Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Cả hai nhóm đều chủ yếu kiểm soát glucose máu bằng insulin hoặc insulin phối hợp với thuốc viên. 15% số BN dùng GCs ngắt quãng nhiều đợt đáp ứng với thuốc viên hạ glucose máu.

Nhận xét: Cả hai nhóm đều chủ yếu kiểm soát glucose máu bằng insulin hoặc insulin phối hợp với thuốc viên. 15% số BN dùng GCs ngắt quãng nhiều đợt đáp ứng với thuốc viên hạ glucose máu.

Tải bản đầy đủ - 0trang

68



Bảng 3.17. Liều trung bình GCs theo nhóm GCs

Liều GCs



TB ± SD



P



Min – Max



Loại GCs

GCs tác dụng trung bình



63,61 ±



5 – 200



46,01

GCs tác dụng kéo dài



28,68 ±



0,053

3,12 – 100



32,56



Nhận xét: Nhóm bệnh nhân sử dụng GCs tác dụng trung bình

sử dụng liều GCs trung bình cao hơn so với nhóm GCs tác

dụng kéo dài, p = 0,053.



57.2

60

50

40



21.4



30

20



10.7



10.7



10

0



Liều thấp và trung bình

GCs tác dụng trung bình



Liều cao và rất cao

GCs tác dụng kéo dài



Biểu đồ 3.16. Phân loại liều lượng GCs theo nhóm GCs

Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ BN sử dụng

GCs tác dụng trung bình với liều cao và rất cao chiếm tỷ lệ

nhiều nhất 57,2%.



69



%

45

40

35

30

25

20

15

10

5

0



41.2



26.5

17.6



14.7



GCs TD trung bình



0 kéo dài

GCs TD

Liên tuc



0 nam

Thuốc



Loại GCs



Ngắt quãng



Biểu đồ 3.17. Tần suất sử dụng GCs theo nhóm GCs

Nhận xét: Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, thì nhóm GCs

tác dụng trung bình sử dụng GCs liên tục hàng ngày chiếm tỷ

lệ cao nhất 41,2%.



70



Bảng 3.18. Glucose máu tĩnh mạch và HbA1c thời điểm

phát hiện ĐTĐ theo nhóm GCs

Glucose và HbA1c



TB ± SD



Loại GCs



P



Glucose tĩnh mạch (mmol/L)

GCs tác dụng trung 23,17 ± 13,79

P1,2 = 0,404

bình

GCs tác dụng kéo



P2,3 = 0,190

18,98 ± 7,50



dài

Thuốc nam



P1,3 = 0,136



14,20 ± 4,68

HbA1c (%)

10,17 ± 2,24



GCs tác dụng trung

bình

GCs tác dụng kéo



10,7 ± 2,13



dài

Thuốc nam



9,82 ± 2,88



P1,2 = 0, 560

P2,3 = 0, 506

P1,3 = 0,753



Nhận xét: Khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức

glucose tĩnh mạch và HbA1c thời điểm phát hiện ĐTĐ ở ba

nhóm GCs.

Bảng 3.19. Phác đồ điều trị theo nhóm GCs sử dụng

Loại GCs

Phương pháp ĐT



GCs TD trung



GCs TD kéo



bình

Số

Tỷ lệ



dài

Số BN Tỷ lệ



BN

Thuốc viên

Insulin

Thuốc

viên

Insulin

Chế độ ăn

Tổng



+



(%)



(n)



Thuốc nam

Số



Tỷ lệ



(%)



BN



(%)

16,7

0

66,7

16,7

100



(n)

01

15

02



5,3

78,9

10,5



01

06

02



11,1

66,7

22,2



(n)

01

0

04



01

19



5,3

100



0

09



0

100



01

06



71



Nhận xét: Trong 3 nhóm sử dụng GCs, chủ yếu BN kiểm soát

glucose máu bằng insulin hoặc insulin phối hợp với thuốc viên

hạ glucose máu.



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

Qua kết quả nghiên cứu 34 bệnh nhân nhập viện và điều

trị tại 3 khoa Nội tiết, Cơ xương khớp và Dị ứng Bệnh viện

Bạch Mai trong thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2017

chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến bàn luận như sau:

4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.1.1. Tuổi và giới

4.1.1.1. Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

của chúng tôi là 56,26 ± 13,15 (tuổi); tương đồng với kết

quả của Simmons và cộng sự tiến hành ở Australia

nghiên cứu so sánh đặc điểm nhân khẩu học và lâm

sàng của BN ĐTĐ mới sau điều trị GCs với BN ĐTĐ type 2

có điều trị GCs và ĐTĐ type 2, tuổi trung bình của nhóm

BN ĐTĐ mới phát hiện sau điều trị GCs là 59,2 ± 11,5

[2]. Bệnh nhân trẻ tuổi nhất trong nghiên cứu của chúng

tôi là 30 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 87 tuổi, độ tuổi

hay gặp nhất là từ 51 – 70 tuổi chiếm 61,8%.

4.1.1.2. Về giới của nhóm BN nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 22 bệnh nhân là

nữ giới chiếm 64,7%; 12 bệnh nhân nam giới chiếm



72



35,3%. Tỷ lệ nữ giới trong nghiên cứu gặp nhiều hơn

nam giới, tỷ lệ nữ: nam là 1,8: 1. Nghiên cứu ở Hàn

Quốc cũng cho tỷ lệ nữ > nam [28], tuy nhiên nghiên

cứu của Australia thì tỷ lệ nữ < nam [2].

4.1.2.Chỉ số khối cơ thể (BMI)

Thừa cân và béo phì là một trong những yếu tố

nguy cơ của ĐTĐ và sự đề kháng insulin. Tuy nhiên có sự

khác biệt giữa người Châu Á và Châu Âu, khi so sánh đặc

điểm ĐTĐ giữa hai khu vực, ĐTĐ tại Châu Á tỷ lệ người

béo phì chỉ gấp 2,5 – 3 lần thấp hơn so với khu vực Châu

Âu là 6 – 8 lần [41].

Trong nghiên cứu của Ha YJ và cộng sự tiến hành

trên 127 đối tượng mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống

được điều trị GCs liều cao, theo dõi glucose máu và đánh

giá các đặc điểm của 16 BN xuất hiện ĐTĐ sau đó, có chỉ

số BMI trung bình là 23,9 ± 4,4 kg/m2 [28].

Nghiên cứu của chúng tôi, lựa chọn những bệnh

nhân được chẩn đốn ĐTĐ, BMI trung bình trong nghiên

cứu của chúng tơi là 22,62 ± 3,67; bệnh nhân có chỉ số

BMI thấp nhất là 17,57 kg/m2 và cao nhất là 32,46 kg/

m2. Trong đó chủ yếu bệnh nhân có chỉ số BMI trong giới

hạn bình thường (18,5 – 22,9 kg/m2) là 50%; số bệnh

nhân có chỉ số BMI ở mức thừa cân – béo phì (≥ 23

kg/m2) cũng chiếm tới 38,2%. Ở mức thừa cân – béo phì,

chỉ có 8,8% BN có BMI ≥ 30 kg/m 2. Trong nghiên cứu của

chúng tơi chưa tìm thấy mối liên quan giữa BMI với tỷ lệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Cả hai nhóm đều chủ yếu kiểm soát glucose máu bằng insulin hoặc insulin phối hợp với thuốc viên. 15% số BN dùng GCs ngắt quãng nhiều đợt đáp ứng với thuốc viên hạ glucose máu.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×