Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phức hợp hố thuyền – gờ đối luân

Phức hợp hố thuyền – gờ đối luân

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



+ Nhánh giữa: đi vào nửa dưới của phần lên gờ luân và đi xuống cấp

máu cho loa tai theo rễ của gờ luân.

+ Nhánh trên: cấp máu cho nửa trên phần lên của gờ luân.

Các động mạch tai sau: có 3 hoặc 4 nhánh tách ra từ thân động mạch tai

sau, một số nhánh đi ở dưới cơ tai sau, một số nhánh đi ở trên cơ này. Ngay

sau chỗ xuất phát các nhánh này đi tới mặt trong của vành tai và phân nhánh ở

mặt này theo hướng chếch lên trên và ra trước. Như vậy, các nhánh này đi từ

phần dính của vành tai ra bờ tự do.

Hình A: 1.Động mạch thái dương

nơng; 2.Động mạch tai sau; 3.Các

nhánh của động mạch tai trước;

4.Các nhánh xiên; 5.Cơ nhị thân,

6.Góc hàm

Hình B: 1.Cơ sau tai, 2.Động

mạch tai sau, 3.Các nhánh xiên

Hình 1.6. Mạch máu của vành tai [18]

- Tĩnh mạch: Giống như động mạch. Các tĩnh mạch của vành tai phân

chia thành các tĩnh mạch tai trước và tai sau.

Các tĩnh mạch tai trước đổ vào tĩnh mạch thái dương nơng và sau đó vào

tĩnh mạch cảnh ngồi. Các tĩnh mạch tai sau đổ vào tĩnh mạch cảnh ngoài.

Tuy nhiên, một số tĩnh mạch sau lại đổ vào tĩnh mạch liên lạc. Tĩnh mạch này

chui qua lỗ chũm để đổ vào xoang tĩnh mạch bên.

-Thần kinh: Các dây thần kinh chi phối cho vành tai gồm hai loại:

+ Các nhánh vận động: xuất phát từ dây thần kinh mặt.

+ Các nhánh cảm giác của vành tai là do những nhánh sau và nhánh

trước của dây thần kinh tai lớn chi phối, được tăng cường thêm bởi dây thần

kinh tai - thái dương.

1.2.6. Chức năng của vành tai



13



Vành tai với vị trí và cấu trúc đặc biệt có tác dụng thu, hứng lấy các sóng

âm trong khơng khí vào ống tai ngồi. Ngồi ra, vành tai còn giúp chúng ta

định hướng âm, phân biệt được tiếng động ở bên phải hoặc bên trái, ở phía

trước hoặc phía sau.

Ngày nay, người ta đã biết nghe rõ bằng hai tai có ưu thế hơn nghe bằng

một tai vì: nghe rõ hơn, khu trú được nguồn âm tốt hơn, phân biệt được lời

nói trong mơi trường ồn ào.

Vành tai còn có chức năng thẩm mỹ tạo sự cân đối cho khuôn mặt.

Dị tật vành tai gây ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của bệnh nhân, nhất là

trẻ em ở giai đoạn phát triển về ý thức, bắt đầu nhận thức về mình so với mọi

người xung quanh. Với những trẻ bị tật ở mắt như cận thị, viễn thị, nếu có

vành tai vùi sẽ khơng thể đeo được kính cũng như đeo khẩu trang mỗi lần ra

ngồi mơi trường bụi, gió rét…

Dái tai có một nguồn cung cấp máu lớn và có thể giúp làm ấm đơi tai và

duy trì sự cân bằng, dái tai có chứa rất nhiều đầu dây thần kinh và đối với

một số người, dái tai được cho là một vùng nhạy cảm trong cơ thể.

Các chức năng này đều quan trọng nên khi chỉnh hình cần đảm bảo cả về

giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ.

1.3. Đặc điểm dị dạng vành tai bẩm sinh

1.3.1. Phân loại dị dạng vành tai bẩm sinh

Có rất nhiều loại dị dạng vành tai bẩm sinh khác nhau do sự phát triển

bất thường của một hoặc nhiều gờ lồi trong quá trình phát triển bào thai. Theo

phân loại của Weerda, dị dạng vành tai bẩm sinh được phân thành các độ tăng

dần cùng với mức độ nghiêm trọng của dị tật[1].

- Độ I (dị dạng nhẹ): hầu hết các cấu trúc của vành tai còn nhận thấy

được. Sự chỉnh hình vành tai ít khi đòi hỏi phải lấy thêm da hoặc sụn.



14



- Độ II (dị dạng vừa): còn được gọi là thiểu sản vành tai độ II, một vài

cấu trúc của vành tai bình thường còn nhận thấy được. Cần có sự chỉnh hình

một phần và đòi hỏi phải sử dụng thêm sụn và da.

- Độ III (dị dạng nặng) còn được gọi là thiều sản vành tai độ III, khơng

có tai. Khơng còn nhận thấy được các cấu trúc bình thường của vành tai. Cần

chỉnh hình tồn bộ vành tai và đòi hỏi cần sử dụng thêm da và rất nhiều sụn.

