Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biến chứng có thể xuất hiện sau phẫu thuật chỉnh hình vành tai với tỷ lệ là 10% theo nghiên cứu của Ronen và được chia làm 2 nhóm là biến chứng sớm và biến chứng muộn [57].

Biến chứng có thể xuất hiện sau phẫu thuật chỉnh hình vành tai với tỷ lệ là 10% theo nghiên cứu của Ronen và được chia làm 2 nhóm là biến chứng sớm và biến chứng muộn [57].

Tải bản đầy đủ - 0trang

70



là ngun nhân hình thành u hạt, 1,6% có biến chứng sẹo lồi và 5% tái phát dị

dạng sau phẫu thuật [58].

Vì vâỵ để hạn chế các biến chứng xảy ra với bệnh nhân sau phẫu thuật

chỉnh hình vành tai cần chú ý một số vấn đề như cầm máu tốt trong phẫu

thuật để tránh chảy máu và tụ máu. Sử dụng kháng sinh dự phòng cho tất cả

các trường hợp vì một khi biến chứng viêm sụn xảy ra trên tai được chỉnh

hình thì việc điều trị sẽ rất khó khăn dai dẳng và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả

thẩm mỹ. Với các trường hợp có sử dụng vạt da tại chỗ cần đảm bảo cuống

mạch của vạt da tốt để nuôi dưỡng, sau phẫu thuật vạt da được làm ẩm bằng

vaseline hoặc mỡ kháng sinh hàng ngày. Theo dõi và khám định kỳ cho bệnh

nhân để phát hiện các biến chứng muộn đặc biệt là biến chứng sẹo lồi. Tái

phát dị dạng thường xảy ra ở những bệnh nhân khi chỉnh hình sụn vành tai đã

cứng chắc, sau phẫu thuật tai khơng được cố định tốt. Vì vậy cần lựa chọn

thời điểm phẫu thuật chỉnh hình thích hợp, sau phẫu thuật với các trường hợp

đặc biệt cần cố định vành tai tốt bằng băng ép trong những ngày đầu, tránh va

chạm, chấn thương vào vành tai và đeo băng tai sau phẫu thuật trong 1 tháng.

4.3.5. Đánh giá kết quả phẫu thuật với từng kiểu dị dạng

4.3.5.1. Vành tai vểnh

Có khoảng hơn 200 phương pháp chỉnh hình vành tai vểnh khác nhau

được chia làm 2 nhóm chính là cắt sụn và khâu gấp sụn. Kỹ thuật khâu gấp

sụn ngày càng được sử dụng nhiều hơn là kỹ thuật cắt sụn vì việc cắt sụn tác

động nhiều hơn đến cấu trúc của vành tai, tăng nguy cơ gây viêm sụn, và có

thể gây thiếu hụt sụn [1]. Chìa khóa để phẫu thuật vành tai vểnh có 2 điểm

chính là tạo hình được gờ đối ln và tạo được kích thước và vị trí bình

thường của loa tai. Đường tiếp cận để chỉnh hình vành tai là qua đưởng rạch

da phía sau ở rãnh sau tai, một số trường hợp vành tai vểnh ít có thể áp dụng

các kỹ thuật khơng rạch da như “incisionless Mustardé” .



