Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong lịch sử điều trị gãy xương bánh chè, rất nhiều vật liệu đã được sử dụng trong phẫu thuật để làm phương tiện kết hợp xương như: chỉ catgut, gân kanguroo, sợi bạc, sợi nhôm, sợi đồng thau.

Trong lịch sử điều trị gãy xương bánh chè, rất nhiều vật liệu đã được sử dụng trong phẫu thuật để làm phương tiện kết hợp xương như: chỉ catgut, gân kanguroo, sợi bạc, sợi nhôm, sợi đồng thau.

Tải bản đầy đủ - 0trang

34



Sau đó vào những năm đầu thế kỷ 20 vật liệu thép không gỉ trở thành vật

liệu phổ biến để làm phương tiện kết hợp xương. Đây là loại vật liệu có rất nhiều

ưu điểm về độ cứng, độ dẫn điện, độ đàn hồi vv... Tuy nhiên có nhược điểm là

sau đó phải phẫu thuật lại để lấy bỏ phương tiện kết xương khi xương đã liền.

Thời gian sau đó, hàng loạt các loại chỉ tổng hợp được sản xuất và áp

dụng rộng rãi trong phẫu thuật (Chỉ Vycryl, Ethybond, Difilon..). Các tác giả

đã sử dụng vật liệu này để thay thế cho chỉ thép không gỉ làm phương tiện kết

xương và cũng cho kết quả tốt.

Năm 2000, Patel trong một thử nghiệm lâm sàng của mình đã sử dụng

chỉ không tiêu 5 - Ethibond và chỉ thép không gỉ 1,25 mm để cố định mảnh

xương gãy theo hai kỹ thuật: kỹ thuật néo ép số tám và kỹ thuật Lotke. Qua

kết quả thực nghiệm, tác giả thông báo việc sử dụng chỉ không tiêu 5 Ethybond cho kết quả tương đương như sử dụng chỉ thép cố định xương gãy.

Năm 2001, Gosal trong một nghiên cứu của mình với 37 bệnh nhân gãy

XBC được điều trị với kỹ thuật néo ép. Trong đó nhóm một với 21 bệnh nhân

sử dụng thép khơng gỉ và nhóm hai với 16 bệnh nhân dùng chỉ 5 - Ethybond.

Thời gian theo dõi sau mổ từ 1 - 4 năm (trung bình: 2 năm 6 tháng) và tác giả

thu được kết quả sau: Nhóm dùng chỉ 5 - Ethibond khơng có biến chứng

nhiễm trùng trong khi đó có 3/21 ở nhóm một có biến chứng này. Tỷ lệ phải

mổ lại là 6/21 (38%) ở nhóm một và 1/16 (6%) ở nhóm hai. Như vậy, việc

sử dụng chỉ không tiêu polyester làm phương tiện cố định xương cho một

kết quả tốt, đồng thời nguy cơ phải mổ lại so với nhóm sử dụng phương

tiện kim loại nhỏ hơn 6 lần và nguy cơ nhiễm trùng của nhóm sử dụng kim

loại cũng cao hơn.

1.6. Biến chứng xa sau mổ gãy xương bánh chè.

Các biến chứng có thể gặp sau mổ gãy xương bánh chè

1.6.1. Cứng khớp gối



35



Gãy xương bánh chè là loại gãy nội khớp, nếu kết xương khơng tốt, diện

khớp chè đùi bị thối hóa. Vận động sớm sau điều trị (trong tuần đầu hoặc tuần

thứ hai) sẽ làm giảm hậu quả hạn chế gấp - duỗi khớp gối sau điều trị. Nếu kéo

dài thời gian bất động một khớp gối đã được điều trị phẫu thuật có thể dẫn đến

cứng khớp gối và ảnh hưởng đến cơ năng của bệnh nhân sau này.

1.6.2. Viêm, thoái hoá khớp

Do chức năng quan trọng của xương bánh chè nên biến chứng của viêm

khớp bánh chè – xương đùi sau một gãy xương bánh chè là rất hay gặp. Viêm

khớp có thể gặp do mặt sụn khớp của xương bánh chè không phẳng sau điều

trị dần dần gây thoái hoá sụn khớp. Đây được coi là một di chứng muộn của

gãy xương bánh chè.

