Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Kết quả sau điều trị của nhóm 1 điều chỉnh chế độ ăn và nhóm 2 điều trị bằng nhóm thuốc statin không có sự khác biệt với p > 0,05. Kết quả sau điều trị của nhóm 3 kết hợp cả nhóm statin và ức chế hấp thu cholestrtol giảm cả nồng độ cholestero

Nhận xét: Kết quả sau điều trị của nhóm 1 điều chỉnh chế độ ăn và nhóm 2 điều trị bằng nhóm thuốc statin không có sự khác biệt với p > 0,05. Kết quả sau điều trị của nhóm 3 kết hợp cả nhóm statin và ức chế hấp thu cholestrtol giảm cả nồng độ cholestero

Tải bản đầy đủ - 0trang

55



Bảng 3.17. Bệnh nhân đạt đích điều trị của nhóm tăng cholesterol

Nhóm



Số bệnh nhân đích



Số bệnh nhân khơng



điều trị



đạt đích điều trị



1



5



3



3



3



5



Nhóm 1

(n = 6)

Nhóm 2

(n = 6)

Nhóm 3

(n = 8)



Nhận xét: Bệnh nhân điều trị bằng nhóm thuốc statin đạt được đích nhiều

nhất với 50% bệnh nhân đạt đích điều trị.

Bảng 3.18. Nồng độ lipid sau điều trị của nhóm tăng triglyceride

Thời gian

Cholesterol tồn phần



Triglyceride



điều trị



(mmol/l)



(mmol/l)



trung bình



Xét



(tháng)



nghiệm



Hiệu

Trung bình



chênh



Hiệu

P



Trung bình



lệch

điều trị

Sau điều



(1,1- 34,9)

3,43 ± 0,82



trị



(2- 4,9)



P



lệch



7,37 ± 8,2



Trước



chênh



41,9 ± 63,79

4,19 ±

8,27



<0,01



(3,8- 293,36)

8,58 ± 6,04



34,15 ±

61,83



9,42 ±

<0,01



(1,24- 25,9)



12,71

(1- 48)



Nhận xét: Có sự cải thiện đáng kể cả nồng độ triglyceride trung bình và

nồng độ cholesterol tồn phần trung bình sau điều trị với p < 0,01.



56



Bảng 3.19. Bệnh nhân đạt đích điều trị của nhóm tăng triglyceride

Mức độ tăng

triglyceride

(mmol/l)

< 5,7

(n = 1)

< 10

(n = 1)

> 10

(n = 32)



Số bệnh nhân có



Số bệnh nhân



Số bệnh nhân



giảm



giảm



triglyceride < 10



triglyceride < 5



mmol/l



mmol/l



0



0



0



0



1



0



23



12



0



Cholesterol

không phải

HDL- C < 0,77

mmol/l



Nhận xét: Có 67,6% các bệnh nhân có nồng độ triglyceride trước điều trị

cao đạt được đích triglyceride < 10 mmol/l.



Bảng 3.20. Nồng độ lipid sau điều trị của nhóm tăng lipid

hỗn hợp



57



Thời gian

Cholesterol tồn phần (mmol/l)



Xét



Triglyceride (mmol/l)



điều trị trung

bình (tháng)



nghiệm

Trung bình

Trước



6,28 ± 1,11



điều trị

Sau điều



(5- 8)

5,16 ± 0,82



trị



(4,3- 6,75)



Hiệu chênh



P



lệch



Trung bình



Hiệu chênh

lệch



P



15,6 ± 5,15

(9- 22,28)

6,05 ±7,52



1,12 ± 1,37 0,07



9,14 ± 17,24



9,54 ± 7,26 0,01



(1- 48)



(0,83- 22,5)



Nhận xét: Nồng độ cholesterol tồn phần trung bình khơng thay đổi với

p > 0,05, nồng độ triglyceride trung bình có cải thiện sau điều trị với p = 0,01.

Bảng 3.21 Bệnh nhân đạt đích điều trị của nhóm tăng lipid hỗn hợp



Bệnh nhân



Số bệnh nhân



Số bệnh



Số bệnh nhân có



giảm



nhân giảm



Cholesterol



triglyceride



triglyceride



khơng phải HDL



< 10 mmol/l



< 5 mmol/l



< 0,77 mmo/l



5



4



0



1



0



0



Điều chỉnh chế độ

ăn & luyện tập

(n = 6)

Điều trị thuốc

(n = 1)



Nhận xét: nhóm tăng lipid hỗn hợp đạt được đích nồng độ triglyceride <

10 mmol/l và < 5 mmol/l rất cao, chiếm tới 71,4% và 57% bệnh nhân.



