Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thừa cân và béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ của ĐTĐ và sự đề kháng insulin. Tuy nhiên có sự khác biệt giữa người Châu Á và Châu Âu, khi so sánh đặc điểm ĐTĐ giữa hai khu vực, ĐTĐ tại Châu Á tỷ lệ người béo phì chỉ gấp 2,5 – 3 lần thấp hơn so với

Thừa cân và béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ của ĐTĐ và sự đề kháng insulin. Tuy nhiên có sự khác biệt giữa người Châu Á và Châu Âu, khi so sánh đặc điểm ĐTĐ giữa hai khu vực, ĐTĐ tại Châu Á tỷ lệ người béo phì chỉ gấp 2,5 – 3 lần thấp hơn so với

Tải bản đầy đủ - 0trang

73



ĐTĐ do điều trị GCs. Nhận định này cũng phù hợp với

một số nghiên cứu khác, như Gonzalez và cộng sự tiến

hành theo dõi 32 BN có bệnh lý huyết học, khơng có tiền

sử ĐTĐ cần điều trị liều cao GCs, BMI khơng có sự khác

biệt giữa hai nhóm BN xuất hiện ĐTĐ mới và không xuất

hiện ĐTĐ [29].

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đái

tháo đường sau điều trị GCs

4.2.1. Tiền sử

4.2.1.1. Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ type 2

Một số các yếu tố nguy cơ cho ĐTĐ type 2 như THA,

rối loạn lipid máu, tiền sử gia đình có người cùng huyết

thống bị ĐTĐ, tiền sử đẻ con to…được chứng minh qua

nhiều nghiên cứu trên thế giới.

Ở Australia, trong nghiên cứu của Simmons và cộng

sự đánh giá đặc điểm nhân khẩu học ở 60 BN ĐTĐ mới

do GCs thấy có 35% số bệnh nhân nghiên cứu có tiền sử

gia đình có người mắc ĐTĐ [2]. Tại Hàn Quốc, trong

nghiên cứu của Ha YJ và cộng sự đánh giá 16 BN ĐTĐ

mới sau điều trị GCs liều cao cũng thấy có tới 31,3% số

BN nghiên cứu có tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ và

31,3% BN có tiền sử THA trước đó [28].

Nghiên cứu của chúng tôi, do sự khác biệt về đối

tượng nghiên cứu nên trong 34 BN chỉ có 11,8% số bệnh

nhân có tiền sử gia đình có người cùng huyết thống mắc

ĐTĐ; 32,4% BN có tiền sử về THA; 58,8% BN có rối loạn



74



lipid máu và khơng có BN nữ giới nào có tiền sử đẻ con

to > 4kg hay ĐTĐ thai kỳ.

Mối liên quan giữa tỷ lệ ĐTĐ sau điều trị GCs với

các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ type 2 có nhiều khác biệt

giữa các nghiên cứu do việc lựa chọn đối tượng trong các

nghiên cứu không giống nhau. Trong nghiên cứu của

chúng tôi, do thời gian nghiên cứu còn ngắn và số lượng

bệnh nhân nghiên cứu chưa nhiều, chúng tơi thiết nghĩ

cần có những nghiên cứu dài hơn và số lượng nhiều hơn

để giải thích rõ sự khác biệt này. Tuy nhiên các y văn

hiện nay vẫn chưa tách bạch rõ nguyên nhân nào là cơ

bản gây ra ĐTĐ type 2.

4.2.1.2. Tiền sử về GCs

 Loại GCs bệnh nhân sử dụng

Glucocorticoids là những chất dạng tổng hợp của

hormone vỏ thượng thận. Dựa vào thời gian tác dụng,

chúng được chia làm 3 loại: tác dụng ngắn có thời gian

tác dụng 12 giờ, tác dụng trung bình là loại có thời gian

tác dụng từ 12 đến 36 giờ và tác dụng kéo dài thời gian

tác dụng > 48 giờ. GCs tác dụng ngắn bao gồm

hydrocortisone và cortisone, những GCs chủ yếu có ảnh

hưởng lên chuyển hố muối nước, hiệu lực chống viêm

yếu, vì vậy chúng hay được sử dụng trong liệu pháp thay

thế hormone. GCs tác dụng trung bình như prednisone,

prednisolone, methylprednisolone, triamcinolone; là loại

có ảnh hưởng lên chuyển hố muối nước ít hơn, hiệu lực



75



chống viêm mạnh hơn so với GCs tác dụng ngắn; đây là

loại GCs được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực

của y khoa: khớp, dị ứng, miễn dịch…GCs tác dụng kéo

dài thường gặp là dexamethasone, betamethasone… là

loại có tác dụng chống viêm mạnh nhất trong các loại

GCs, không ảnh hưởng lên chuyển hoá muối nước

thường được sử dụng trong điều trị bệnh ung thư (chống

nơn khi điều trị hố chết, di căn não…), chống phù não

[7],[42]…

Ngồi ra, ở Việt Nam GCs còn có trong các chế

phẩm của thuốc nam, thuốc khơng rõ nguồn gốc trong

điều trị một số bệnh lý về khớp, tuy nhiên rất khó kiểm

tra được thành phần cũng như tỷ lệ của GCs trong các

chế phẩm đó.

