Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Hiệu quả điều trị hỗ trợ bơm rửa màng phổi bằng nước muối sinh lý

3 Hiệu quả điều trị hỗ trợ bơm rửa màng phổi bằng nước muối sinh lý

Tải bản đầy đủ - 0trang

31



Biểu đồ 3.6 Lượng dịch màng phổi sau các ngày bơm rửa (n = 41)

Nhận xét:

- Thể tích dịch màng phổi trung bình khi bơm rửa lần 1 là 1396± 342 ml, lần 2

và lần 3 lần lượt là 1266 ± 222 ml và 1130 ±117 ml, có sự giảm rõ rệt lượng dịch

màng phổi qua từng ngày trong quá trình bơm rửa.

3.3.1.2 Liên quan giữa thể tích trung bình giữa các lần bơm rửa và khởi phát

Bảng 3.13 Thể tích dịch sau các lần bơm rửa ở các nhóm khởi phát

Khởi phát



< 2 tuần



2 – 4 tuần



> 4 tuần



p



32



Thể tích

V1 (ml)



1414 ± 367



1300 ± 191



1396 ± 342



0,724



V2 (ml)



1284 ± 235



1193 ± 167



1266 ± 222



0,635



V3 (ml)



1138 ± 125



1120 ± 132



1130 ± 117



0,757



Nhận xét:

- Ở cả 3 nhóm khởi phát < 2 tuần, 2 -4 tuần, > 4 tuần thể tích dịch màng phổi sau

ba lần bơm rửa đều có giảm đi.

- Khơng có sự khác biệt giữa lượng dịch trung bình được bơm rửa giữa các nhóm

ở lần thứ nhất, thứ hai và thứ ba với hệ số p lần lượt là 0,724; 0,635; 0,757.

3.3.1.3 Liên quan giữa thể tích trung bình các lần bơm rửa và mức độ tràn

dịch

Bảng 3.14 Thể tích trung bình các lần bơm rửa và mức độ tràn dịch

Mức độ



Nhiều



Vừa



Ít



p



V1 (ml)



1630 ± 519



1346 ± 228



1396 ± 342



0,025



V2 (ml)



1415 ± 304



1235 ± 174



1130 ± 97



0,027



V3 (ml)



1170 ± 162



1126 ± 103



1130 ± 117



0,28



Thể tích



Nhận xét:

- Tương tự như lượng dịch bơm rửa chung, lượng dịch bơm rửa trung bình ở lần

thứ nhất lần thứ hai và lần thứ ba đều có sự giảm đi. Tuy nhiên, ở lần bơm rửa

thứ nhất và thứ hai. Có sự khác biệt giữa lượng dịch trung bình của ba nhóm

mức độ tràn dịch, có ý nghĩa thống kê với p lần lượt là 0,025 và 0,027. Lần ba thì

khơng có sự khác biệt (p = 0,28).



33



3.3.1.4 Liên quan giữa thể tích trung bình các lần bơm rửa và MGIT

Bảng 3.15 Thể tích trung bình giữa các lần bơm rửa và MGIT

MGIT

Thể tích

V1 (ml)

V2 (ml)

V3 (ml)



Dương tính



Âm tính



p



1155 ± 832

1140 ± 937

1087 ±126



1491 ± 440

1318 ± 283

1153 ± 127



0,026

0,067

0,203



Nhận xét:

- Có sự khác biệt có ý nghĩa thơng kê về thể tích trung bình lượng dịch bơm rửa

ở lần 1 giữa hai nhóm (p = 0,026).

- Khơng có sự khác biệt trung bình lượng dịch ở lần hai và lần ba.

3.3.2 Thời gian giảm khó thở

Bảng 3.16 Thời gian giảm khó thở của bệnh nhân (n = 17)

Thời gian giảm

khó thở ( ngày )

Nhận xét



Min



Max



Trung bình



1



4



2,5 ± 0,7



- Thời gian giảm khó thở trung bình ở bệnh nhân bơm rửa là 2,5 ± 0,7 ngày, thấp

nhất lá 1 ngày, cao nhất là 4 ngày.