71



Trong nghiên cứu có 2 bệnh nhân có dị dạng vành tai vểnh, trong đó một

bệnh nhân thiểu sản vành tai phải đã được đặt khung sụn sườn thì 1 kèm theo

tai trái vểnh nên được phẫu thuật chỉnh hình nâng khung sụn tạo rãnh sau tai

phải và chỉnh hình vành tai vểnh bên trái đưa vành tai ra sau. Bệnh nhân này

vành tai vểnh không quá nhiều khoảng cách từ vành tai đến xương chũm ở 3

vị trí lần lượt là 2,3 – 2,5 – 2,2 cm nên kỹ thuật chỉnh hình được lựa chọn là

“incisionless Mustardé” tạo được gờ đối luân và giảm khoảng cách vành tai

đến xương chũm và đặc biệt là không để lại sẹo trên da. Một bệnh nhân khác

có dị dạng khơng có dái tai và vành tai vểnh bên phải khoảng cách vành tai

đến xương chũm là 2,2 – 3,5 – 2 cm, ở 1/3 giữa vành tai vểnh nhiều nên phẫu

thuật chỉnh hình được lựa chọn là phương pháp khâu sụn với 2 kỹ thuật chính

là Furnas để kéo vành tai ra sau, cố định vành tai vào màng xương chũm và

Mustardé tạo hình gờ đối luân. Đây cũng là 2 kỹ thuật được sử dụng phổ biến

trên thế giới để chỉnh hình vành tai vểnh.

Ở cả 2 bệnh nhân sau phẫu thuật, khoảng cách từ vành tai đến xương

chũm ở cả 3 vị trí đều giảm xuống và đạt được kích thước gần như bình

thường. Góc vành tai cũng giảm xuống là 30o tương xứng với vành tai đối

diện. Sau phẫu thuật cả 2 vành tai đều đạt được các tiêu chí chỉnh hình vành

tai vểnh mà McDowel đưa ra như [19] :

- Khi nhìn từ phía trước gờ ln nhĩ phải nằm phía ngồi của gờ đối luân

ít nhất là đến phần giữa của vành tai.

- Gờ luân nhĩ có đường cong mềm mại bình thường.

- Độ sâu của rãnh sau tai khơng giảm đi và khơng méo mó.

- Vành tai khơng q sát với đầu, đảm bảo khoảng cách vành tai đến

xương chũm bình thường.

- Sự sai khác về khoảng cách vành tai đến xương chũm ở 2 bên không quá

3mm (trong nghiên cứu ở cả 2 bệnh nhân sự sai khác này đều khơng q 1 mm)



72



4.3.5.2. Vành tai vùi

Chìa khóa để chỉnh hình vành tai vùi là tạo ra phần da bị thiếu hụt ở cực

trên của vành tai. Hiện nay có nhiều kỹ thuật chỉnh hình vành tai vùi như sử

dụng vạt chữ Z hay V – Y ở trên vành tai [34]. Tuy nhiên, nhược điểm của các

phương pháp này là để lại sẹo ở vùng chân tóc phần thái dương. Trong nghiên

cứu này, chúng tôi dùng vạt da hình thoi với cuống mạch là phần cân cơ nơng

vùng chũm ở phía trên để tạo hình, đường rạch da theo rãnh sau tai, vạt da

được quay 180o lên cực trên của vành tai.



Hình 4.2. Kỹ thuật chỉnh hình vành tai vùi bằng vạt da sau tai

BN 3 Nguyễn Thanh L.

Ưu điểm của phương pháp này là vết mổ trùng với rãnh sau tai nên tính

thẩm mỹ cao, khơng để lại sẹo phía trước. Tuy nhiên do vạt da có nguồn cấp

máu nghèo nàn nên sau phẫu thuật vạt da có thể tím, sẫm màu hoặc có sự

bong vảy ở lớp thượng bì phía ngồi nhưng sau thời gian bong vảy này ở tất

cả các trường hợp vạt da đều sống và liền hồn tồn [24]. Trong nghiên cứu

có 1 trường hợp BN 9 tuổi có 1 bên tai trái sau chỉnh hình vạt da liền kém, có

màu tím sẫm, tuy nhiên sau 3 tuần điều trị và bôi mỡ kháng sinh tại chỗ vạt da

liền kín, khơng để lại sẹo.



