Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung theo tuổi:

- Độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung theo tuổi:

Tải bản đầy đủ - 0trang

66



thường và nhóm bệnh tim thiếu máu cục bộ đều thấy có sự tăng độ dày nội

trung mạc ĐM cảnh chung tương ứng với sự tăng lên của tuổi [94].

Theo bảng 3.12, cho thấy tỷ lệ có dày nội trung mạc động mạch cảnh ở

bệnh nhân gút trên 50 tuổi cao hơn so với nhóm dưới 50 tuồi, sự khác biệt

này có ý nghĩa thống kê, với p< 0,05. Kết quả của chúng tôi tương tự kết quả

nghiên cứu của Lê Văn Sỹ (2000) ở người bình thường và người có nguy cơ

xơ vữa động mạch, cho thấy tỷ lệ có dày nội trung mạc động mạch cảnh

chung cũng tăng lên theo tuổi và cao hơn ở nhóm trên 50 tuổi so với nhóm

bệnh nhân dưới 50 tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [97].

Theo Gachevan (2017) cho rằng, tăng độ dày nội trung mạc ĐM cảnh được

xem là một yếu tố xơ vữa động mạch sớm. Tăng độ dày nội trung mạc ĐM là

yếu tố tiên lượng cho các hội chứng vành cấp và các đột quỵ [7]. Liên quan

giữa độ dày nội trung mạc ĐM cảnh và tuổi phản ánh tiến triển của xơ vữa

động mạch theo tiến triển tự nhiên. Sự biến đổi thành động mạch tăng theo

tuổi, độ dày nội trung mạc ĐM cũng tăng lên theo tuổi. Tuổi liên quan đến

những yếu tố phụ thêm khác như biến đổi lớp nội mạc, rối loạn q trình

chuyển hóa và sửa chữa của lớp nội mạc [8]. Như vậy, tuổi là một yếu tố

nguy cơ cho xơ vữa động mạch ở mọi đối tượng và ở các bệnh nhân gút. Việc

cần thiết là phải ngăn chặn các yếu tố phối hợp khác để phòng tránh tiến triển

của xơ vữa động mạch ở các bệnh nhân này.

- Độ dày nội trung mạc động mạch cảnh và BMI:

Theo Fang J và CS (2010), nghiên cứu ở Trung Quốc trên đối tượng trẻ

em độ tuổi 10,5± 1,6 đã nhận thấy bề dày nội trung mạc ĐM cảnh của nhóm

béo phì lớn hơn so với nhóm chứng với p<0,01 [98]. Như vậy, tình trạng xơ

vữa động mạch có thể bắt đầu rất sớm ở trẻ em béo phì thể hiện qua sự tăng

độ dày nội trung mạc ĐM cảnh.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở bảng 3.12, cho thấy ở bệnh nhân gút



67



có BMI ≥23 có tỷ lệ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung cao hơn nhóm

bệnh nhân có BMI < 23, tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê

(p>0,05). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như kết quả nghiên

cứu của Nguyễn Minh Tuấn (2013), trên người tiền đái tháo đường, cũng cho

thấy tỷ lệ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung có khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê giữa nhóm có BMI≥23 và BMI < 23 (p>0,05).

- Độ dày nội trung mạc động mạch cảnh và tình trạng có hạt tophi ở bệnh

nhân gút:

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ dày nội trung mạc bệnh

nhân gút có hạt tophi cao hơn so với nhóm bệnh nhân khơng có hạt tophi, tuy

nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Kết quả này

khác biệt với kết quả nghiên cứu của Gancheva R (2017). Theo nghiên cứu

này, ở bệnh nhân gút có hạt tophi có tỷ lệ dày nội trung mạc động mạch cảnh

chung cao hơn nhóm gút khơng có hạt tophi (p<0,05). Đồng thời, ở nhóm gút

có hạt tophi làm tăng nguy cơ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh gần gấp

đơi so với gút khơng có hạt tophi. Điều này có thể được lý giải rằng, sự xuất

hiện của hạt tophi là biểu hiện của viêm nặng và kéo dài, dẫn đến tổn thương

lớp nội mạc mạch máu, làm trầm trọng thêm các yếu tố nguy cơ tim mạch

khác: như ức chế endothelia nitric oxide synthase, oxy hóa lipid. Sự thay đổi

cấu trúc mạch cảnh của nhóm bệnh nhân gút có hạt tophi là rõ ràng hơn so

với các giai đoạn sớm của bệnh thậm chí kết quả nghiên cứu còn cho thấy ảnh

hưởng của hạt tophi còn lớn hơn cả tăng huyết áp - là một nguy cơ tim mạch

đã được biết rõ [7].

- Độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung và giai đoạn của bệnh gút:

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có dày nội trung mạc

động mạch cảnh cao hơn ở nhóm gút mạn (chiếm tỷ lệ 80%) so với nhóm gút

cấp (chiếm 50%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Nghiên cứu của



68



chúng tôi phù hợp với kết quả của Gancheva (2017) [7].

- Độ dày nội trung mạc động mạch cảnh và các yếu tố nguy cơ xơ vữa mạch:

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khơng có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về tỷ lệ dày nội trung mạc động mạch cảnh giữa nhóm bệnh

nhân có rối loạn lipid máu và khơng rối loạn lipid máu, đái tháo đường và

khơng có đái tháo đường, suy thận và khơng có suy thận (p>0,05). Kết quả

của chúng tơi có khác biệt với một số tác giả khác. Theo Nguyễn Thị Thu

Hương (2004), cho thấy nhóm bệnh nhân đái tháo đường type 2 có tăng

triglycerid sau ăn có tỷ lệ dày nội trung mạc động mạch cảnh tại máng cảnh

chiếm 91,1 % so với nhóm bệnh nhân đái tháo đường khơng tăng triglycerid

sau ăn chiếm tỷ lệ 60,0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với (p<0,05) [94].

Theo Đặng Thị Việt Hà (2011), đánh giá tổn thương xơ vữa động mạch cảnh

trên bệnh nhân suy thận mạn tính, cho thấy nhóm bệnh nhân chạy thận nhân

tạo chu kỳ có tỷ lệ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh cao hơn nhóm suy

thận mạn tính điều trị bảo tồn và người bình thường, có ý nghĩa thống kê với

p<0,05 [99]. Nghiên cứu của chúng tơi cũng cho thấy, khơng có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung ở bệnh

nhân gút đơn thuần và nhóm bệnh nhân gút có bệnh phối hợp (p>0,05) (bảng

3.13). Như vậy, chúng tôi thấy các kết quả về đặc điểm độ dày nội trung mạc

động mạch cảnh chung với một số yếu tố nguy cơ xơ vữa như tăng huyết áp,

đái tháo đường, suy thận, rối loạn lipid máu (cũng là những bệnh phối hợp

thường gặp của bệnh nhân gút) so với kết quả nghiên cứu của một số tác giả

trong và ngồi nước có sự khác nhau có thể được lý giải là do cỡ mẫu nghiên

cứu của chúng tơi còn ít nên chưa có tính đại diện cho bệnh nhân gút nói

chung về các đặc điểm trên.

- Độ dày nội trung mạc động mạch cảnh và nồng độ acid uric, CRP máu:

Theo bảng 3.14 cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân gút có dày nội trung mạc



69



động mạch cảnh cao hơn ở nhóm gút có tăng nồng độ acid uric > 420 µmol/l

so với nhóm có nồng độ acid uric bình thường, tuy nhiên sự khác biệt khơng

có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Đồng thời, chúng tơi cũng khơng thấy sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ dày nội trung mạc động mạch cảnh ở nhóm

có tăng CRP và khơng tăng CRP (p>0,05) (bảng 3.14).

So sánh với một nghiên cứu đánh giá sớm xơ vữa động mạch cảnh ở

bệnh nhân gút năm 2017 cho thấy, với bệnh nhân gút mạn có hạt tophi thì tỷ

lệ dày nội trung mạc động mạch cảnh cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm

có nồng độ CRP máu cao và có nồng độ acid uric máu cao so với nhóm

chứng (p< 0,001) [7].