Bảng 3.22. Tuổi bắt đầu điều trị thuốc hạ mỡ máu của các nhóm bệnh



58



Tuổi bắt đầu điều trị thuốc hạ mỡ máu



Nhóm



(năm)

6,18 ± 4,4



Tăng cholesterol



(1- 15 )

Tăng lipid hỗn hợp



10



Nhận xét: tuổi điều trị của nhóm tăng cholesterol là sớm nhất, trong đó

bệnh nhân điều trị sớm nhất là 1 tuổi do cholesterol toàn phần, LDL- C tăng cao

lúc chẩn đoán và tiền sử gia đình có nhiều yếu tố nguy cơ cao bệnh lý tim mạch.

Bảng 3.23. Xét nghiệm men gan sau 3 tháng điều trị thuốc của nhóm tăng

cholesterol



Trước



Nhóm 2 (n = 6)

Hiệu chênh

Trung bình

lệch

26,62 ± 1,68



điều trị

Sau



(25- 29,3)

27,49 ± 2,25



điều trị

Trước



(25,4- 31)

12,15 ± 4,11



điều trị



(8,55- 19)



Sau



14,92 ± 2,77



điều trị



(11,9- 18,4)



Xét nghiệm



GOT

(U/l)



GPT

(U/l)



P



0,03

0,89 ± 0,58



Nhóm 3 (n= 8)

Hiệu chênh

Trung bình

lệch

30,59 ± 5,89

15,27 ± 21,17

(25- 40)

46,32 ± 21,81



P



0,07



(26,6- 83,9

19,65 ± 7,72

2,77 ± 3,3



0,13



(8,55- 32)

44,98 ± 33,17



25,33 ± 12,08



0,07



(15- 102,7)



Nhận xét: chỉ có nồng độ GOT trung bình trong nhóm điều trị bằng

statin tăng nhẹ với p < 0,05.

CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu



59



4.1.1. Tuổi chẩn đoán

Kết quả từ bảng 3.1 cho thấy, tuổi chẩn đốn giữa các nhóm bệnh trong

nghiên cứu này rất thay đổi, tuổi chuẩn đốn bệnh của nhóm tăng triglyceride

sớm nhất, trung bình là 2,59 ± 3,78 tuổi (sớm nhất là 22 ngày tuổi), bệnh nhân

tăng cholesterol có tuổi chẩn đốn muộn nhất, trung bình 5,39 ± 4,15 tuổi

(muộn nhất là 15 tuổi).

Tuổi chẩn đốn của nhóm tăng cholesterol thường muộn là do ở nước

ta chưa có chương trình sàng lọc bệnh tăng lipid máu ở trẻ em, nên các bệnh

nhân thường có biểu hiện u hạt vàng hoặc khi có anh chị em ruột bị mắc bệnh

mới đến khám. Trong khi 2 nhóm bệnh tăng triglyceride và tăng lipid hỗn hợp

thường được phát hiện tình cờ do huyết thanh đục khi làm các xét nghiệm

chẩn đoán các bệnh khác. Điều này phù hợp với kết quả thu được trong

bảng 3.3, 3.4, 3.5, triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất của nhóm tăng

cholesterol là u hạt vàng (66,7%), triệu chứng ống máu đục gặp ở 97,1%

bệnh nhân tăng triglyceride, 100% bệnh nhân tăng lipid hỗn hợp. Hơn nữa,

đặc điểm của nhóm tăng triglyceride do thiếu hụt lipoprotein lipase thường

xuất hiện sớm, trước 1 tuổi, nên tuổi chẩn đốn của nhóm này cũng sớm

hơn so với các nhóm khác.

4.1.2. Giới

Trong số 59 bệnh nhân trong nghiên cứu, trẻ nam và trẻ nữ chiếm tỷ lệ

tương đương nhau ở các nhóm bệnh, tỷ lệ nam/nữ trong nhóm tăng

cholesterol là 1:1 và nhóm tăng lipid hỗn hợp là 1,3 :1, trong nhóm tăng

triglyceride là 1:1,4 (bảng 3.2). Điều này là phù hợp với đặc điểm di truyền

của các nhóm bệnh là di truyền trội hoặc di truyền lặn trên nhiễm sắc thể

thường, cả nam và nữ đều bị ảnh hưởng như nhau, do đó thường khơng có sự

khác biệt về giới.