4.3.5.3. Vành tai cụp



73



Có nhiều kỹ thuật chỉnh hình vành tai cụp như Mustardé, Mastoid hitch,

vạt V-Y, vạt da trên tai... việc lựa chọn kỹ thuật tùy thuộc vào mức độ dị dạng

nặng hay nhẹ của vành tai cụp [25], [45], [33]. Trong nghiên cứu có 1 tai có dị

dạng vành tai cụp type IIa được phẫu thuật chỉnh hình bằng kỹ thuật

Mustardé. 3 tai còn lại thuộc type IIb được chỉnh hình bằng kỹ thuật Mastoid

hitch và Mustardé. Sau phẫu thuật cực trên của vành tai được tạo hình lại với

sự xuất hiện của gờ đối luân, phần trên vành tai khơng còn cụp xuống làm

chiều dài của vành tai tăng lên so với trước phẫu thuật là 0,5 cm ở cả 4 tai,

khoảng cách vành tai đến xương chũm ở 1/3 trên và góc vành tai xương chũm

giảm. So sánh vành tai 2 bên có sự tương xứng nhau về các chỉ số. Xét về

hiệu quả thẩm mỹ, vành tai cụp type IIa sau phẫu thuật có hiệu quả thẩm mỹ

cao hơn so với type IIb, độ lồi lõm của vành tai trơng tự nhiên hơn.



Hình 4.3. Kỹ thuật Mustardé trong chỉnh hình vành tai cụp type IIa

BN 5 Trần Vân Kh.

4.3.5.4. Vành tai Stahl

Petersson chia các phương pháp phẫu thuật vành tai Stahl làm 2 nhóm:

cắt sụn và khâu gấp sụn, có thể sử dụng 1 trong 2 kỹ thuật hoặc kết hợp cả 2.

Kỹ thuật cắt sụn được áp dụng khi bệnh nhân lớn tuổi, sụn vành tai có độ

cứng chắc nhất định, nhược điểm của kỹ thuật này là làm giảm kích thước

vành tai, làm vành tai trơng nhỏ hơn. Còn trong nghiên cứu này cả 2 bệnh

nhân có dị dạng vành tai Stahl còn nhỏ tuổi, sụn vành tai rất mềm dẻo nên



74



chúng tôi áp dụng kỹ thuật khâu gấp sụn cho cả 4 tai mà cụ thể là sử dụng kỹ

thuật Mustardé. Còn trong nghiên cứu của Bo Pan, ông sử dụng kết hợp cả 2

kỹ thuật cho tất cả các bệnh nhân [26].

Sau phẫu thuật chỉnh hình 2 bệnh nhân trong nghiên cứu với cả 4 tai đều

khơng thay đổi kích thước sau phẫu thuật. 1 bệnh nhân có kết quả tốt với 2 tai

sau phẫu thuật có hình dạng bình thường, tương xứng nhau. 1 bệnh nhân tái

phát dị dạng và xuất hiện sẹo lồi sau tai sau phẫu thuật 3 tháng.

4.3.5.5. Vành tai phẳng

Để chỉnh hình vành tai phẳng người ta áp dụng kỹ thuật cắt bỏ 1 phần da và

sụn với nhiều hình dạng khác nhau để thu nhỏ kích thước của vành tai kết hợp với

Mustardé khơng rạch da giúp tạo hình thêm cho rễ trên của gờ đối luân.

Với 2 bệnh nhân trong nghiên cứu chúng tôi đều lựa chọn phương pháp

cắt 1 mảnh da và sụn hình tam giác ở hố thuyền sau đó khâu phục hồi lại da

vành tai phía ngồi kết hợp với kỹ thuật “ incisionless Mustardé”. Sau phẫu

thuật chiều rộng vành tai giảm xuống làm tỷ lệ chiều rộng/chiều dài bình

thường, đồng thời gờ đối luân trông rõ nét và tự nhiên, vành tai thu nhỏ lại.

