Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thời gian khám lại

Thời gian khám lại

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



3.7. Đánh giá kết quả cơ năng khớp gối sau phẫu thuật gãy xương bánh



chè bằng kỹ thuật buộc vòng chỉ thép và néo ép số tám

Dựa theo tiêu chuẩn của Fourati.

3.7.1. Tiêu chuẩn chủ quan

Biểu đồ 3.3. Kết quả triệu chứng đau

Nhận xét:

Số liệu trên cho thấy:

- Kỹ thuật mổ buộc vòng chỉ thép có 3 (6,6%) trường hợp đau khi lao

động nặng, 21 (46,7%) trường hợp thỉnh thoảng đau, có 21 (46,7%) trường hợp

khơng đau.

- Kỹ thuật mổ néo ép số tám có 1 (2,9%) trường hợp đau khi lao động

nặng, có 8 (22,8%) trường hợp thỉnh thoảng đau, có 26 (74,3%) trường hợp

khơng đau.

Như vậy, chủ yếu bệnh nhân khám lại khi được hỏi là không cảm thấy đau

58,8%, số còn lại 41,2% thỉnh thoảng có đau khi thay đổi thời tiết hoặc khi lao

động nặng.

Tỷ lệ kết quả triệu chứng đau ở kỹ thuật buộc vòng chỉ thép và néo ép

số tám khác biệt có ý nghĩa thống kê. (P < 0,05).

3.7.2. Tiêu chuẩn khách quan

* Đứng trụ 1 chân bằng chân gẫy sau mổ.



Biểu đồ 3.4. Kết quả đứng trụ chân trên chi gẫy

Nhận xét:

Kết quả trên cho thấy:

- Ở cả hai nhóm kỹ thuật khơng có bệnh nhân nào khơng đứng trụ được

trên chi gãy.



54



- Có 4 (5%) trường hợp đứng trụ trên chi gãy được 10 giây, cả 4 trường

hợp này đều thuộc về kỹ thuật buộc vòng chỉ thép, trong đó có một bệnh nhân

90 tuổi.

- Đứng trụ chân trên chi gãy >30 giây chiếm tỷ lệ cao 81,3%. Trong đó

kỹ thuật buộc vòng chỉ thép có 77,8% trường hợp, kỹ thuật néo ép số tám có

85,7% trường hợp trên tổng số bệnh nhân của từng kỹ thuật. Những bệnh

nhân đứng trụ không được lâu thường kèm theo do đau, cơ đùi yếu, gấp duỗi

gối hạn chế.

- Tỷ lệ đứng trụ chân trên chi gãy ở kỹ thuật buộc vòng chỉ thép và néo

ép số tám khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

* Kết quả gấp duỗi gối khi ngồi xổm.

Biểu đồ 3.5. Kết quả gấp duỗi gối khi ngồi xổm

Nhận xét:

- Số liệu trên cho thấy có 1 (1,2%) trường hợp không ngồi xổm được,

bệnh nhân này được mổ bằng kỹ thuật buộc vòng chỉ thép. Khơng có trường

hợp nào ở nhóm néo ép số tám.

- Có 5 (6,2%) trường hợp ngồi xổm khó khăn với tư thế một gót chân

chạm mơng còn gót chân bên xương bánh chè gãy khơng chạm mơng, đùi và

cẳng chân tạo góc 1000. Cả 5 trường hợp này đều được mổ bằng kỹ thuật buộc

vòng chỉ thép có bó bột ống tăng cường.

- Bệnh nhân ngồi xổm ở mức độ rất tốt chiếm tỷ lệ cao 76,3%. Trong

đó kỹ thuật buộc vòng chỉ thép là 64,4%, kỹ thuật néo ép số tám là 91,4%.

Tỷ lệ mức độ ngồi xổm ở hai kỹ thuật khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p < 0,05.



55



* Kết quả mức độ teo cơ tứ đầu đùi

Biểu đồ 3.6. Kết quả mức độ teo cơ tứ đầu đùi

Nhận xét:

- Kết quả trên cho thấy có 01 (1,2%) trường hợp mức độ teo cơ tứ đầu

đùi giảm nhiều 4cm so với bên lành, trường hợp này được mổ bằng kỹ thuật

buộc vòng chỉ thép có bột tăng cường. Khơng có trường hợp nào ở nhóm mổ

bằng kỹ thuật néo ép số tám.