4.2. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng



60



4.2.1. Phân loại theo thể lâm sàng

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ gặp nhóm bệnh tăng triglyceride là nhiều

nhất, chiếm 57,6%, tiếp đến là nhóm tăng cholesterol, chiếm 30,5%, cuối

cùng là nhóm tăng lipid hỗn hợp chiếm 11,9%.

Tỷ lệ phân bố bệnh này không phù hợp với tỷ lệ mắc theo lý thuyết của

các nhóm bệnh: tỷ lệ gặp bệnh tăng lipid gia đình hỗn hợp ở người da trắng là

1: 50 đến 1: 30, tỷ lệ gặp bệnh rối loạn betalipoprotein gia đình và các hạt tàn

dư là 1- 5/ 5.000, 1- 5/ 10.000 ở Nhật Bản (nhóm tăng lipid máu hỗn hợp); tỷ

lệ gặp tăng cholesterol gia đình dị hợp tử là 1: 500, tỷ lệ gặp thiếu hụt ApoB

gia đình là 1: 700 đến 1: 500 (nhóm tăng cholesterol máu); tỷ lệ gặp thiếu hụt

Lipoprotein lipase là 1: 1.000.000 (nhóm tăng triglyceride máu).

Tuy nhiên có thể giải thích được có sự khác biệt này là do hiện tại nước

ta chưa có chương trình sàng lọc bệnh tăng lipid máu ở trẻ em, các biểu hiện

bệnh không đặc trưng, thường bị nhẫm lẫn với các ngun nhân khác. Nhóm

bệnh tăng cholesterol thường khơng có biểu hiện lâm sàng, đặc biệt là tăng

cholesterol thể dị hợp tử, các bệnh nhân thường đến khám do có biến chứng

tim mạch sớm hoặc xuất hiện u hạt vàng ở tuổi trưởng thành. Đối với trẻ em

có u hạt vàng ở thường đến khám lần đầu tại chuyên khoa da liễu, đa khoa, có

bệnh nhân đã bị chẩn đốn nhầm là u do nấm, hoặc khơng biết đó là u hạt

vàng. Đối với nhóm bệnh tăng lipid hỗn hợp, lâm sàng cũng khơng có biểu

hiện đặc trưng, triệu chứng có thể gặp là bệnh lý tim mạch sớm ở tuổi trưởng

thành. Đối với bệnh nhân có biểu hiện đau bụng hoặc viêm tụy cấp thường đi

khám tại chuyên khoa tiêu hóa, có bệnh nhân 3 lần điều trị viêm tụy cấp mới

làm xét nghiệm triglyceride máu và phát hiện ra bệnh, thậm chí có bệnh nhân

lấy máu thấy huyết tương đục nhưng cũng không được làm xét nghiệm kiểm

tra mỡ máu. Còn với nhóm bệnh tăng triglyceride, tuy khơng có biểu hiện lâm



61



sàng nhưng bệnh nhân thường có biểu hiện huyết thanh đục khi lấy máu xét

nghiệm nên thường phát hiện bệnh tình cờ khi đi khám bệnh khác.

4.2.2. Triệu chứng lâm sàng

Kết quả từ bảng 3.3, 3.4, 3.5 cho thấy triệu chứng lâm sàng của bệnh

tăng lipid máu tiên phát khơng có triệu chứng đặc trưng, có thể nhầm lẫn với

bệnh lý da liễu, tiêu hóa, gan mật, tim mạch.

Nhóm tăng cholesterol, triệu chứng thường gặp nhất là u hạt vàng

chiếm 66,7%, đây cũng là lý do chủ yếu khiến cho bệnh nhân đi khám. Dạng

u hạt vàng hay gặp nhất là u vàng dạng nốt với tỷ lệ là 61,1%, tiếp theo là u

vàng dạng củ chiếm tỷ lệ 22,2%, u hạt vàng vùng gân gặp ở 2 bệnh nhân

chiếm tỷ lệ 11,1%, những bệnh nhân này thường là có u hạt vàng từ lâu mà

chưa được chẩn đoán, hoặc đã được chẩn đoán nhưng tuân thủ điều trị kém.