Còn trong nghiên cứu của Gault, ông cũng sử dụng kỹ thuật cắt da và

sụn tuy nhiên mảnh sụn được lấy bỏ có hình thoi chạy theo đường viền của gờ

luân nhĩ trong hố thuyền [59]. Sở dĩ ơng chọn kiểu cắt sụn này là vì 4 trường

hợp bệnh nhân trong nghiên cứu đều có sự quá phát về chiều dài của vành tai,

còn trong nghiên cứu của chúng tơi 2 bệnh nhân có sự q phát về chiều rộng

của vành tai.

4.3.5.6. Dị dạng bình tai

* Dị dạng kiểu bình tai lớn:

Với kiểu dị dạng này phần da và sụn thừa sẽ được lấy bỏ, phần còn lại được

tạo hình theo hình dáng bình thường của sụn bình tai. Điểm cần chú ý là khi cắt

sụn cần để lại đủ sụn và da phía ngồi để tạo hình bình tai. Với 2 bệnh nhân có



75



chít hẹp ống tai ngồi, phần sụn q phát về phía ống tai ngồi sẽ được lấy bỏ 1

phần sau đó khâu tạo hình để làm rộng ống tai, sau phẫu thuật bệnh nhân được

đặt merocel nong ống tai. Theo dõi sau phẫu thuật 1 và 3 tháng bình tai đạt được

hình dáng và kích thước bình thường, tương xứng với bình tai bên đối diện, và

khơng có sự q phát trở lại của sụn bình tai [50], [60].

* Dị dạng kiểu bình tai phụ:

Chỉnh hình kiểu dị dạng này khá đơn giản, chỉ cần cắt bỏ phần bình tai

phụ, lấy đi cả phần sụn nếu có sau đó khâu phục hồi. Vì vậy đây được xem

như kiểu dị dạng có hiệu quả chỉnh hình cao[50], [61].

4.3.5.7. Dị dạng dái tai

* Dị dạng khơng có dái tai:

Có 3 vành tai dị dạng khơng có dái tai trong nghiên cứu đều được chỉnh

hình bằng sử dụng vạt da 2 thùy tại chỗ phía sau tai để tạo hình lại phần dái

tai bị khuyết. Sau chỉnh hình phần dái tai mới được tạo có kích thước trung

bình về chiều dài là 1,7 ± 0,085 cm chiều rộng là 1,5 ± 0,03 cm, dái tai có độ

căng phồng tự nhiên nhờ lớp mỡ dưới da từ vạt da.

Để tạo hình phần dái tai bị thiếu hụt có nhiều phương pháp khác nhau,

trong đó kỹ thuật sử dụng vạt da 2 thùy tại chỗ của Gavello là một trong

những phương pháp được đưa ra sớm nhất [37]. Ưu điểm của vạt da này so

với các vạt da dưới tai hoặc trước tai là có thể che giấu được phần sẹo phía

sau nên nâng cao được hiệu quả thẩm mỹ của phẫu thuật [37], [62].



76



Hình 4.4. Kỹ thuật chỉnh hình dị dạng khơng có dái tai bằng vạt da 2 thùy

tại chỗ sau tai (BN Nguyễn L.)

* Dị dạng dái tai xẻ thùy

Có nhiều báo cáo và kỹ thuật đưa ra để chỉnh hình các dưới nhóm khác

nhau của dị dạng dái tai xẻ thùy như kỹ thuật chỉnh hình chữ “L”, chữ “Z”

hay “double curve” cho kiểu dị dạng dái tai 2 thùy [63], [64], [65]. Nhưng có

rất ít các bài báo đề cập đến dị dạng dái tai kiểu 3 thùy. Trong chỉnh hình kiểu

dị dạng này, đầu tiên cần lấy đi bờ tự do của 3 thùy dái tai, điều đáng chú ý

nhất trong giai đoạn này là lấy đi tối thiểu phần mô ở bờ tự do để đảm bảo đủ

hình dáng và kích thước mong muốn cho dái tai [55]. Vấn đề chính của dái tai

kiểu này là 3 thùy này thường ở trên các mặt phẳng khác nhau vì vậy Park

cho rằng dái tai kiểu 3 thùy là một biến thể của dái tai xẻ thùy trong đó thùy ở

giữa phía trước được coi như một phần mô thừa ra giữa phần dái tai còn lại bị

xẻ thành 2 thùy, chính vì vậy phần mơ này sẽ được thay đổi vị trí đưa vào

giữa 2 thùy còn lại bù đắp cho phần thể tích thiếu hụt của phần dái tai [55].

