Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chúng tôi nhận thấy giữa các nhóm GCs thì nhóm sử dụng GCs tác dụng trung bình dùng liều GCs cao hơn so với nhóm bệnh nhân dùng GCs tác dụng kéo dài, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,053), có thể do số lượng bệnh nhân trong nghi

Chúng tôi nhận thấy giữa các nhóm GCs thì nhóm sử dụng GCs tác dụng trung bình dùng liều GCs cao hơn so với nhóm bệnh nhân dùng GCs tác dụng kéo dài, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,053), có thể do số lượng bệnh nhân trong nghi

Tải bản đầy đủ - 0trang

93



so với nhóm bệnh nhân dùng GCs tác dụng kéo dài, tuy

nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê (p =

0,053), có thể do số lượng bệnh nhân trong nghiên cứu

của chúng tơi còn nhỏ và với các BN sử dụng GCs ngắt

quãng nhiều đợt chúng tôi chỉ khai thác được liều GCs

cao nhất mà BN từng sử dụng.

GCs là nhóm thuốc chống viêm, ức chế miễn dịch

mạnh, tuy nhiên mỗi loại GCs lại có hiệu quả khác nhau.

Nhóm GCs tác dụng ngắn ảnh hưởng lên chuyển hố

muối nước là chính, hiệu lực chống viêm yếu; nhóm GCs

tác dụng trung bình ảnh hưởng lên chuyển hố muối

nước kém hơn và hiệu lực chống viêm mạnh hơn, còn

nhóm GCs tác dụng kéo dài khơng có ảnh hưởng đến

chuyển hố muối nước và là nhóm có hiệu lực chống

viêm mạnh nhất. Chính vì vậy, mỗi nhóm sẽ có những

chỉ định điều trị khác nhau, GCs tác dụng ngắn chủ yếu

được dùng trong liệu pháp thay thế hormone; nhóm GCs

tác dụng trung bình và kéo dài thì chỉ định trong những

bệnh lý yêu cầu ức chế miễn dịch, chống viêm. Trong ba

nhóm thì nhóm GCs tác dụng trung bình là được chỉ định

rộng rãi hơn cả. Vì vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi

tỷ lệ BN dùng GCs tác dụng trung bình với liều cao, rất

cao và tần suất liên tục hàng ngày gặp nhiều nhất

(57,2% và 41,2%).

Trên thế giới, hiện chưa có nghiên cứu nào so sánh

sự ảnh hưởng lên chuyển hoá glucose máu cũng như mức

tăng glucose máu giữa các nhóm thuốc GCs. Trong bệnh

nhân nghiên cứu của chúng tơi, ở các nhóm sử dụng GCs



94



tác dụng trung bình, tác dụng kéo dài và thuốc nam; khi

phát hiện ĐTĐ nhận thấy rằng HbA1c trung bình của ba

nhóm tương đương nhau, glucose tĩnh mạch của nhóm sử

dụng GCs tác dụng trung bình cao nhất và nhóm sử dụng

thuốc nam thấp nhất, tuy nhiên do số lượng bệnh nhân

trong nghiên cứu của chúng tơi còn nhỏ, nên sự chênh

lệch chưa có ý nghĩa thống kê.

Ở thời điểm phát hiện ĐTĐ, mức HbA1c và glucose

tĩnh mạch của ba nhóm khơng có sự khác biệt và đều ở

mức cao nên chủ yếu bệnh nhân các nhóm đều sử dụng

insulin để kiểm sốt glucose máu. Hai nhóm bệnh nhân

dùng GCs tác dụng trung bình và tác dụng kéo dài đều

được kiểm sốt glucose máu bằng insulin hoặc insulin

phối hợp với thuốc viên (89,4% - 88,9%). Nhóm bệnh

nhân sử dụng thuốc nam khơng có bệnh nhân nào kiểm

soát glucose máu bằng insulin đơn độc, 66,7% bệnh

nhân sử dụng insulin phối hợp với thuốc viên hạ glucose

máu. Do cỡ mẫu nghiên cứu chúng tơi còn nhỏ và thời

gian nghiên cứu ngắn nên chưa đánh giá được sự khác

biệt trong đáp ứng điều trị giữa các nhóm sử dụng GCs,

hi vọng trong thời gian tới sẽ có những nghiên cứu với số

lượng BN nghiên cứu lớn hơn và thời gian nghiên cứu dài

hơn để có thể đánh giá sự khác biệt rõ ràng hơn giữa các

nhóm sử dụng GCs.



KẾT LUẬN



95



Qua nghiên cứu 34 bệnh nhân nhập viện từ tháng

11/2016 đến tháng 10/2017, chúng tôi rút ra các kết luận như

sau:

1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân

ĐTĐ sau điều trị GCs

- Tuổi trung bình của BN nghiên cứu là 56,26 tuổi. Nữ

giới gặp nhiều hơn nam giới.

- Chưa thấy có mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ

ĐTĐ type 2 với sự xuất hiện ĐTĐ sau điều trị GCs.

- GCs tác dụng trung bình được sử dụng nhiều nhất

(55,9%); 17,7% BN nghiên cứu sử dụng thuốc nam,

thuốc không rõ nguồn gốc. Đa số BN sử dụng GCs ngắt

quãng nhiều đợt.

- Sử dụng GCs liều cao, thời gian dài thì nguy cơ

xuất hiện ĐTĐ càng cao. GCs đường toàn thân thường

gây ra tác dụng bất lợi sớm hơn so với tại chỗ.

- Tỷ lệ BN bệnh khớp dùng GCs chiếm tỷ lệ cao nhất

41,2%.

- Thời gian phát hiện ĐTĐ sau điều trị GCs là 54,35

tháng.

- 55,9% BN có triệu chứng của tăng glucose máu;

5,9% BN có biến chứng tăng áp lực thẩm thấu máu do

glucose máu cao. 67,6% BN có biểu hiện hội chứng

Cushing.

- Đa số BN có Glucose tĩnh mạch và HbA1c thời điểm

phát hiện ĐTĐ ở mức cao, nồng độ Cortisol máu thấp

nhưng khơng có biểu hiện trên lâm sàng.

2. Nhận xét kiểm soát glucose máu và một số yếu tố

liên quan ở bệnh nhân ĐTĐ sau điều trị GCs



96



- Chủ yếu BN được dùng insulin hoặc insulin phối hợp

với 1 nhóm thuốc viên để kiểm sốt glucose máu

(85,3%); đa số sử dụng phác đồ 4 mũi/ngày. Metformin

vẫn là nhóm thuốc đầu tay được lựa chọn.

- 11,8% BN khi xuất viện chuyển được phác đồ điều

trị insulin ban đầu sang thuốc viên, hoặc điều chỉnh chế

độ ăn. 8,8% BN giảm được số mũi insulin.

- 2/3 số BN nghiên cứu tiếp tục sử dụng GCs sau khi

phát hiện ĐTĐ. GCs tác dụng trung bình là nhóm thuốc

được dùng nhiều nhất. Liều GCs sử dụng thấp hơn so với

trước khi phát hiện ĐTĐ có ý nghĩa thống kê

- BN sử dụng GCs tần suất liên tục hàng ngày với liều

cao và rất cao hoặc GCs tác dụng trung bình với liều cao,

rất cao nguy cơ xuất hiện ĐTĐ sau điều trị GCs càng cao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chúng tôi nhận thấy giữa các nhóm GCs thì nhóm sử dụng GCs tác dụng trung bình dùng liều GCs cao hơn so với nhóm bệnh nhân dùng GCs tác dụng kéo dài, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,053), có thể do số lượng bệnh nhân trong nghi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×