4.3.2. Đặc điểm mảng xơ vữa động mạch cảnh của đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 5/70 bệnh nhân gút có mảng xơ

vữa chiếm tỷ lệ 7,1 % và cả 5 bệnh nhân có MXV đều thuộc nhóm tuổi ≥ 50

tuổi. Tỷ lệ có MXV của bệnh nhân gút trong nghiên cứu của chúng tôi cao

hơn kết quả nghiên cứu Lê Văn Sỹ (2000) ở người bình thường tỷ lệ có MXV

là 6,8%. Vị trí tổn thương động mạch cảnh: Kết quả của chúng tơi cho thấy có

thể gặp MXV ở các vị trí khác nhau như máng cảnh, động mạch cảnh trong,

động mạch cảnh chung, tuy nhiên vị trí hay gặp nhất trong nghiên cứu của

chúng tôi là máng cảnh chiếm 60,0 %. Điều này có thể giải thích do đặc điểm

giải phẫu của hành cảnh có đường kính lớn hơn đường kính của động mạch

cảnh chung ở phía trước, động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngồi ở

phía sau, nên dòng máu đi từ động mạch cảnh chung vào hành cảnh sẽ giảm

tốc độ, tạo điều kiện dễ lắng đọng các vật chất trong dòng máu, trong đó có

lipid. Đồng thời, dòng máu di chuyển từ nơi có đường kính lớn vào nơi có

đường kính nhỏ ở phía xa của hành cảnh cũng khiến cho tốc độ của dòng máu

tăng lên, dễ gây tổn thương cho nội mạch động mạch hơn. Kết hợp hai đặc

điểm này, máng cảnh là vị trí đầu tiên dễ bị xơ vữa của động mạch cảnh



70



[100]. Trong nghiên cứu của chúng tơi có 20,0% MXV ở vị trí động mạch

cảnh trong. Mặc dù tỷ lệ này thấp so với vị trí máng cảnh, nhưng có ý nghĩa

rất lớn trong tiên lượng nguy cơ tai biến mạch não vì có tới 1/3 các trường

hợp tai biến mạch não có nguyên nhân do MXV ở vị trí này. Về hình thái

mảng xơ vữa, trong nghiên cứu của chúng tơi chỉ có 60 % MXV mềm và 40%

MXV có vơi hóa. Vơi hóa được coi là giai đoạn cuối của q trình xơ vữa.

MXV bị vơi hóa ít có khả năng bị nứt hơn. Tuy nhiên diễn biến tiếp theo của

MXV vơi hóa còn chưa rõ, có thể tiếp tục ổn định khơng gây biến chứng gì,

nhưng cũng có thể do thành mạch bị cứng lại, mà MXV vữa vơi hóa lại trở

thành điểm yếu để cho dòng máu tác động vào, có thể dẫn đến nứt vỡ và gây

biến chứng [100]. Kích thước mảng xơ vữa: Có 4/5 MXV bề dày dưới 2mm

chiếm 80 %, còn MXV có bề dày dưới 2-3 mm chiếm 20 %. Tỷ lệ bệnh nhân

gút có MXV trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa hai nhóm có tăng, khơng tăng nồng độ acid uric trong máu và

nhóm có tăng, khơng tăng nồng độ CRP trong máu (p>0,05). Kết quả của

chúng tôi thấp hơn kết quả nghiên cứu của Cukurova (2012), có 16/55 bệnh

nhân gút có MXV động mạch cảnh chiếm tỷ lệ 29,1 % cao hơn tỷ lệ bệnh

nhân viêm khớp dạng thấp có MXV là 12,2 % và tỷ lệ bệnh nhân có tăng

acid uric máu khơng triệu chứng có MXV là 8,8% [15]. Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi thấp hơn kết quả của Hoàng Phi Điệp (2016) nghiên cứu trên

291 bệnh nhân có nguy cơ tim mạch thấp theo thang điểm SCORE: tỷ lệ có

MXV ở động mạch cảnh là 16,5%, có 83,3 % MXV ở một bên, nhóm tuổi ≥

40 có tỷ lệ xơ vữa hai bên cao hơn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, 77,1% xơ

vữa ở hành cảnh, có 70,8% xơ vữa dạng vơi hóa, tỷ lệ này tăng cao ở nhóm ≥ 40

tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [101].



71



4.4. Mối liên quan của độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung với

một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh gút.