- Ở mức không teo cơ tứ dầu đùi (hoặc teo < 1cm) chiếm tỷ lệ cao

71,3%. Trong đó nhóm buộc vòng chỉ thép là 57,8%, nhóm kỹ thuật néo ép số

tám là 88,5%.

Tỷ lệ mức độ teo cơ tứ đầu đùi ở kỹ thuật buộc vòng chỉ thép và kỹ thuật

néo ép số tám, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).



56



* Mức độ phục hồi biên độ khớp gối (bình thường gấp khớp gối tối đa là:

140º và duỗi tối đa là 0o).

Biểu đồ 3.7. Kết quả phục hồi gấp khớp gối

Nhận xét:

- Kết quả trên cho thấy có 02 (2,5%) trường hợp gấp gối kém, 03(3,8%)

trường hợp gấp gối trung bình, cả 5 (6,3%) trường hợp này đều được mổ bằng

kỹ thuật buộc vòng chỉ thép có bó bột tăng cường 4 - 6 tuần. Khơng có trường

hợp nào ở nhóm buộc vòng chỉ thép.

- Biên độ gấp gối đạt tối đa 140o chiếm tỷ lệ 73,7%, biên độ gấp gối tốt

110o - 140o chiếm 20,0%. Tổng chung gấp gối tốt và rất tốt là 93,8%, chủ yếu

là thuộc nhóm néo ép số tám.

Tỷ lệ phục hồi gấp khớp gối ở kỹ thuật buộc vòng chỉ thép và néo ép

số tám khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Biểu đồ 3.8. Kết quả phục hồi duỗi khớp gối

Nhận xét:

- Số liệu trên cho thấy động tác duỗi kém 10º - 0º có 2 (2,5%) trường

hợp, đều được mổ bằng kỹ thuật buộc vòng chỉ thép có bó bột tăng cường và tự

tập luyện sau mổ. Khơng có trường hợp nào mổ bằng kỹ thuật néo ép số tám.

- Tỷ lệ phục hồi duỗi gối giữa hai kỹ thuật khác biệt khơng có ý nghĩa

thống kê với p > 0,05.

* Kết quả chênh lệch mặt khớp xương bánh chè trên phim X quang khi

khám lại:

Bệnh nhân đến khám lại được chụp XQ khớp gối tư thế thẳng –

nghiêng, trên phim XQ tư thế nghiêng cả 80 trường hợp liền xương tốt, kết

quả XQ mặt sau xương bánh chè thấy độ chênh ở mặt khớp như sau:



57



Biểu đồ 3.9. Kết quả chênh lệch mặt khớp xương bánh chè trên phim

Xquang khi khám lại

Nhận xét:

- Khơng có trường hợp nào mặt sau xương bánh chè chênh nhau > 3mm,

có 2(2,5%) trường hợp mặt sau xương bánh chè chênh nhau >2mm, cả 2

trường hợp đều được mổ bằng kỹ thuật buộc vòng chỉ thép, tổn thương gãy

nhiều mảnh, có tăng cường bó ống bột 4 - 6 tuần sau mổ. Khơng có trường

hợp nào thuộc nhóm néo ép số tám.

- Những trường hợp mặt sau xương bánh chè bằng phẳng chiếm tỷ lệ cao

(73,7%), chủ yếu ở nhóm néo ép số tám 91,4%, nhóm buộc vòng chỉ thép

60%. Ở nhóm buộc vòng chỉ thép, việc đặt lại diện gãy khó khăn hơn và việc

cố định xương kém vững hơn và phải bất động sau mổ nên có sự chênh lệch

mặt khớp khi khám lại. Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ di

lệch mặt khớp sau mổ kết hợp xương bánh chè ở thời điểm khám lại ít nhất 6

tháng là khơng nhiều nhưng cũng gây nên xơ dính, ảnh hưởng lớn tới biên độ

gấp duỗi.