3.3.3 Lượng protein trước và sau bơm rửa màng phổi

3.3.3.1 liên quan giữa protein trước và sau bơm rửa màng phổi



34



Biểu đồ 3.7 Tương qua giữa lượng protein trước và sau khi bơm rửa màng phổi

Nhận xét

- Lượng protein trung bình trong dịch màng phổi sau lần bơm rửa đầu tiên là

28,04 ± 19,43 g, sau lần bơm rửa thứ 3 là 10,52± 6,27 g. Có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa lượng protein bơm rửa lần 1 và lần 3 với p = 0,000.



35



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

Qua nghiên cứu 41 bệnh nhân tràn dịch màng phổi do lao có vách hóa, chúng

tơi tiến hành bàn luận một số luận điểm sau đây:

4.1 Lâm sàng

4.1.1 Tuổi và giới

* Tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi mắc lao chủ yếu tập trung người trẻ,

nhiều nhất trong khoảng từ 20 - 40 tuổi chiếm 53,66%. Tuổi trung bình 41 bệnh

nhân nghiên cứu là 37,24 ± 12,04 tuổi. Khơng có sự khác biệt giữa tuổi trung

bình của nam và nữ.

Kết quả cũng tương tự như các nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài như Trần

Văn Sáu (1996) là 39,3 ±11,7 [13], của Trần Anh Đào và CS (2009) là 39,3

±18,2 [37]. Tác giả Luis Valdes và CS (1998) nghiên cứu trên 254 bệnh nhân

TDMP thấy độ tuổi trung bình là 34,1 ± 18,1 [29]. Trong nghiên cứu của

Enrique Cases Viedma và CS (2006) tuổi trung bình là 29 [9].

Qua kết quả nghiên cứu về tuổi mắc bệnh cho thấy đa số các bệnh nhân đến

khám và điều trị chủ yếu tập trung ở lứa tuổi trẻ. Nước ta là một nước có kết cấu

dân số trẻ, do đó nhiều người trẻ vẫn là đối tượng mắc bệnh nhiều hơn. Ngoài ra

với độ tuổi trẻ, khả năng tiếp xúc với nhiều người, tham gia nhiều hoạt động xã

hội nên nguy cơ cũng cao hơn.

Như vây, qua nghiên cứu của chúng tôi cũng như một số nghiên cứu trong nước

và ngoài nước đều chỉ ra rằng độ tuổi mắc bệnh lao màng phổi đa số là trẻ, dưới

40 tuổi.



36



* Giới

Trong 41 bệnh nhân nghiên cứu có 31/41 bệnh nhân là nam chiếm 75,6%; nữ có

10/41 bệnh nhân chiếm 24,4 %; cũng tương tự như các nghiên cứu về lao khác, tỉ

lệ nam luôn cao hơn nữ. Trong nghiên cứu của Trần Văn Sáu (1999) tỉ lệ này là

63,2% [13]; Trương Duy Hưng (2004) là 71,1% [38]; các nghiên cứu nước ngoài

khác như theo Y-F Lai và CS tỉ lệ này là 37/24, còn của Clare E. Hooper và CS

là 26/9 [11], [15]. Báo cáo của WHO cũng chỉ ra rằng tỉ lệ nam luôn cao hơn nữ,

chiếm 2/3 tổng số bệnh nhân lao màng phổi [1].

Như ta nhận thấy, tỉ lệ mắc bệnh lao màng phổi của nam luôn cao hơn nữ, điều

này có thể liên quan đến thói quen sinh hoạt, lối sống. Bệnh nhân nam thì tỉ lệ

hút thuốc lá, rượu bia cao hơn hẳn nữ giới, điều này làm giảm sức đề kháng đáng

kể tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lao phát triển gây bệnh.

4.1.2 Phân bố lao màng phổi theo nghề nghiệp

Kết quả nghiên cứu trên 41 bệnh nhân lao màng phổi của chúng tôi cho thấy, tỉ

lệ nghề nghiệp là tri thức chiếm tỉ lệ cao nhất 59% bào gồm học sinh, sinh viên,

công chức nhà nước, bác sĩ, điều dưỡng. Nghề nghiệp nông dân chỉ chiếm một

phần nhỏ 15%. Kết quả này không tương đồng với các nghiên cứu trước đây.

Nghiên cứu của Trương Duy Hưng (2004) tỉ lệ nông dân chiếm tỉ lệ cao nhất,

của Nguyễn Đắc Tuấn ( 2013) tỉ lệ này là 35,5% [13], [39].

Điều này cho thấy thấy nghề nghiệp trong lao màng phổi dần dần thay đổi.

