Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GCs được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng, với nhiều dạng như đường toàn thân (uống, tiêm) hay tại chỗ (bôi da, xịt…) cho những chuyên khoa khác nhau, nhưng đường uống và đường tiêm hay được sử dụng do hiệu quả cao trong điều trị đặc biệt ở những bệnh lý có

GCs được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng, với nhiều dạng như đường toàn thân (uống, tiêm) hay tại chỗ (bôi da, xịt…) cho những chuyên khoa khác nhau, nhưng đường uống và đường tiêm hay được sử dụng do hiệu quả cao trong điều trị đặc biệt ở những bệnh lý có

Tải bản đầy đủ - 0trang

78



tơi nhận thấy, có khoảng trên 90% số BN sử dụng đường

tồn thân, chỉ có 1/34 BN sử dụng đường tại chỗ.

Trong đường toàn thân, đường uống là đường sử

dụng được cả trong và ngồi bệnh viện, còn đường tiêm

thường phải yêu cầu thực hiện bởi các nhân viên y tế có

trình độ; vì vậy tỷ lệ BN sử dụng đường uống trong

nghiên cứu của chúng tôi chiếm đến 61,2%.

4.2.1.3. Bệnh lý liên quan đến sử dụng GCs

GCs là nhóm thuốc được chỉ định điều trị trong rất

nhiều các chuyên khoa: khớp, dị ứng, ung thư, hô hấp,

thận… Trong nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh nhân

sử dụng GCs cho các bệnh lý về khớp chiếm chủ yếu

41,2%; sau đó là điều trị chống nơn trong đợt hố chất

điều trị ung thư 14,7%; tiếp theo là bệnh hệ thống, thận

và hô hấp. Bệnh khớp là bệnh lý rất hay gặp, đa phần

người bệnh khi đau thường tự ý mua thuốc dạng GCs để

điều trị. Chính vì vậy, tỷ lệ người bệnh sử dụng GCs trong

các bệnh lý khớp khá cao. Nghiên cứu của Cao Thanh Tú

và cộng sự cho thấy 95% BN sử dụng GCs cho các bệnh

lý khớp trước khi nhập viện [43].



79



4.2.2. Đặc điểm lâm sàng

4.2.2.1. Thời gian xuất hiện ĐTĐ

Trong nghiên cứu của Gonzalez và cộng sự, tiến

hành trên 32 BN mắc bệnh bạch cầu cấp hoặc u lympho

khơng Hodkin khơng có tiền sử ĐTĐ được điều trị bằng

GCs liều cao, sau đó phân tích 11 BN xuất hiện ĐTĐ mới

thấy ĐTĐ thường xảy ra sau điều trị GCs từ hai đến tám

tuần[29]. Nghiên cứu của Ha YJ và cộng sự đánh giá 16

BN lupus ban đỏ hệ thống mắc ĐTĐ mới sau điều trị GCs

liều cao, thời gian trung bình từ khi sử dụng GCs đến khi

phát hiện ĐTĐ là 34 ngày [28]. Hầu hết các nghiên cứu

trên thế giới đối tượng nghiên cứu thường tập trung vào

các bệnh nhân mắc bệnh lý cụ thể, với GCs liều cao liên

tục và được theo dõi định kỳ. Trong nghiên cứu của

chúng tôi đối tượng nghiên cứu là những BN được chẩn

đốn ĐTĐ lần đầu và có tiền sử dùng GCs trước đó,

khơng phân biệt đối tượng bệnh lý. Các bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi thường sử dụng GCs ngắt

quãng nhiều đợt chiếm tỷ lệ 58%, một tỷ lệ không nhỏ

17,7% là các BN sử dụng thuốc nam và thuốc không rõ

nguồn gốc, các BN thường không được theo dõi thường

quy bởi các bác sĩ chuyên khoa. Chính vì vậy, việc xác

định thời gian bắt đầu sử dụng GCs khó chính xác và

theo dõi BN cũng gặp nhiều khó khăn. Với những lý do

khách quan như trên, thời gian xuất hiện ĐTĐ trung bình

trong nghiên cứu của chúng tôi là 54,35 ± 71,37 (tháng)

dài hơn so với các nghiên cứu khác; trong đó thời gian



80



sớm nhất là 10 ngày và lâu nhất là 20 năm. Đây cũng là

một hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi.