Ngồi ra trong nghiên cứu này, có 1 bệnh nhân có biểu hiện tăng huyết áp, là

biến chứng tim mạch sớm do xơ vữa mạch máu gây ra, chiếm 5,6%. Khơng

có bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng vòng mỡ giác mạc. Kết quả này khác

với kết quả của tác giả Hideka Bujo và cộng sự [34] với tỷ lệ gặp triệu chứng

u hạt vàng là 100% ở nhóm tăng cholesterol đồng hợp tử và 87% ở nhóm tăng

cholesterol dị hợp tử; tỷ lệ gặp u hạt vàng vùng gân là 100% ở nhóm tăng

cholesterol đồng hợp tử và 82% ở nhóm tăng cholesterol dị hợp tử; tỷ lệ mắc

bệnh lý xơ vữa mạch máu là 73% ở nhóm tăng cholesterol đồng hợp tử và

24% ở nhóm tăng cholesterol dị hợp tử. Có sự khác biệt này có thể do tuổi

bệnh nhân ở nghiên cứu này lớn hơn so với nhóm nghiên cứu của chúng tơi

với tuổi trung bình của nhóm tăng cholesterol đồng hợp tử là 26 ±14 tuổi, của

nhóm tăng cholesterol dị hợp tử là 51 ± 15 tuổi.

Nhóm tăng triglyceride, chỉ có 1 bệnh nhân có u hạt vàng, chiếm tỷ lệ

2,9%. Do nhóm bệnh này làm tăng cao triglycerid máu nên triệu chứng ống

máu đục chiếm tới 97,1%, còn lại là các triệu chứng liên quan đến đường tiêu



62



hóa: tỷ lệ bệnh nhân có gan to, lách to là như nhau 20,6%. Triệu chứng đau

bụng là 5,9% và viêm tụy cấp có tỷ lệ là 2,9%, hai triệu chứng này gặp ở bệnh

nhân độ tuổi thiếu niên. Nhóm tăng triglyceride ít có nguy cơ biến chứng tim

mạch sớm hơn so với 2 nhóm còn lại nên trong nghiên cứu này cũng không

gặp bệnh nhân tăng huyết áp. BMI của nhóm bệnh nhân tăng triglyceride máu

này ở giới hạn bình thường so với tuổi và giới. So với nghiên cứu của tác giả

Juan Carlos Feoli- Fonseca và cộng sự nghiên cứu trên 16 trẻ có nồng độ

triglyceride > 10 mmol/l, xuất hiện bệnh dưới 1 tuổi, xác định có thiếu hụt

enzyme lipoprotein lipase thì biểu hiện triệu chứng chính là quấy khóc kèm

hoặc khơng kèm sốt, nôn hoặc ỉa chảy (7 bệnh nhân); da xanh, thiếu máu, lách

to (5 bệnh nhân). Tuy nhiên trong nghiên cứu này có 2 bệnh nhân biểu hiện

xuất huyết tiêu hố thấp, nhưng khơng có bệnh nhân có gan to [35]. Có sự

khác biệt này có thể do thiết kế nghiên cứu của 2 nghiên cứu khác nhau.

Với nhóm tăng lipid hỗn hợp, mặc dù gây tăng cả cholesterol máu

nhưng ở mức độ trung bình nên thường khơng có biểu hiện u hạt vàng sớm, tỷ

lệ gặp u hạt vàng ở nhóm này là 0%. Tương tự như nhóm tăng triglyceride,

nhóm tăng lipid hỗn hợp cũng có triệu chứng ống máu đục và các triệu chứng

về tiêu hóa. Tỷ lệ ống máu đục ở nhóm này rất cao chiếm 100% các ca bệnh,

gan to chiếm 14,3%, lách to chiếm 14,3%, triệu chứng đau bụng chiếm

28,6%, có 1 bệnh nhân có biến chứng viêm tụy cấp chiếm 14,2%. Triệu chứng

đau bụng và viêm tụy cấp cũng gặp ở trẻ độ tuổi thiếu niên. Khơng có bệnh

nhân tăng huyết áp ở nhóm này, điều này là phù hợp vì tăng lipid máu hỗn

hợp có nguy cơ biến chứng tim mạch sớm nhưng thường xuất hiện muộn hơn

so với nhóm tăng cholesterol vì nồng độ cholesterol máu toàn phần thường

tăng ở mức độ nhẹ.