Ở bệnh nhân của chúng tôi cũng áp dụng kỹ thuật này, ngồi ra chúng tơi

còn sử dụng 1 mảnh sụn loa tai nhỏ để tạo thêm độ căng phồng tự nhiên cho

dái tai. Sau phẫu thuật kích thước và hình dáng của dái tai được tạo hình khá

tương đồng với bên đối diện.



77



4.3.6. Sự hài lòng của bệnh nhân và bác sỹ

Sau phẫu thuật tỷ lệ hài lòng và rất hài lòng ở bệnh nhân và gia đình là

95,7% và bác sỹ là 82,6%. Tiêu chí về sự hài lòng của bệnh nhân và gia đình

cũng như của chính phẫu thuật viên là một trong những thước đo để đánh giá

hiệu quả của chỉnh hình vành tai. Kết quả này cũng tương tự với kết quả của

Yun khi nghiên cứu về kết quả và sự hài lòng của bệnh nhân sau chỉnh hình

vành tai vểnh, có 85,72% bệnh nhân hài lòng và rất hài lòng [66]. Trong một

nghiên cứu khác của Fioramonti cho thấy tất cả các trường hợp chỉnh hình

vành tai vểnh, bệnh nhân và bác sỹ đều rất hài lòng và hài lòng [22].

4.3.7. Kết quả chung của chỉnh hình vành tai

Kết quả chung của chỉnh hình vành tai được đánh giá sau phẫu thuật dựa

trên tổng hợp nhiều tiêu chí khác nhau như kích thước, vị trí, các thành phần

cấu trúc của vành tai cũng như sự kết hợp với sự hài lòng của bệnh nhân và

gia đình. Từ đó đưa ra 4 mức đánh giá là tốt, rất tốt, trung bình, xấu. Phân loại

đánh giá kết quả này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về dị dạng vành

tai bẩm sinh độ I trên thế giới [7], [38].

Đa số sau phẫu thuật chỉnh hình và theo dõi đánh giá kết quả chung cho

thấy tỷ lệ rất tốt cao 58,1%, có 22,6% các trường hợp đạt kết quả tốt, chỉ có 2

tai chiếm 6,4 % là kết quả xấu, đây chính là 2 tai có biến chứng sẹo lồi và tái

phát dị dạng sau phẫu thuật.



78



KẾT LUẬN

Qua kết quả nghiên cứu và bàn luận nói trên cho phép chúng tơi có thể

rút ra những kết luận sau đây:

1. Về đặc điểm hình thái các dị dạng vành tai bẩm sinh độ I

- Dị dạng vành tai bẩm sinh độ I có thể gặp ở cả nam và nữ, biểu hiện ở

1 bên hoặc 2 bên tai với nhiều kiểu dị dạng khác nhau.

- Mỗi kiểu dị dạng có đặc điểm hình thái đặc trưng riêng biệt.

+ Vành tai vểnh: khoảng cách giữa gờ luân nhĩ và mặt ngồi xương

chũm ở các vị trí đều lớn hơn 2 cm, góc vành tai xương chũm lớn hơn 40o.

+ Vành tai vùi: cực trên của vành tai bị chôn vùi dưới lớp da của xương chũm.

+ Vành tai cụp: dị dạng 1/3 trên của vành tai, cực trên vành tai bị kéo

xuống với các mức độ khác nhau.