4.4.1. Mối liên quan của độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung với

một số đặc điểm lâm sàng

- Mối liên quan của độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung với tuổi

Nghiên cứu của chúng tơi cho thấy có tương quan tuyến tính đồng biến

mức độ trung bình giữa bề dày nội trung mạc ĐM cảnh và tuổi (r =0,33 và p=

0,01), có ý nghĩa thống kê. Theo nhiều tác giả như Đinh Thị Thu Hương, bề dày

nội trung mạc động mạch cảnh có mối tương quan khá chặt với tuổi (r=0,47; p<

0,0001)[94]. Đào Thị Thanh Bình cũng thấy độ dày nội trung mạc động mạch

cảnh có tương quan đồng biến với tuổi (r= 56, p<0,001)[102]. Theo Gancheva

(2017), tuổi làm tăng nguy cơ có dày nội trung mạc động mạch cảnh gấp 1.27

lần (95% CI 1,17-1,37, p<0,001). Như vậy, trong nghiên cứu của chúng tơi cho

thấy, tuổi càng cao thì độ dày nội trung mạc động mạch cảnh càng tăng, tuy mối

tương quan với tuổi của độ dày lớp trung mạc động mạch cảnh trong nghiên cứu

của chúng tôi thấp hơn một số tác giả [94],[102].

- Mối liên quan của độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung với BMI

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy giữa độ dày nội trung mạc động

mạch cảnh chung và chỉ số khối cơ thể có hệ số tương quan r= -0,16; p= 0,18,

nên khơng thấy có mối liên quan giữa hai yếu tố này trong nghiên cứu của

chúng tôi. Kết quả này cũng tương tự trong nghiên cứu của Nguyễn Minh

Tuấn, tác giả cũng khơng tìm thấy mối liên quan giữa BMI và độ dày nội

trung mạc động mạch cảnh ở người tiền đái tháo đường (p=0,82) [103]. Tuy

nhiên kết quả của chúng tôi có sự khác biệt với kết quả nghiên cứu của

Ciccone M (1999), nghiên cứu trên người khỏe mạnh lại thấy độ dày nội

trung mạc ĐM cảnh và BMI có tương quan thuận có ý nghĩa thống kê (r=

0,2999, p<0,01) [104].



72



- Mối liên quan của độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung với thời

gian mắc bệnh

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tơi, bệnh nhân gút có thời gian mắc

bệnh ≥ 5 năm có nội trung mạc ĐM cảnh chung dày hơn so với nhóm bệnh

nhân có thời gian mắc bệnh < 5 năm, sự khác biệt có ý nghĩa với p< 0,05. Kết

quả của chúng tôi cho thấy, thời gian mắc bệnh gút càng dài thì càng làm thay

đổi lớp nội mạc động mạch. Theo Krishhnan (2010), tình trạng tăng acid uric

máu sẽ gây ảnh hưởng đến lớp nội mô của mạch máu, thành của mao mạch và

nhu mơ thận ngay cả khi khơng có sự lắng đọng tinh thể urat ở các cơ quan

trong cơ thể. Nghiên cứu cho thấy, acid uric có thể chống lại sự oxy hóa trong

tế bào nên làm tổn thương lớp nội mạc của thành mạch [8]. Nên thời gian mắc

bệnh càng dài thì càng gây nên những thay đổi tại lớp nội mạc mạch máu làm

dày lớp nội trung mạc dẫn đến sự tạo thành các mảng xơ vữa động mạch ở bệnh

nhân gút. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy có mối tương quan

đồng biến mức độ trung bình giữa độ dày nội trung mạc ĐM cảnh với thời gian

mắc bệnh của bệnh nhân gút với (r= 0,3 và p= 0,01), có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu này của chúng tôi tương tự với kết quả của Cukurova (2012) [15].

- Mối liên quan của độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung với điều

trị thuốc trước nhập viện

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân gút có dày nội trung

mạc động mạch cảnh khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với việc sử

dụng thuốc trong điều trị bệnh gút (p> 0,05).

- Mối liên quan của độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung và tăng

huyết áp

Theo kết quả nghiên cứu này, chúng tôi cũng chưa phát hiện mối tương

quan giữa độ dày nội trung mạc ĐM cảnh và chỉ số HATT (r=0,1; p= 0,39) và

HATTr (r= 0,03; p= 0,84), p>0,05. Còn theo Đào Thị Thanh Bình (2005) thấy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Độ dày nội trung mạc động mạch cảnh chung theo tuổi:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×