Bảng 1.1. Phân độ dị dạng vành tai theo Weerda[1]

Độ dị dạng vành tai









Độ I

















Độ II



Độ III















Các dưới nhóm

Vành tai vểnh (Prominent ear)

Vành tai lớn (Macrotia)

Vành tai vùi (Cryptotia – pocket ear)

Vành tai cụp type I, IIa, IIb (Constricted ear)

Dị dạng dái tai (cố định, khơng có, dái tai nhỏ, dái

tai lớn, dái tai xẻ thùy)

Vành tai dơi (Stahl ear)

Vành tai phẳng (Scaphoid ear)

Vành tai nhọn (Satyr ear)

Dị dạng khác: thiếu rễ của sụn luân nhĩ, dị dạng

bình tai, đối bình tai

Vành tai cụp type III (Cup ear type III)

Vành tai nhỏ (Mini ear) thiểu sản phần trên, phần

giữa, phần dưới vành tai; thường kết hợp với chít

hẹp ống tai ngồi và bất thường màng nhĩ

Thiểu sản vành tai 1 bên hoặc 2 bên (microtia)

Khơng có tai (anotia)



15



Vành tai vểnh



Vành tai cụp



Vành tai vùi



Prominent ear



Constricted or cup ear



Cryptotia



Vành tai dơi



Vành tai phẳng



Dị dạng bình tai



Stahl ear



Scaphoid ear



Accessory and macrotragus



Dị dạng dái tai

Hình 1.7. Một số dị dạng vành tai bẩm sinh độ I [7], [19], [20],[21],



16



Hình 1.8. Các loại dị dạng vành tai cụp theo Weerda [1]

a. Type I dị dạng nhẹ, chỉ ảnh hưởng đến gờ luân

b. Type IIa dị dạng mức độ nhẹ đến vừa, ảnh hưởng đến gờ ln và hố thuyền,

chỉnh hình khơng cần phải thêm da

c. Type IIb dị dạng mức độ vừa đến nặng ảnh hưởng đến gờ luân và hố

thuyền, chỉnh hình cần phải thêm da ở rìa của vành tai

d. Type III dị dạng mức độ nặng ảnh hưởng đến gờ luân, hố thuyền, gờ đối

ln và loa tai



Khơng có vành tai (Anotia)

Thiểu sản vành tai (Microtia)

Hình 1.9. Dị dạng vành tai bẩm sinh độ III [1]

1.3.2. Đặc điểm hình thái học dị dạng vành tai bẩm sinh độ I



17



Trong dị dạng vành tai bẩm sinh độ I có nhiều dưới nhóm khác nhau.

Sau đây là một số kiểu dị dạng vành tai bẩm sinh độ I hay gặp trên lâm sàng

và đặc điểm hình thái của các kiểu dị dạng này:

* Vành tai vểnh:

- Vành tai vểnh là dị dạng khá phổ biến trong số các dị dạng vành tai

bẩm sinh nói chung với tỷ lệ khoảng 5% [3].

- Dị dạng vành tai vểnh bao gồm nhiều dị tật kết hợp [22]

+ Khoảng cách từ vành tai đến đầu lớn hơn 2cm

+ Khơng có hoặc khơng rõ gờ đối ln

+ Q phát sụn loa tai, loa tai sâu hơn bình thường

* Vành tai vùi:

Vành tai vùi là dị dạng vành tai bẩm sinh khi mà cực trên của vành tai bị

chôn vùi dưới lớp da của xương chũm và có thể kéo ra được nhưng khi ngừng

kéo vành tai lại trở về vị trí ban đầu. Đây là dị dạng vành tai thường gặp ở

người châu Á [23].

Sự chôn vùi của phần trên vành tai khơng những gây mất thẩm mỹ mà

còn làm người bệnh rất khó đeo kính hoặc đeo khẩu trang [23].

Hirose và CS phân loại vành tai vùi làm 2 type dựa trên sự dị dạng của

gờ đối luân và tình trạng của các cơ ở vành tai [24].

Type I (type cơ ngang hoặc type rễ trên): thân và rễ trên của gờ đối luân

bị ép lại với nhau, phần trên vành tai bị chôn vùi dưới da.

Type II (type cơ chéo hoặc type rễ dưới): gờ đối luân bị ép lại, rễ dưới

của gờ đối luân bị bẻ cong.

* Vành tai cụp:

- Đây là dị dạng ở 1/3 trên vành tai với các mức độ khác nhau, gờ luân

nhĩ của vành tai bị kéo xuống. Dị dạng vành tai cụp có 4 đặc điểm [25]:

+ Mất hoặc giảm kích thước của hố tam giác, hố thuyền, rễ trên gờ đối

luân làm rìa gờ luân nhĩ phẳng và bị cụp xuống.



18



+ Bất thường của cơ trên tai phương tiện để giữ và cố định phần trên tai.

