Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong đường toàn thân, đường uống là đường sử dụng được cả trong và ngoài bệnh viện, còn đường tiêm thường phải yêu cầu thực hiện bởi các nhân viên y tế có trình độ; vì vậy tỷ lệ BN sử dụng đường uống trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm đến 61,2%.

Trong đường toàn thân, đường uống là đường sử dụng được cả trong và ngoài bệnh viện, còn đường tiêm thường phải yêu cầu thực hiện bởi các nhân viên y tế có trình độ; vì vậy tỷ lệ BN sử dụng đường uống trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm đến 61,2%.

Tải bản đầy đủ - 0trang

79



4.2.2. Đặc điểm lâm sàng

4.2.2.1. Thời gian xuất hiện ĐTĐ

Trong nghiên cứu của Gonzalez và cộng sự, tiến

hành trên 32 BN mắc bệnh bạch cầu cấp hoặc u lympho

không Hodkin khơng có tiền sử ĐTĐ được điều trị bằng

GCs liều cao, sau đó phân tích 11 BN xuất hiện ĐTĐ mới

thấy ĐTĐ thường xảy ra sau điều trị GCs từ hai đến tám

tuần[29]. Nghiên cứu của Ha YJ và cộng sự đánh giá 16

BN lupus ban đỏ hệ thống mắc ĐTĐ mới sau điều trị GCs

liều cao, thời gian trung bình từ khi sử dụng GCs đến khi

phát hiện ĐTĐ là 34 ngày [28]. Hầu hết các nghiên cứu

trên thế giới đối tượng nghiên cứu thường tập trung vào

các bệnh nhân mắc bệnh lý cụ thể, với GCs liều cao liên

tục và được theo dõi định kỳ. Trong nghiên cứu của

chúng tôi đối tượng nghiên cứu là những BN được chẩn

đốn ĐTĐ lần đầu và có tiền sử dùng GCs trước đó,

khơng phân biệt đối tượng bệnh lý. Các bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi thường sử dụng GCs ngắt

quãng nhiều đợt chiếm tỷ lệ 58%, một tỷ lệ không nhỏ

17,7% là các BN sử dụng thuốc nam và thuốc không rõ

nguồn gốc, các BN thường không được theo dõi thường

quy bởi các bác sĩ chun khoa. Chính vì vậy, việc xác

định thời gian bắt đầu sử dụng GCs khó chính xác và

theo dõi BN cũng gặp nhiều khó khăn. Với những lý do

khách quan như trên, thời gian xuất hiện ĐTĐ trung bình

trong nghiên cứu của chúng tơi là 54,35 ± 71,37 (tháng)

dài hơn so với các nghiên cứu khác; trong đó thời gian



80



sớm nhất là 10 ngày và lâu nhất là 20 năm. Đây cũng là

một hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi.

4.2.2.2. Triệu chứng tăng glucose máu

Khi glucose máu tăng đến mức có tình trạng ngộ

độc đường thì sẽ xuất hiện các triệu chứng bao gồm:

khát nước, đái nhiều, ăn nhiều, sút cân không giải thích

được; tuy nhiên các triệu chứng này khơng phải là triệu

chứng đặc hiệu cho bệnh. Các triệu chứng có thể tiến

triển rầm rộ hay từ từ tăng dần hoặc không có bất kỳ

biểu hiện nào trên lâm sàng, bệnh nhân chỉ phát hiện ra

ĐTĐ khi đi khám định kỳ hoặc vì dấu hiệu bệnh lý khác.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, 55,9% số bệnh

nhân có các triệu chứng lâm sàng của tăng glucose máu;

44,1% khơng có triệu chứng lâm sàng của tăng glucose

máu. Điều này chứng tỏ không phải lúc nào cũng dựa

trên bằng chứng lâm sàng để phát hiện ĐTĐ trên những

đối tượng dùng GCs. Vấn đề này cũng cảnh báo cho các

bác sỹ lâm sàng khi sử dụng GCs kéo dài cho các bệnh lý

nội khoa cần để ý đến tình trạng tăng glucose máu thậm

chí có thể là ĐTĐ kể cả khi khơng có dấu hiệu lâm sàng

của tăng glucose máu.

4.2.2.3. Biến chứng cấp tính của glucose máu cao

Hai biến chứng cấp tính thường gặp trên lâm sàng

do glucose máu cao là tăng áp lực thẩm thấu máu và

nhiễm toan ceton do ĐTĐ. Nhiễm toan ceton nguyên

nhân chính là do thiếu hụt insulin dẫn đến tăng ly giải



81



lipid, tăng tổng hợp thể ceton. Tăng áp lực thẩm thấu

máu là do tình trạng glucose máu quá cao làm tăng

glucose niệu, tăng lợi tiểu thẩm thấu dẫn đến tình trạng

mất nước nặng [31],[32]. Sử dụng GCs kéo dài sẽ ảnh

hưởng đến chuyển hoá glucose máu làm tăng kháng

insulin ở các mơ và lâu dài có thể gây thiếu hụt insulin,

vì vậy biến chứng cấp tính như nhiễm toan ceton, tăng

áp lực thẩm thấu máu cũng có thể gặp trên những người

bệnh ĐTĐ do dùng GCs, nhưng gặp nhiều hơn cả là tăng

áp lực thẩm thấu máu.