Theo Nummi tỷ lệ này là: 56,4% của hơn 700 trường hợp. Soresen theo

dõi 64 trường hợp từ 10 đến 30 năm thấy tỷ lệ viêm khớp là: 70%.

1.6.3. Hoại tử xương

Do xương bánh chè được cung cấp máu bởi vòng nối mạch xung quanh

xương bánh chè, và đi vào trong xương chủ yếu phần giữa và dưới của xương

bánh chè nên khi bị gãy xương bánh chè, nhất là gãy ngang có thể bị hoại tử

xương do thiếu máu nuôi dưỡng ở cực trên xương bánh chè. Tỷ lệ hoại tử vô

mạch là: 3,5 - 24%.

Theo Scapinelli với 162 ca gãy ngang thấy bị hoại tử vô mạch ở cực trên

đến 25%. Trên phim X quang sau gãy 1 - 2 tháng sẽ bắt đầu thấy hoại tử vô

mạch, sau 2 - 3 tháng sẽ thấy hình ảnh tương phản giữa hai mảnh: mảnh hoại tử

bị đệm vơi. Thường khơng có triệu chứng gì và sau 2 năm, mạch máu lại nuôi

tốt trở lại [17],[24].

1.6.4. Chậm liền xương, khớp giả, gãy lại.

Trước đây, tỷ lệ không liền xương là rất cao. Theo Johnson (1991) tỷ lệ không

liền xương là 2.4%, nhưng hiện nay tỷ lệ này chỉ chiếm 1% hoặt ít hơn [12].



36



Ở Việt Nam, theo Trương Quý Trường (2001) thì kết quả liền xương

qua kiểm tra X.Quang là 100% , khơng có trường hợp nào chậm liền xương

hoặc không liền. Tuy nhiên, nếu không liền mà bệnh nhân không đau và

chức năng khớp gối còn thì khơng cần điều trị. Nhưng nếu đau hoặc chức

năng khớp gối giảm thì mổ lại cắt bỏ xơ, ghép xương và cố định lại hoặc cắt

bỏ một phần xương bánh chè [31].

1.6.5. Biến chứng chồi đinh, đứt chỉ thép

Theo Trần Đức Mậu (1995), dùng đinh Kirschner để kết xương, 4 đầu đinh

là điểm tỳ để bắt chéo dây thép mặt trước xương bánh chè khi gấp gối các đầu

đinh có thể trồi dưới da gây đau, gây vướng khó chịu cho bệnh nhân [5].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Ngọc (1997) trong 80 bệnh nhân gãy

xương bánh chè được điều trị phẫu thuật bằng phương pháp néo ép số tám có

dùng đinh Kirschner thì có 2 trường hợp đầu đinh Kirshner chọc thủng da ở

mặt trước khớp gối. Những trường hợp này đểu xảy ra ở những giai đoạn

bệnh nhân tập vận động sau mổ [8].

Theo Wu (2001), 3% bệnh nhân có biến chứng da bị kích thích do đầu

đinh Kirschner trồi dưới da [47].

1.7. Phục hồi chức năng sau mổ gãy xương bánh chè

1.7.1. Mục đích

- Giảm đau.

- Tăng cường tuần hoàn.

- Chống teo cơ, đặc biệt là cơ tứ đầu đùi.

- Chống cứng khớp.

- Phục hồi chức năng di chuyển.

1.7.2. Phương pháp

* Giai đoạn bất động:

- Co cơ tĩnh, đặc biệt cơ tứ đầu đùi tích cực.



37



- Chủ động tập tự do của các khớp như khớp háng, khớp cổ chân để

tăng cường tuần hoàn.

- Tập đi với nạng chân bệnh chịu một phần sức nặng, tăng dần.

* Giai đoạn sau bất động:

- Giảm đau, tránh co cứng cơ tứ đầu đùi bằng nhiệt trị liệu hoặc parafin

trị liệu.