Mức độ bằng phẳng mặt sau XBC ở lần khám lại bằng kiểm tra chụp

Xquang giữa hai kỹ thuật có ý nghĩa thống kê, với p < 0,05.

* Tổng hợp kết quả trên chúng tôi xếp thành 4 mức độ theo Fourati: Rất

tốt; Tốt; Trung bình; Kém.

Bảng 3.8. Bảng tổng hợp phân loại kết quả theo kỹ thuật mổ.

Kết quả



Buộc vòng chỉ

thép



Néo ép số tám



Cộng



n



%



n



%



n



%



Rất tốt



16



35,6



21



60,0



37



46,3



Tốt



15



33,3



12



34,3



27



33,7



58



Trung bình



10



22,2



2



5,7



12



15,0



Kém



04



8,9



0



0,0



4



5,0



Cộng



45



100,0



35



100,0



80



100,0



p



p < 0,05



Biểu đồ 3.10. Tổng hợp phân loại kết quả theo kỹ thuật mổ



59



Nhận xét:

Kết quả chung: rất tốt 46,3%, tốt 37,3%, trung bình 15,0%, kém 5,0%.

- Đối với kỹ thuật buộc vòng chỉ thép:

Rất tốt và tốt 31/45 (68,9%%)

Trung bình và kém 14/45 (31,1%)

- Đối với kỹ thuật néo ép số tám:

Rất tốt và tốt: 33/35 (94,3%)

Trung bình: 5,7%, Kém: 0%.

Như vậy, kết quả chung của cả hai nhóm được mổ theo kỹ thuật buộc

vòng chỉ thép và néo ép số tám cho kết quả tốt và rất tốt cao đạt 80%, chủ yếu

ở nhóm buộc vòng chỉ thép. Kết quả trung bình và kém chiếm tỷ lệ thấp 20%,

chủ yếu ở nhóm néo ép số tám.

- Có 4 bệnh nhân kết quả kém đều thuộc nhóm buộc vòng chỉ thép,

trong đó 3 trường hợp tổn thương gãy nhiều mảnh, 1 trường hợp tổn thương

gãy cực dưới. Tất cả phải bó bột tăng cường sau mổ 4 - 6 tuần.

- Có 12 (15%) trường hợp đạt kết quả trung bình, trong đó buộc vòng

chỉ thép 10 trường hợp, kỹ thuật néo ép số tám 2 trường hợp, 2 trường hợp

này sau mổ không được luyện tập do bệnh nhân thấy đau khi luyện tập.

- Sự khác biệt kết quả phẫu thuật giữa hai kỹ thuật buộc vòng chỉ thép

và néo ép số tám có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

3.8. Biến chứng

80 bệnh nhân được mổ gãy xương bánh chè bằng kỹ thuật buộc vòng

chỉ thép và néo ép số tám đến khám lại, thời gian đến khám lại sớm nhất là 6

tháng và lâu nhất là 26 tháng.

- Có 04 trường hợp cứng khớp gối.

- Khơng có trường hợp nào biến chứng chậm liền xương hoặc không

liền xương và khơng có trường hợp nào có hoại tử vơ mạch, gãy lại.

- Có 04 trường hợp mổ bằng kỹ thuật buộc vòng chỉ thép bị đứt chỉ thép.

- Có 03 trường hợp mổ bằng kỹ thuật néo ép số tám bị chồi đinh gây đau

nhưng không bị chọc thủng da và được phẫu thuật lấy dụng cụ kết xương khi

xương đã can.



60



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu

4.1.1. Theo tuổi

Theo Nguyễn Đức Phúc , gãy xương bánh chè xảy ra ở mọi lứa tuổi, độ

tuổi trung bình của gãy xương bánh chè từ 40 - 50 tuổi [9],[10],[11].