Kinh tế phát triển, môi trường sống ô nhiễm, stress nhiều hơn làm cho những

người làm tri thức mắc lao màng phổi nhiều hơn, đặc biệt tầng lớp sinh viên, bác

sĩ, điều dưỡng.

4.1.3 Địa dư

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ lao màng phổi gặp nhiều nhất ở thành thị



37



chiếm 24/41 trường hợp, ít nhất ở khu vực miền núi. Điều này cho thấy mơi

trường sống có ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ lao màng phổi. Môi trường thành thị, với

sự phát triển của nên công nghiệp, các nhà máy xây dựng, khu công nghiệp mọc

lên cùng với chất thải từ phương tiện giao thơng làm khơng khí ơ nhiễm ảnh

hường nghiêm trọng đến sức khỏe, bệnh tật phát triển, trong đó có lao.

4.1.4 Triệu chứng khi nhập viện

Trong số các bệnh nhân nhập viện chúng tơi nhận thấy lý do chính khiến cho

bệnh nhân nhập viện là đau ngực (80,5%) tiếp theo đó là ho khan (56,1%), sốt

(53,7%), mệt mỏi (53,7%).

- Đau ngực: là triệu chứng thường gặp trong tràn dịch màng phổi do lao, trong

kết quả nghiên cứu của chúng tôi gặp 80,5% bệnh nhân đau ngực với nhiều mức

độ khác nhau. Tỉ lệ này cũng tương tự với các nghiên cứu trong nước như của Lê

Thanh Chương và CS ( 2004) là 91,6% [41], Trần Anh Đào và CS ( 2009) là

74,4% [37]. Tác giả nước ngồi thì tỉ lệ này là 93,2% và 81% [21], [32].

Đau ngực là dấu hiệu của màng phổi bị viêm, có thể là do tổn thương nang lao

ở màng phổi kích vào các dây thần kinh cảm giác ở lá thành hoặc do dịch chèn

ép. Đau thường xuất hiện sớm nhất. Đau có thể nhẹ hoặc đau dữ dội. Đặc điểm

của đau là đau nhói buốt, đột ngột như dao đâm. Đau bên tổn thương, đau tăng

khi hít thở sâu, ho hắt hơi. Đau có thể khu trú ở thành ngực hoặc lan lên vai hoặc

lan xuống bụng cùng bên tổn thương. Đau ngực thường giảm đi khi dịch có

nhiều trong khoang màng phổi [12], [20].

- Ho: chúng tôi gặp 80,5% bệnh nhân có triệu chứng ho khi nhập viện, trong đó

ho khan chiếm tỉ lệ cao nhất 69,7%, ho đờm là 24,2%, ho ra máu là 6,1%. Kết

quả nghiên cứu cũng tương tự như của Trần Văn Sáu, ho chiếm 89% trong đó ho

khan là 84% [13], còn theo R.W Light thỉ tỉ lệ này là khoảng 70%, chủ yếu là ho



38



khan [12].

Ho trong tràn dịch màng phổi là do kích thích màng phổi và vòm hồnh [24].

Khi có tổn thương nhu mơ phổi kèm theo thì gây ra ho đờm và ho có máu. Trong

nghiên cứu có tỉ lệ nhỏ bệnh nhân ho đờm, ho máu. Điều này hoàn toàn phù hợp

vì trong 41 bệnh nhân, có 14 bệnh nhân chụp phim cắt lớp vi tính có tổn thương

khác đi kèm bao gồm đơng đặc nhu mơ, kính mờ…

- Khó thở: trong 41 bệnh nhân nghiên cứu có 19 bệnh nhân có triêu chứng khó

thở (46,3%). Khó thở liên quan đến lượng dịch, tư thế bệnh nhân, ngồi ra còn

liên quan đến tốc độ phát triển của dịch. Theo Seaton A và CS nếu dịch trong

khoang màng phổi tích lũy nhanh sẽ gây khó thở cấp, còn nếu lượng dịch trong

khoang màng phổi trên 2 lít sẽ gây khó thở nhiều [24]. Tuy nhiên, nếu dịch màng

phổi tích lũy từ từ, bệnh nhân thích nghi nên dù dịch có nhiều thì cũng chỉ gấy

khó thở nhẹ. Các kết quả nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự như Lê

Thanh Chương (2004) tỉ lệ là 68,4% [41], Seung – Min Kwak (2004) và CS là

52% [32] .