4.2.3. Yếu tố gia đình



63



Kết quả từ bảng 3.6, 3,7, 3,8 cho thấy nhóm tăng cholesterol tỷ lệ có

tiền sử cao nhất chiếm 50% các trường hợp, trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm

tăng triglyceride là 38,24%, nhóm tăng lipid hỗn hợp là 25,57%. Điều này có

thể giả thích do chủ yếu các nhóm bệnh tăng lipid máu tiên phát là di truyền

lặn nhiễm sắc thể thường, chỉ có một vài nhóm là di truyền trội, nên có thể bố

mẹ là người mang gen lặn nhưng khơng có biểu hiện lâm sàng (người lành

mang gen bệnh) bệnh nhân được truyền gen bệnh từ cả bố và mẹ.

Đối với nhóm tăng cholesterol tiền sử gia đình chủ yếu là có người thân

thế hệ thứ nhất cũng mắc bệnh tăng cholesterol máu, chủ yếu phát hiện do

sàng lọc khi trẻ đến khám phát hiện bệnh, chứ chưa hề được chẩn đoán từ

trước. Trong nhóm này, có 2 gia đình có cả bố và mẹ tăng cholesterol máu

cao đủ tiêu chuẩn để chẩn đốn tăng cholesterol gia đình dị hợp tử, có nguy

cơ sinh con mắc thể đồng hợp tử. Tuy nhiên cả 2 gia đình này bố mẹ đều

khơng được chẩn đốn bệnh chỉ khi một gia đình có con có con bị biến

chứng tim mạch sớm (tăng huyết áp) tuy đã xuất hiện u hạt vàng từ 2 năm

trước, một gia đình con có rất nhiều u hạt vàng trên da mới được chẩn đốn

cho cả gia đình.

Tương tự như vậy, ở 2 nhóm tăng triglyceride và tăng lipid hỗn hợp

tiền sử gia đình chủ yếu cũng là người thân thế hệ thứ nhất có tăng mỡ máu

phát hiện do sàng lọc khi trẻ được chẩn đoán bệnh.

4.2.4. Triệu chứng cận lâm sàng

Về xét nghiệm nồng độ lipid trước điều trị, từ kết quả ở bảng 3.9 cho

thấy nồng độ cholesterol toàn phần và LDL- C rất cao so với ngưỡng để chẩn

đốn: nồng độ cholesterol tồn phần trung bình là 12,68 ± 4,9 mmol/l (trung

vị: 12,44 mmol/l) nồng độ LDL- C trung bình là 10,98 ± 4,22 mmol/l (trung

vị là 10,8). Kết quả này phù hợp với lâm sàng, trẻ phát hiện chủ yếu do có u

hạt vàng xuất hiện < 10 tuổi (tuổi chẩn đốn trung bình là 5,39 ± 4,15 tuổi,



64



bệnh nhân chẩn đoán bệnh muộn nhất là 15 tuổi nhưng u hạt vàng đã xuất

hiện từ lúc 5 tuổi) thường là tăng lipid máu nặng. Theo tác giả Hideaki Bujo

nồng độ cholesterol toàn phần, LDL- C ở nhóm tăng cholesterol gia đình

đồng hợp tử lần lượt là 17,77 ± 6,48 mmol/l và 15,07 ± 3,42 mmol/l; nồng độ

cholesterol tồn phần và LDL- cholesterol ở nhóm tăng cholesterol gia đình dị

hợp tử lần lượt là 8,39 ± 1,83 mmol/l và 6,42 ± 1,74 mmol/l [34].

Kết quả từ bảng 3.10 cho thấy, nhóm tăng triglyceride có nồng độ

triglyceride lúc chẩn đốn rất cao, trung bình là 41,9 ± 63,79 mmol/l (3,8293,36 mmol/l, trung vị 17 mmol/l). Nồng độ cholesterol máu trung bình