Theo Nguyễn Hữu Ngọc, đối với bệnh nhân nữ, độ tuổi trung bình gãy

xương bánh chè 39,78 tuổi, ở độ tuổi hay gặp nhất là 50 - 59 tuổi. Đối với bệnh

nhân nam giới, độ tuổi trung bình gãy xương bánh chè 46,81 tuổi và ở lứa tuổi

có tần xuất gặp nhiều nhất là từ 50 - 69 tuổi. Độ tuổi trên 60 tuổi cả hai giới

nam và nữ là 20%, tuổi thấp nhất là 17 tuổi, cao nhất là 80 tuổi[8].

Theo Trần Đức Mậu, độ tuổi trung bình gãy xương bánh chè 39,7 tuổi,

thấp nhất là 17 tuổi, cao nhất là 82 tuổi, ở lứa tuổi trên 60 tuổi là 21,7% [4], [5].

Theo JohnSon, tuổi trung bình gãy xương bánh chè là 47 tuổi[12].

Levack, thơng báo tuổi trung bình gãy xương bánh chè là 49 tuổi và độ

tuổi thấp nhất là 19 tuổi, cao nhất là 99 tuổi [48].

Theo Wu tuổi trung bình gãy xương bánh chè là 39 tuổi và dao động

khoảng từ 18 - 68 tuổi [47].

Kết quả của chúng tôi thu được cũng tương tự như của các tác giả trên. Độ

tuổi trung bình gãy xương bánh chè là 50,48 tuổi. Độ tuổi chúng tôi hay gặp là

41 – 60 tuổi, 35/80 trường hợp chiếm 43,75%, tiếp theo là độ tuổi 21- 40 (22/80

trường hợp chiếm 27,5%). Lứa tuổi 21 – 60 chiếm 71,25%. Độ tuổi > 60 (22/80

trường hợp chiếm 27,5%), còn lại độ tuổi < 20 là1/80 trường hợp (1,25%).

Như vậy: Số bệnh nhân gãy kín xương bánh chè được mổ kết hợp xương

chúng tôi gặp chủ yếu 21 - 60 tuổi (71,25%) có lẽ do đây là số bệnh nhân nằm



61



ở độ tuổi lao động phải tham gia giao thông, tham gia lao động nhiều hơn và

vì vậy tần suất gặp rủi ro gãy xương bánh chè nhiều hơn.

Trong số 80 bệnh nhân, có tuổi thấp nhất là 15 tuổi cao nhất là 90 tuổi.

Bệnh nhân 15 tuổi gãy XBC do TNGT, gãy ngang 2 mảnh di lệch >3mm, kết

xương theo phương pháp néo ép số tám và đạt kết quả rất tốt; bệnh nhân 90

tuổi gãy XBC do TNSH (ngã đập gối xuống nền xi măng), gãy ngang 2 mảnh,

kết xương theo phương pháp néo ép số tám, đạt kết quả tốt..

4.1.2. Theo giới

Theo Nguyễn Đức Phúc, tỉ lệ nam/nữ là 2/1

Theo Nguyễn Hữu Ngọc [11] thì nam/nữ là 3/1 (61/19 trường hợp)

Theo JohnSon nam nhiều gấp đôi nữ.

Theo Wu tỷ lệ nam gấp 4 lần nữ.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam/nữ là 50/30 (1,7/1).

Trong thực tế cuộc sống hàng ngày, nam giới tham gia giao thông cũng

như tham gia lao động nặng nhiều hơn nữ giới. Do vậy tỷ lệ rủi ro gặp tai nạn

nhiều hơn nữ giới.

4.1.3. Chi tổn thương

Theo Nguyễn Đức Phúc, JohnSon, tỷ lệ chân phải và trái là như nhau.

Theo Nguyễn Hữu Ngọc, chân trái gặp nhiều hơn chân phải với tỉ lệ là

43/37.

Theo Schoubauer, Nummi và BosTran, có 3,0% bị gãy xương bánh chè

cả hai bên cùng một lúc.

Số liệu của chúng tơi có 37/80 (38,7%) là gãy xương bánh chè chân phải,

43/80 (61,3%) là gãy xương bánh chè chân trái.

Kết quả trên cho thấy gãy xương bánh chè chân trái nhiều hơn so với

chân bên phải 43/37.



62



Trong 80 trường hợp của chúng tơi khơng có trường hợp nào bị gãy

xương bánh chè cả hai bên cùng một lúc.