- Mệt mỏi: mệt mỏi, ăn uống kém, gầy sút cân là các biểu hiện hay gặp trong

tràn dịch màng phổi do lao. Nguyên nhân có thể do q trình bệnh diễn biến kéo

dài, kèm sốt, cơ thể suy nhược dẫn đến tình trạng trên. Nghiên cứu của chúng tơi

thì tỉ lệ này là 53,7%. Còn theo Nguyễn Thị Bích Ngọc (2010) thì tỉ lệ này lên

đến 80% [4].

4.1.5 Thời gian khởi phát bệnh

Thời gian này được tính từ khi bệnh nhân có triệu chứng đầu tiên đến khi bệnh

nhân vào viện.

Kết quả 68,3% bệnh nhân vào viện trong vòng 2 tuần, 17,1% trong vòng 2 – 4

tuần, 14,6% trên 4 tuần. Kết quả này tương tự như các nghiên cứu của Trần Văn



39



Sáu (1996) dưới 4 tuần là 78% [13] và Trương Duy Hưng là 82,2% [38]. Với tác

giả nước ngoài, trong nghiên cứu của Chung C-Lvà CS (2008) cho thấy thời gian

khởi phát bệnh trung bình ở những bệnh nhân lao vách hóa lá 13,5 ± 11 ngày

[16], khơng có sự khác biệt giữa nhóm vách hóa và khơng vách hóa. Lao là bệnh

mạn tính, tuy nhiên tràn dịch màng phổi do lao thường tiến triến hầu hết là cấp

tính và bán cấp. Sở dĩ thời gian khởi phát bệnh trong nhóm nghiên cứu của

chúng tôi đa số đến viện trong khoảng thời gian dưới hai tuần có thể là xã hội

ngày càng phát triển, con người quan tâm đến vấn đề sức khỏe nhiều hơn vì vậy

phát hiện bệnh sớm hơn. Tuy nhiên, mặc dù phát hiện sớm nhưng tỉ lệ vách hóa

cũng ở mức cao, có thể là bệnh diễn biến âm thầm mà đôi khi bệnh nhân không

chú ý tới triệu chứng.

4.1.6 Triệu chứng toàn thân và thực thể

Trong 41 bệnh nhân nghiên cứu, tỉ lệ bệnh nhân sốt là 53,7%, trong đó chủ yếu

sốt về chiều chiếm 77,2%. Tỉ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn các

nghiên cứu trong nước khác. Của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2010) là 92,22% [4],

của Nguyễn Đắc Tuấn (2013) là 77,4% [39], Seung – Min Kwak và CS là 76%

[32]. Cơ chế của sốt trong tràn dịch màng phổi do lao còn chưa được biết rõ,

theo Johnston RF, Green RA(1983) sốt cao liên quan đến sự tích lũy dịch nhanh

chóng trong khoang màng phổi [41], trong khi Crofton J cho rằng sốt trong lao

màng phổi do phản ứng [42]. Do vậy với các bệnh nhân nghiên cứu của chúng

tơi có tình trạng vách hóa, tức là bệnh nhân cũng đã thích nghi với dịch màng

phổi nên tỉ lệ sốt thấp hơn.

Có 11/41 bệnh nhân có triệu chứng lồng ngực một bên phồng, chiếm 26,8%.

Đây là các bệnh nhân có tràn dịch màng phổi mức độ nhiều. Hội chứng 3 giảm

xuất hiện ở 92,75%, có 3 bệnh nhân khơng có hội chứng ba giảm trên lâm sàng.



40



Tỉ lệ này ở các nghiên cứu trong nước là 100% [13], [39]. Có thể là 3 bệnh nhân

này có tràn dịch số lượng ít kết hợp thêm tình trạng vách hóa nên triệu chứng của

hội chứng ba giảm không rõ ràng.