+ Vành tai Stahl: sự xuất hiện bất thường rễ thứ 3 của gờ đối luân đi ngang

qua cực trên của hố thuyền, khơng có hoặc khơng rõ rễ trên của gờ đối luân.

+ Vành tai phẳng: quá phát hố thuyền, tỷ lệ chiều rộng/chiều dài vành tai

thay đổi.

+ Dị dạng bình tai: bình tai lớn, bình tai phụ hoặc cả kết hợp cả hai.

+ Dị dạng dái tai: khơng có dái tai, dái tai xẻ thùy với các dưới nhóm

khác nhau.

2. Về kết quả phẫu thuật chỉnh hình dị dạng vành tai bẩm sinh độ I

- Có nhiều kỹ thuật chỉnh hình khác nhau áp dụng cho từng kiểu dị dạng

đặc trưng. Đa số các trường hợp khi chỉnh hình khơng cần dùng thêm vật liệu tự

thân hay nhân tạo.

- Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật ngắn 5,52 ± 3,32 ngày.



79



- Hầu hết các trường hợp vết mổ khô và liền tốt trong 1 tuần đầu sau

phẫu thuật 83,9%.

- Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật thấp. Biến chứng sớm có 1/31 tai có

tình trạng thiểu dưỡng vạt da, biến chứng muộn có 2/31 tai có sẹo lồi và tái

phát dị dạng.

- Phần lớn các trường hợp sau chỉnh hình bệnh nhân, gia đình và bác sỹ

hài lòng và rất hài lòng với kết quả của chỉnh hình vành tai

- Đa số các trường hợp sau phẫu thuật chỉnh hình có kết quả chung là rất

tốt và tốt.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Friedrich S.B., Wulke C. (2007), Classification and diagnosis of ear

malformation, Otolaryngology Head and Neck Surgery, 6.



2.



Bermueller C., Kirsche H., Sebert A. et al. (2012), Quality of life and

patients’ satisfaction after otoplasty, Eur Arch Otorhinolaryngol 269,

2423–2431.



3.



Wise J. B., Sunder S., Quatela V. et al. (2012), Otoplasty & Microtia,

Current diagnosis & treatment in otolaryngology - Head and neck

surgery, Lange, 923-976.



4.



Economides J.M., Baker S.B. (2017), Discussion: A morphometric

study of the newborn ear and an analysis of factors related to congenital

auricular deformities, Plast Reconstr Surg, 140(1), 156-157.



5.



Hao W., Chorney J.M., Bezuhly M. (2013), Analysis of health - related

quality - of - life outcomes and their predictive factors in pediatric

patients who undergo otoplasty, Plast Reconstr Surg, 132(5), 811-817.



6.



Robert W. D. (2004), Otoplasty, Facial Plastic Recontructive and

Trauma Surgery, New York, 23, 899-925.



7.



Naumann A. (2007), Otoplasty - techniques, characteristis and risks,

Otolaryngology Head and Neck Surgery, 6.



8.



Madjidi A. (2011), Otoplasty for the Protruded Ear, Semin Plast Sur,

25(4), 288-294.



9.



Nguyễn Thị Vân Bình (2012), Nghiên cứu đặc điểm hình thái thiểu sản

vành tai và đánh giá kết quả cấy sụn tạo hình, Luận văn tốt nghiệp bác

sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.



10.



Nguyễn Thùy Linh. (2015), Đánh giá kết quả phẫu thuật nâng khung

sụn - tạo hình rãnh sau tai trên bệnh nhân thiểu sản vành tai cấy sụn

tạo hình, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội,

Hà Nội.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biến chứng có thể xuất hiện sau phẫu thuật chỉnh hình vành tai với tỷ lệ là 10% theo nghiên cứu của Ronen và được chia làm 2 nhóm là biến chứng sớm và biến chứng muộn [57].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×