4.2. Nguyên nhân và cơ chế chấn thương

4.2.1. Nguyên nhân

Theo Nguyễn Hữu Ngọc tai nạn sinh hoạt và tai nạn lao động là chủ yếu

60,16%, tai nạn giao thông chiếm 39,86%.

Theo Trương Quý Trường nguyên nhân vỡ xương bánh chè do tai nạn

giao thơng là cao nhất (62,5%), sau đó là tai nạn sinh hoạt (35,8%), tai nạn lao

động chỉ gặp 1 trường hợp

Theo Fourati nguyên nhân gây gãy xương bánh chè chủ yếu do tai nạn

sinh hoạt 45%, sau đó là tai nạn giao thông 38%.

Theo Wu trong 68 bệnh nhân gãy xương bánh chè được điều trị thì 66

bệnh nhân là do nguyên nhân chấn thương mạnh như tai nạn giao thơng và

ngã cao, còn 02 trường hợp chấn thương nhự trượt ngã.

Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là do tai nạn sinh hoạt 38/80

(47,5%), sau đó đến tai nạn giao thơng 32/80 (40%), còn lại là tai nạn lao

động 9/80 (11,3%), tai nạn thể thao 1/80 (1,3%)

Từ kết quả này chúng tôi nhận thấy trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày

tai nạn vấp ngã chống gối xuống nền cứng dẫn tới gãy xương bánh chè là khá

cao so với các tai nạn khác. Trong nghiên cứu của chúng tơi, ddois tượng là

bệnh nhân gãy kín xương bánh chè, loại trừ những bệnh nhân gãy hở và

những bệnh nhân có tổn thương phối hợp khác đó là những bệnh nhân bị tác

động bởi một lực rất lớn thường do tai nạn giao thông, hoặc tai nạn lao động

ngã cao, bạo lực.



63



4.2.2. Cơ chế gãy xương

Theo Nguyễn Hữu Ngọc chỉ có một trường hợp gãy xương bánh chè do

cơ chế gián tiếp, còn lại 79 trường hợp là do cơ chế chấn thương trực tiếp.

Theo Nguyễn Đức Phúc, Johnson, Canale, Carpenter, Kastelec M,

Veselko M, Curtis M.I gãy xương bánh chè chủ yếu gặp do cơ chế chấn

thương trực tiếp [9],[12],[57],[58]. Do vị trí xương bánh chè nằm ở ngay dưới

da của mặt trước của khớp gối nên sẽ bị tổn thương khi khớp gối va đập trực

tiếp vào nền cứng hay vào gờ cứng. Gãy xương bánh chè do cơ chế gián tiếp

là rất ít gặp, đó là trường hợp xương bánh chè bị sức co kéo đột ngột của cơ

tứ đầu làm gãy xương như trong nhảy cao, duỗi gối đột ngột khi gối đang gấp

hoặc bước hụt.

Theo Fourati gãy xương bánh chè bệnh lý (do viêm xương) là rất hiếm

gặp (1/520).

Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của các tác giả trên, 80

trường hợp đều do cơ chế trực tiếp, khơng có trường hợp nào chấn thương

gián tiếp.

4.3. Tổn thương giải phẫu

Theo Nguyễn Đức Phúc, gãy xương bánh chè được phân loại như sau:

gãy ngang là loại gãy phổ biến nhất chiếm 50- 80%, gãy nhiều mảnh, gãy

hình sao: 30 - 35%, gãy dọc là 12 - 17%.

Theo Nguyễn Hữu Ngọc, gãy ngang gặp 40%, gãy nhiều mảnh, gãy hình

sao gặp 60%, khơng gặp gãy dọc xương bánh chè.

Theo Wu, gãy ngang là 33.82%, gãy nhiều mảnh, gãy hình sao là

66.18%.

Trong kết quả của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu trên. Gãy

nhiều mảnh 46,3% gãy ngang 40% trường hợp, gãy cực dưới 11,2% trường

hợp còn lại gãy dọc 2,5% trường hợp.Các trường hợp tổn thương là gãy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thời gian khám lại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×