+ Gờ luân và gờ đối luân phẳng làm sâu hơn hố loa tai, làm vành tai

vểnh ra trước.

+ Giảm kích thước của tai do bất thường của hố tam giác, hố thuyền và

rễ trên gờ đối luân.

* Vành tai dơi:

Vành tai dơi (Stahl’s ear) là một dị dạng vành tai bẩm sinh hiếm gặp

trong đó có sự xuất hiện bất thường của rễ thứ ba của gờ đối luân đi ngang

qua cực trên của hố thuyền. Dị tật này được mô tả lần đầu tiên bởi Stahl vào

thế kỷ XIX [26].

* Dị dạng dái tai:

Dị dạng dái tai có nhiều hình thái khác nhau như dái tai cố định, dái tai

lớn, dái tai nhỏ, dái tai xẻ thùy nhưng hay găp nhất trên lâm sàng khiến bệnh

nhân cần phải chỉnh hình là dái tai xẻ thùy.

1.3.3. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

Trong các nghiên cứu dân số, nhiều yếu tố nguy cơ của dị dạng vành tai

đã được đề xuất. Cả hai yếu tố mơi trường và di truyền có thể ảnh hưởng đến

sự xuất hiện của dị dạng vành tai [27], [28].

- Thuốc: các thuốc như retinoids, thalidomide và mycophenolate

motefil (một loại thuốc ức chế miễn dịch) được biết đến là yếu tố nguy cơ

của dị dạng vành tai.

- Độ cao: độ cao có thể là một yếu tố nguy cơ. Ví dụ tại các thành phố có

độ cao như Quito (độ cao 2.800 m), La Paz (3250 - 4100 m) và Bogota

(2600m) tỷ lệ dị dạng vành tai là cao hơn đáng kể so với các địa điểm khác.

- Di truyền: ước tính yếu tố gia đình trong các ca dị dạng vành tai chiếm

từ 3-34%. Dị dạng vành tai được cho là liên quan đến cả gen trội và gen lặn.

- Dân tộc: dị dạng vành tai hay gặp ở người châu Á.



19



- Yếu tố nguy cơ khác: sinh con nhẹ cân (<2500g), con đầu tiên, cha mẹ

lớn tuổi hoặc nhỏ tuổi quá, mẹ bị bệnh trong quá trình mang thai như đái tháo

đường cũng được coi là yếu tố nguy cơ nói chung.

1.4. Kỹ thuật chỉnh hình dị dạng vành tai độ I

1.4.1. Nắn sụn chỉnh hình

Một số trường hợp dị dạng vành tai bẩm sinh có thể chỉnh hình bằng nắn

sụn. Phương pháp này có hiệu quả nhất vào những tuần đầu khi trẻ vừa sinh

ra vì khi đó trẻ có nồng độ estrogen cao trong máu do được truyền từ mẹ

trong quá trình mang thai và khi sinh. Chính nồng độ cao estrogen này làm

cho vành tai của trẻ mềm dẻo và đáp ứng với kỹ thuật nắn chỉnh sụn. Trong

vòng 6 tuần sau sinh, nồng độ estrogen bào thai này sẽ giảm dần và trở về

bình thường, khi đó vành tai sẽ cứng chắc hơn và khó nắn chỉnh hơn. Vì vậy

với các dị dạng vành tai nếu được phát hiện sớm ngay sau sinh và được điều

trị bằng kỹ thuật nắn chỉnh sụn thì có thể tránh được cuộc phẫu thuật chỉnh

hình vành tai sau này cho trẻ [29].

Kỹ thuật nắn chỉnh sụn sử dụng những thiết bị, khn nắn chỉnh có sẵn

hoặc những vật liệu tạo khuôn để tái tạo lại hình dạng của vành tai. Để đạt

được hiệu quả cao nhất khuôn nắn chỉnh nên được sử dụng trong 1 đến 2 tuần

đầu tiên và trẻ sẽ được đeo khuôn nắn chỉnh này trong 2 tuần [30].

Sau 2 tuần, trẻ cần được đánh giá lại, nếu dị hình vành tai chưa được sửa

chữa, có thể áp dụng khn nắn chỉnh mới. Quy trình này lặp lại 2 tuần một

lần cho đến khi đạt được sự cải thiện hình dáng vành tai.

Hầu hết các dị dạng vành tai nếu được điều trị sớm, đáp ứng rất tốt với

kỹ thuật nắn chỉnh sụn và cải thiện được hình dáng vành tai. Nhìn chung, trẻ

được điều trị càng sớm thì thời gian của liệu trình điều trị càng ngắn. Khoảng

92% trường hợp sau điều trị hình dạng vành tai được cải thiện và trở về hình

dạng bình thường [31]. Với những trẻ lớn hơn từ 3 đến 4 tháng cũng có thể

điều trị bằng phương pháp này với tỷ lệ thành công cao trên 50% [30]. Tuy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phức hợp hố thuyền – gờ đối luân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×