4.1.7 Tiền sử bệnh và yếu tố nguy cơ

Bệnh mạn tính liên quan mật thiết đến nguy cơ bị mắc lao chung cũng như lao

màng phổi nói riêng. Trong nghiên cứu của chúng tối thì tỉ lệ mắc các bệnh về

hô, hấp, tim mạch, gan mật chiếm tỉ lệ thấp 2,4%; 2,4%; 9,8%. Các nghiên cứu

trong nước cũng chỉ ra điều tương tự như của Trần Hồng Thành và CS thì tỉ lệ

bệnh mạn tính là 15,1% [39]. Tỉ lệ này tương đối thấp so với lý thuyết về bệnh

học lao. Tuy nhiên với lao màng phổi, đối tượng hay gặp là trẻ tuổi từ 20 - 40

tuổi, ở độ tuổi này thì tỉ lệ mắc các bệnh mạn tính còn tương đối thấp.

Có 9 bệnh nhân nghiên cứu hút thuốc lá (22%), số thuốc hút trung bình của các

đối tượng là 22,1 ± 10,4 bao\năm, tương đối cao. Tương tự như các nghiên cứu

của Sheng – Yuan Ruan (2012) tỉ lệ hút thuốc lá 24 % [43]. Có 5 bệnh nhân từng

tiếp xúc với người bị lao (12,2%), số năm tiếp xúc trung bình của 5 bênh nhân là

5,6 ± 2,7 năm, người tiếp xúc lâu nhất là 10 năm. Tỉ lệ này tương tự của Trần

Hoàng Thành và CS (2013) là 15,7% [39]. Qua trên đây ta nhận thấy tỉ lệ hút

thuốc lá và phơi nhiễm với lao chiếm tỉ lệ thấp, có thể là do tâm lý dấu bệnh của

người Việt Nam, chưa thực sự khai hết cho bác sĩ, mặt khác lao phổi vẫn chưa

được giải quyết triệt để ở nước ta vì vây, mơi trường sống của chúng ta vẫn có

nhiều người bi lao mà chúng ta chưa biết.

Đây cũng là khó khăn và thách thức với chương trình chống lao quốc gia của

nước ta.



41



4.2 Cận lâm sàng

4.2.1 Tế bào máu ngoại vi

* Số lượng hồng cầu, hemoglobin và tiểu cầu

Số lượng hồng cầu trung bình trong 41 bệnh nhân được xét nghiệm là 4,8 ± 0,7

T/l, nhỏ nhất là 2,91 T/l, Tiểu cầu trung bình là 369 ± 99 G/l, thấp nhất là 139

G/l. Tỉ lệ này cũng tương tự của Trần Văn Sáu (1996) hầu hết số lượng hồng cầu

không thay đổi đáng kể trong tràn dịch màng phổi do lao [13]. Trong lao màng

phổi, bệnh diễn biến cấp tính nên chưa có tình trạng nhiễm độc mạn tính hay ảnh

hưởng đến các cơ quan trong cơ thể trong đó có cơ quan tạo máu vì vậy số lượng

hồng cầu, tiểu cầu không biến đổi nhiều.

Lượng huyết sắc tố trung bình của nhóm nghiên cứu là 134 ± 20 g/l, thấp nhất

là 91 g/l, có 12,2% bệnh nhân có hemoglobin dưới 110 g/l. Điều này cho thấy

trong lao màng phổi có tỉ lệ thiếu máu nhất định, tuy nhiên thường ở mức độ

nhẹ.

* Số lượng và công thức bạch cầu máu ngoại vi

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên 41 bệnh nhân nghiên cứu số lượng bạch cầu

trung bình là 8,1 ± 2,5 G/l. Trong đó, 80,5% bệnh nhân có bạch cầu năm trong

khoảng 4 -10 G/l, còn lại 19,5% bệnh nhân có bạch cầu > 10 G/l. Tương tự như

nghiên cứu Lê Thanh Chương và CS tỉ lệ này lần lượt là 79,5% và 19,3% [40],

Đỗ Châu Hùng (1995) cũng chỉ ra rằng lao màng phổi thì bạch cầu < 9 G/l [44].

Tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính > 70% chiếm 46,3%, tỉ lệ bạch cầu lympho >

30% là 0%. Tỉ lệ này thấp hơn của Nguyễn Giang Nam (2008) là 63,6% [45].

Qua các số liệu về bạch cầu cũng như công thức bạch cầu ta nhạn thấy lao

màng phổi diễn biến tương đơi cấp tính, hầu như khơng có sự biến đổi bạch cầu

và khơng có tăng tỉ lệ bạch cầu lympho.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Hiệu quả điều trị hỗ trợ bơm rửa màng phổi bằng nước muối sinh lý

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×