trước điều trị của nhóm này là 7,37 ± 8,2 mmol/l (1,1- 34,8 mmol/l) do có

một số bệnh nhân có nồng độ triglyceride rất cao, có thể ảnh hưởng đến kết

quả xét nghiệm cholesterol toàn phần nhưng phần lớn bệnh nhân có nồng độ

cholesterol máu tồn phần bình thường (trung vị 4,4 mmol/l). Kết quả này

cũng tương tự như kết quả của tác giả Claudio Rabacchi trên nhóm bệnh

nhân tăng triglyceride có đột biến đồng hợp tử, hoặc dị hợp tử kép gen

lipoprotein lipase: nồng độ triglyceride trung bình là 48,7 ± 57,7 mmol/l,

cholesterol tồn phần là 8,84 ± 5,12 mmol/l [36]. So với tác giả Juan Carlos

Feoli- Fonseca nồng độ triglyceride lúc chẩn đoán là từ 15,41- 482 mmol/l và

nồng độ cholesterol toàn phần dao động từ 4,26- 32,17 mmol/l [35]. Sở dĩ có

sự khác biệt này là do thiết kế nghiên cứu của 2 nghiên cứu khác nhau. Nhóm

tăng triglyceride trong nghiên cứu này có thể bao gồm nhiều nguyên nhân

khác nhau: nhóm tăng triglyceride > 10 mmol/l có 24 bệnh nhân chẩn đốn

lúc ≤ 1 tuổi, có thể là tăng triglyceride do thiếu hụt lipoprotein lipase, có 8

bệnh nhân tuổi chẩn đốn từ 4- 12 có thể là tăng triglyceride do thiếu hụt

ApoCII. Bệnh nhân tăng triglyceride < 5,7 mmol/l có thể là tăng triglyceride

gia đình.



65



Kết quả từ bảng 3.11 cho thấy nhóm tăng lipid hỗn hợp có tăng cả

cholesterol máu tồn phần và triglyceride máu, tuy nhiên mức độ tăng

cholesterol máu toàn phần là khơng cao và nồng độ LDL- cholesterol máu bình

thường: nồng độ triglyceride máu trung bình là 15,6 ± 5,16 mmol/l (trung vị 13,3

mmol/l), nồng độ cholesterol toàn phần là 6,28 ± 1,11 mmol/l (trung vị là 6,25

mmol/l), nồng độ LDL- C là 2,85 ± 1,37 mmol/l (trung vị 2,15 mmol/l). Kết quả

này tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Corter và cộng sự trên 65 trẻ

được chẩn đoán tăng lipid hỗn hợp ở nồng độ cholesterol tồn phần trung bình

220 ± 52 mg/dl (5,69 ± 1,32 mmol/l), LDL- C 149 ± 48 mg/dl (3,86 ± 1,24

mmol/l), HDL- C là 45 ± 11 mg/dl (1,17 ± 0,28 mmol/l) nhưng khác ở nồng độ

trung bình triglyceride 120 ± 91 mg/dl (1,35 ± 1,03 mmol/l) [37]. Sở dĩ có sự

khác biệt này do trong nghiên cứu này có thể bao gồm cả nhóm tăng lipid gia

đình hỗn hợp, rối loạn betalipoprotein gia đình, thiếu hụt hepatic lipase và cỡ

mẫu nhỏ.

Kết quả từ bảng 3.12, 3.13 cho thấy khơng có bệnh nhân tăng mỡ máu

trong nhóm nghiên cứu này có kèm theo tăng đường huyết, hay bất thường chức

năng tuyến giáp với mức đường huyết của nhóm tăng cholesterol là 4,64 ± 0,34

mmol/l, nhóm tăng triglyceride là 4,4 ± 0,62 mmol/l, tăng lipi hỗn hợp là 4,47 ±

0,74 mmol/l. Kết quả này khác với kết quả nghiên cứu của tác giả Manlhiot và

cộng sự có 3 bệnh nhân đái tháo đường típ 1, có 2 bệnh nhân mất cân bằng hóc

mơn tuyến giáp [25]. Sự khác biệt này có thể do nghiên cứu của tác giả Manlhiot

có cả nhóm tăng triglyceride liên quan đến béo phì; nghiên cứu này chỉ tiến hành

trên 34 bệnh nhân so với 76 bệnh nhân của tác giả Manlhiot và tuổi trung bình

trong nghiên cứu này là 10 tháng so với tuổi trung bình của nhóm tăng

triglyceride liên quan đến béo phì là 14,5 tuổi; nhóm típ II là 9,8 tuổi; nhóm típ

IV là 11,7 tuổi; nhóm típ I/III là 4,8 tuổi.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Kết quả sau điều trị của nhóm 1 điều chỉnh chế độ ăn và nhóm 2 điều trị bằng nhóm thuốc statin không có sự khác biệt với p > 0,05. Kết quả sau điều trị của nhóm 3 kết hợp cả nhóm statin và ức chế hấp thu cholestrtol giảm cả nồng độ cholestero

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×