Khi nghiên cứu 34 BN, chúng tôi nhận thấy loại GCs

được sử dụng nhiều nhất là GCs tác dụng trung bình với

tỷ lệ 55,9%; tiếp theo là GCs tác dụng kéo dài 26,5%

không có bệnh nhân nào sử dụng GCs tác dụng ngắn.

Đặc biệt trong nghiên cứu có tới 17,7 % là thuốc nam,

thuốc không rõ nguồn gốc, đây thực sự là một cảnh báo

cho thầy thuốc lâm sàng trong chẩn đoán và theo dõi

trên những người sử dụng nhóm thuốc này. Thêm vào đó,

đây cũng là dấu hiệu đáng báo động cho các nhà dược

lâm sàng trong quản lý các loại thuốc không rõ nguồn

gốc trên thị trường Việt Nam.



 Tần suất sử dụng



76



GCs là một nhóm thuốc được chỉ định rộng rãi trong

rất nhiều chuyên khoa như: khớp, ung thư, bệnh hệ

thống…. Vì vậy, thuốc dễ dàng mua được và sử dụng rộng

rãi trong điều kiện y tế còn hạn chế ở Việt Nam. Bên cạnh

đó, đối với một số bệnh đòi hỏi điều trị GCs lâu dài thì một

số người bệnh không tuân thủ (sử dụng thuốc không đều

hoặc tự ý mua thuốc hoặc bỏ thuốc).

Chính vì vậy mà trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ

lệ BN sử dụng GCs ngắt quãng thành nhiều đợt chiếm tới

58,8% và có 41,2% BN sử dụng GCs liên tục hàng ngày.



 Liều lượng và thời gian sử dụng GCs

Ở 27 bệnh nhân trong nghiên cứu, chúng tơi nhận

thấy liều GCs trung bình được sử dụng là 51,97 ± 44,63

mg/ngày; liều cao nhất mà chúng tôi gặp trong nghiên

cứu là 200mg/ngày và thấp nhất là 3,12 mg/ngày. Khi

phân chia mức độ liều theo Longui và cộng sự [9], chủ

yếu bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi sử dụng ở

mức độ liều cao và rất cao > 30mg/ngày chiếm tới 2/3 số

bệnh nhân.

Trong nghiên cứu, chúng tơi chỉ tính được thời gian

sử dụng GCs trên 14 bệnh nhân sử dụng GCs liên tục

hàng ngày, thời gian sử dụng trung bình là 240,57 ±

668,97 ngày; trong đó đa số bệnh nhân sử dụng GCs

trong thời gian từ 10 ngày đến 6 tháng, chỉ có duy nhất



77



một trường hợp mắc bệnh lý cầu thận đã điều trị liên tục

GCs trong 7 năm.

Bên cạnh các lợi điểm của GCs như giảm đau,

chống viêm mạnh, ức chế miễn dịch…các tác dụng bất

lợi đặc biệt là trên chuyển hoá glucose là một trong

những cảnh báo thường gặp. Rõ ràng là qua nghiên cứu

chúng tôi nhận thấy với liều GCs càng cao, điều trị càng

kéo dài thì nguy cơ bị ĐTĐ sau sử dụng GCs càng nhiều.

Vấn đề này cũng được đề cập trong khá nhiều nghiên

cứu như của Ha YJ tại Hàn Quốc trên 16 BN lupus ban đỏ

hệ thống điều trị GCs xuất hiện ĐTĐ [28] và Gonzalez và

cộng sự tại Mexico nghiên cứu 11 BN ĐTĐ mới sau điều

trị GCs liều cao cho các bệnh lý huyết học [29], dù số

lượng BN trong các nghiên cứu trên không nhiều nhưng

đều được theo dõi chặt chẽ.



 Đường dùng GCs

GCs được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng, với nhiều

dạng như đường toàn thân (uống, tiêm) hay tại chỗ (bôi

da, xịt…) cho những chuyên khoa khác nhau, nhưng

đường uống và đường tiêm hay được sử dụng do hiệu

quả cao trong điều trị đặc biệt ở những bệnh lý có chỉ

định dùng GCs. Dù bằng bất cứ đường dùng nào cũng

đều có thể gây ra những tác dụng bất lợi, tuy nhiên

đường toàn thân thường gây tác dụng bất lợi sớm hơn,

nặng nề hơn so với tại chỗ. Trong nghiên cứu của chúng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thừa cân và béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ của ĐTĐ và sự đề kháng insulin. Tuy nhiên có sự khác biệt giữa người Châu Á và Châu Âu, khi so sánh đặc điểm ĐTĐ giữa hai khu vực, ĐTĐ tại Châu Á tỷ lệ người béo phì chỉ gấp 2,5 – 3 lần thấp hơn so với

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×