4.2.2.2. Triệu chứng tăng glucose máu

Khi glucose máu tăng đến mức có tình trạng ngộ

độc đường thì sẽ xuất hiện các triệu chứng bao gồm:

khát nước, đái nhiều, ăn nhiều, sút cân khơng giải thích

được; tuy nhiên các triệu chứng này không phải là triệu

chứng đặc hiệu cho bệnh. Các triệu chứng có thể tiến

triển rầm rộ hay từ từ tăng dần hoặc khơng có bất kỳ

biểu hiện nào trên lâm sàng, bệnh nhân chỉ phát hiện ra

ĐTĐ khi đi khám định kỳ hoặc vì dấu hiệu bệnh lý khác.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, 55,9% số bệnh

nhân có các triệu chứng lâm sàng của tăng glucose máu;

44,1% khơng có triệu chứng lâm sàng của tăng glucose

máu. Điều này chứng tỏ không phải lúc nào cũng dựa

trên bằng chứng lâm sàng để phát hiện ĐTĐ trên những

đối tượng dùng GCs. Vấn đề này cũng cảnh báo cho các

bác sỹ lâm sàng khi sử dụng GCs kéo dài cho các bệnh lý

nội khoa cần để ý đến tình trạng tăng glucose máu thậm

chí có thể là ĐTĐ kể cả khi khơng có dấu hiệu lâm sàng

của tăng glucose máu.

4.2.2.3. Biến chứng cấp tính của glucose máu cao

Hai biến chứng cấp tính thường gặp trên lâm sàng

do glucose máu cao là tăng áp lực thẩm thấu máu và

nhiễm toan ceton do ĐTĐ. Nhiễm toan ceton nguyên

nhân chính là do thiếu hụt insulin dẫn đến tăng ly giải



81



lipid, tăng tổng hợp thể ceton. Tăng áp lực thẩm thấu

máu là do tình trạng glucose máu quá cao làm tăng

glucose niệu, tăng lợi tiểu thẩm thấu dẫn đến tình trạng

mất nước nặng [31],[32]. Sử dụng GCs kéo dài sẽ ảnh

hưởng đến chuyển hoá glucose máu làm tăng kháng

insulin ở các mơ và lâu dài có thể gây thiếu hụt insulin,

vì vậy biến chứng cấp tính như nhiễm toan ceton, tăng

áp lực thẩm thấu máu cũng có thể gặp trên những người

bệnh ĐTĐ do dùng GCs, nhưng gặp nhiều hơn cả là tăng

áp lực thẩm thấu máu.

Trong 34 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tơi, có 2

BN có biến chứng tăng áp lực thẩm thấu máu do glucose

máu cao và khơng có BN nào có biến chứng nhiễm toan

ceton do ĐTĐ. Cả hai BN này được sử dụng GCs với liều

cao mặc dù không kéo dài nhưng lại gây tình trạng tăng

glucose máu nhiều đặc biệt glucose máu sau ăn. Khác

với nghiên cứu của chúng tôi, các nghiên cứu khác do

phát hiện ĐTĐ sau điều trị GCs sớm với mức glucose

máu không cao nên hầu như không gặp trường hợp nào

có biến chứng cấp tính. Như vậy, khi BN sử dụng GCs

đặc biệt là liều cao và rất cao, các bác sĩ lâm sàng cần

phải chú ý theo dõi cả glucose máu sau ăn của BN

tránh bỏ sót các trường hợp ĐTĐ mới xuất hiện tránh

các biến chứng cấp tính do glucose máu cao.

4.2.2.4. Triệu chứng lâm sàng liên quan sử dụng GCs



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GCs được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng, với nhiều dạng như đường toàn thân (uống, tiêm) hay tại chỗ (bôi da, xịt…) cho những chuyên khoa khác nhau, nhưng đường uống và đường tiêm hay được sử dụng do hiệu quả cao trong điều trị đặc biệt ở những bệnh lý có

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×