ vấn đề và mức độ lo lắng của con mình giúp bố mẹ có sự quan tâm cũng

như tác động can thiệp cần thiết nhằm ổn định tâm lý và nâng cao HrQoL cho trẻ.



67



Trong các vấn đề được hỏi, bố mẹ cho rằng con họ lo lắng nhiều hơn về việc

cảm thấy sợ khi phải đợi gặp bác sĩ so với bản thân trẻ tự nhận thấy (p < 0,05).

Nhiều trẻ sau phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tứ chứng Fallot do phải trải qua đại phẫu

thuật cũng như nhiều lần lấy máu và nhiều đau đớn nên trẻ có tâm lý sợ bác sĩ, sợ

bệnh viện. Vì vậy, nhân viên y tế và bố mẹ cần giải thích, nhẹ nhàng, ân cần, giúp

trẻ đỡ lo lắng và sợ hãi mỗi khi tái khám.

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe trong lĩnh vực nhận thức

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy CLCS về lĩnh vực nhận thức, điểm

CLCS do bố mẹ trẻ đánh giá thấp hơn một cách rõ ràng so với trẻ tự đánh giá. Theo

nghiên cứu của Kwon và nghiên cứu của Peter S thì điểm CLCS về lĩnh vực nhận

thức do trẻ đánh giá và bố mẹ trẻ đánh giá là tương đương nhau [38],[48].

Điểm CLCS về vấn đề nhận thức do trẻ tự đánh giá trong nghiên cứu của

chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Karen E nghiên cứu trên 60 trẻ mắc TBS

nói chung tại Úc và nghiên cứu của Andrea B nghiên cứu trên 254 trẻ mắc TBS tại

Hungary. Trong nghiên cứu của Andrea sự khác biệt giữa đánh giá của trẻ và bố mẹ

trẻ là khơng có ý nghĩa thống kê, trong nghiên cứu của Karen E, điểm CLCS về lĩnh

vực nhận thức do trẻ đánh giá cao hơn bố mẹ trẻ đánh giá một cách có ý nghĩa

thống kê [68],[47].

HrQoL trong lĩnh vực nhận thức do bố mẹ đánh giá thấp hơn so với trẻ tự đánh

giá, nghĩa là phụ huynh nhận thấy trẻ nhỏ gặp nhiều khó khăn hơn trong các hoạt

động nhận thức hàng ngày. Sự khác biệt trong nhận định HrQoL của trẻ thể hiện sự

lo lắng của bố mẹ khi con của họ mắc một bệnh lý cần trải qua một cuộc đại phẫu

thuật.

- Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe về lĩnh vực giao tiếp

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm HrQoL ở lĩnh vực giao

tiếp do trẻ đánh giá cao hơn so với bố mẹ trẻ đánh giá. Kết quả này tương tự với

nhiều nghiên cứu khác [47],[35]. Tuy nhiên cũng có những nghiên cứu cho thấy

CLCS ở lĩnh vực này là như nhau giữa trẻ và bố mẹ đánh giá [38],[45],[68].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể trung bình theo nghiên cứu của chúng tôi là 146,95±38,87 phút. Thời gian THNCT của một số tác giả lần lượt là 160 phút (Lê Tuấn Anh), 119 phút (Nguyễn Thị Lan Anh) [63],[64]. Chúng tôi nhận thấy rằng cần hoàn thiện thêm kĩ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×