Trong 34 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tơi, có 2

BN có biến chứng tăng áp lực thẩm thấu máu do glucose

máu cao và khơng có BN nào có biến chứng nhiễm toan

ceton do ĐTĐ. Cả hai BN này được sử dụng GCs với liều

cao mặc dù khơng kéo dài nhưng lại gây tình trạng tăng

glucose máu nhiều đặc biệt glucose máu sau ăn. Khác

với nghiên cứu của chúng tôi, các nghiên cứu khác do

phát hiện ĐTĐ sau điều trị GCs sớm với mức glucose

máu không cao nên hầu như không gặp trường hợp nào

có biến chứng cấp tính. Như vậy, khi BN sử dụng GCs

đặc biệt là liều cao và rất cao, các bác sĩ lâm sàng cần

phải chú ý theo dõi cả glucose máu sau ăn của BN

tránh bỏ sót các trường hợp ĐTĐ mới xuất hiện tránh

các biến chứng cấp tính do glucose máu cao.

4.2.2.4. Triệu chứng lâm sàng liên quan sử dụng GCs



82



GCs là một nhóm thuốc chống viêm, giảm đau, ức

chế miễn dịch mạnh; được sử dụng trong rất nhiều lĩnh

vực khác nhau. Bên cạnh những lợi ích mà chúng mang

lại, thì khi điều trị GCs cũng gặp rất nhiều tác dụng bất

lợi, trong đó hay gặp nhất là hội chứng Cushing và suy

thượng thận do thuốc. Hội chứng Cushing xảy ra do cơ

thể tiếp xúc với GCs ngoại sinh kéo dài.

Sự xuất hiện của hội chứng Cushing hầu như khơng

phụ thuộc vào loại GCs hay đường dùng (tồn thân hay

tại chỗ); mà thường liên quan đến liều lượng và thời

gian điều trị; tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào dự

đoán được liều lượng và thời gian điều trị ở mức nào sẽ

dẫn đến sự phát triển của hội chứng Cushing vì mỗi

người có mức độ nhạy cảm với GCs khác nhau. Hội

chứng Cushing có thể xuất hiện sau vài tuần hoặc vài

tháng sử dụng GCs [44].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng và cộng sự tiến

hành khảo sát tác dụng bất lợi của GCs trên 463 BN mắc

bệnh hệ thống sử dụng GCs tại Trung tâm dị ứng – Miễn

dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, thấy tỷ lệ biểu hiện

hội chứng Cushing là 5,28% [45].

Trong nghiên cứu của chúng tơi có tỷ lệ bệnh nhân

hội chứng Cushing do GCs ngoại sinh cao hơn là 67,6%.

Có lẽ là do những BN của chúng tôi đều là những BN đa

phần là những BN sử dung GCs liều cao và rất cao trong

một thời gian dài.



83



Do sử dụng GCs ngoại sinh có thể ức chế trục dưới đồi –

tuyến yên – thượng thận cho nên một tác dụng bất lợi nữa

cũng hay gặp ở bệnh nhân sử dụng GCs kéo dài đó là suy

thượng thận do thuốc. Đây là một trong những tác dụng bất

lợi có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nếu

khơng được phát hiện kịp thời, đặc biệt khi có các bệnh lý

nặng kèm theo. Các biểu hiện lâm sàng của suy thượng thận

như mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn…thường không đặc

hiệu cho bệnh; hay gặp ở những bệnh nhân ngừng thuốc đột

ngột hoặc ngừng thuốc quá nhanh dẫn đến suy thượng thận

cấp tính. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tơi, khơng có

bệnh nhân nào có biểu hiện suy thượng thận cấp tính trên

lâm sàng.

4.2.3. Đặc điểm cận lâm sàng

4.2.3.1. Glucose máu tĩnh mạch và HbA1c thời điểm phát hiện

ĐTĐ

Khi phát hiện ĐTĐ, bệnh nhân trong nghiên cứu của

chúng tơi có glucose máu tĩnh mạch bất kỳ trung bình là

20,48 ± 11,51 mmol/L; trong đó bệnh nhân có mức

glucose máu lúc phát hiện cao nhất là 52,85 mmol/L và

thấp nhất là 8,8 mmol/L. HbA1c thời điểm phát hiện ĐTĐ

của nhóm nghiên cứu trung bình là 10,25 ± 2,28%; BN

có mức HbA1c cao nhất là 14,3%.

Ha YJ và cộng sự tiến hành theo dõi 127 BN lupus

ban đỏ hệ thống khơng có tiền sử ĐTĐ được điều trị GCs

liều cao, thấy 16 BN xuất hiện ĐTĐ mới, HbA1c trung



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong đường toàn thân, đường uống là đường sử dụng được cả trong và ngoài bệnh viện, còn đường tiêm thường phải yêu cầu thực hiện bởi các nhân viên y tế có trình độ; vì vậy tỷ lệ BN sử dụng đường uống trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm đến 61,2%.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×