- Xoa bóp chống kết dính xung quanh sẹo mổ, xung quanh xương bánh

chè và xung quanh khớp.

- Di động xương bánh chè, động tác này rất quan trọng. Di động sang

hai bên và di động theo chiều dọc trục.

- Gia tăng tầm vận động khớp gối bằng tư thế vận động khi gối đã gập

được 90o như: ngồi xổm trên chân đau hoặc quỳ trên hai gối.

- Vận động đề kháng cho cơ tứ đầu, tam đầu đùi tăng tiến với tạ, bao cát...

- Đạp xe phục hồi chức năng[55].



38



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm 80 bệnh nhân gẫy kín xương bánh chè được phẫu thuật tại

Bệnh viện Việt Đức bằng kỹ thuật néo ép số tám và kỹ thuật buộc vòng chỉ

thép từ tháng 1/2016 đến tháng 3/2018.

Hồi cứu 60 bệnh nhân.

Tiến cứu 20 bệnh nhân.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Bệnh nhân gẫy kín xương bánh chè được phẫu thuật kết hợp xương

theo kỹ thuật néo ép số tám hoặc buộc vòng chỉ thép.

- Thời gian từ tháng 1/2016 đến tháng 3/2018.

- Có đầy đủ hồ sơ bệnh án, địa chỉ rõ ràng, có đủ phim XQ trước mổ

và sau mổ.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Những bệnh nhân gãy hở xương bánh chè.

- Những bệnh nhân mổ kết hợp xương bánh chè bằng kỹ thuật khác.

- Những bệnh nhân gẫy xương bánh chè bệnh lý, bệnh nhân phẫu thuật

gẫy lại xương bánh chè, di chứng can lệch, khớp giả.

- Những bệnh nhân có đa chấn thương hoặc gãy xương khác kèm theo.

- Những bệnh nhân chi gãy trước đó đã có di chứng: hạn chế vận động

khớp gối, teo cơ, dị tật.

- Bệnh nhân không hợp tác nghiên cứu

- Những bệnh nhân bệnh án không đầy đủ,rõ ràng

2.2. Phương pháp nghiên cứu.

Mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu.



39



2.2.1. Thiết kế nghiên cứu hồi cứu.

- Lập danh sách bệnh nhân nghiên cứu, rút hồ sơ bệnh án và phim XQ,

thu thập số liệu theo mẫu bệnh án có sẵn.

- Mời bệnh nhân đến khám lại về lâm sàng, XQ, đánh giá kết theo các

tiêu chuẩn đã định sẵn.

2.2.2. Thiết kế nghiên cứu tiến cứu.

- Thăm khám lâm sàng, chỉ định chụp X quang quy ước thẳng và nghiêng

- Lập hồ sơ bệnh án nghiên cứu theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất.

- Chẩn đoán, chuẩn bị BN và tham gia phẫu thuật.

- Ghi chép biên bản phẫu thuật.

- Chăm sóc và theo dõi diễn biến sau mổ.

- Hướng dẫn tập phục hồi chức năng.

- Mời bệnh nhân đến khám lại, đánh giá kết theo các tiêu chuẩn đã định sẵn.

2.2.3. Những chỉ tiêu thăm khám.

- Tuổi.

- Giới.

- Chi bị tổn thương.

- Nguyên nhân chấn thương.

- Cơ chế chấn thương.

- Thương tổn giải phẫu.

- Thời gian từ lúc bị chấn thương đến lúc phẫu thuật.

- Kỹ thuật mổ.

- Cố định bột tăng cường sau mổ.

- Phương pháp tập luyện sau mổ.

- Thời gian sau mổ đến khi khám lại.

- Khám lại bệnh nhân định kỳ, đánh giá kết quả phẫu thuật ít nhất sau mổ

6 tháng với các chỉ số theo tiêu chuẩn của Fourati.

- Khám các biến chứng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong lịch sử điều trị gãy xương bánh chè, rất nhiều vật liệu đã được sử dụng trong phẫu thuật để làm phương tiện kết hợp xương như: chỉ catgut, gân kanguroo, sợi bạc, sợi nhôm, sợi đồng thau.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×