Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Kích thước của vành tai

* Kích thước của vành tai

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



1.2.3. Giải phẫu vành tai

1.Luân nhĩ; 2.Gờ đối luân; 3.Rễ trên của gờ

đối luân; 4.Rễ dưới của gờ đối luân; 5.Hố

thuyền; 6.Hố tam giác; 7.Bình tai;8.Gờ đối

bình; 9.Khuyết gian bình; 10.Rễ luân nhĩ;

11.Lòng thuyền vành tai; 12.Loa tai; 13.Rễ

dưới gờ ln; 14. Dái tai



Hình 1.4. Mặt trước của tai ngồi bên trái [6]

Vành tai có 2 mặt: mặt trước và mặt sau (hoặc mặt ngoài và mặt trong)

* Mặt trước vành tai có những chỗ lồi và chỗ lõm mà cách gọi tên có khác

nhau chút ít tùy theo tác giả. Để thống nhất cách gọi chúng tôi dựa vào cách gọi

trong sách Atlas giải phẫu người của Nguyễn Quang Quyền (2000) [15].

Những chỗ lồi, tính từ chu vi về trung tâm là: gờ luân nhĩ, gờ đối luân

nhĩ, đối bình tai và bình tai.

- Gờ luân nhĩ: chiếm 2/3 trên bờ tự do của vành tai và xuất phát từ phía

trước và phía dưới, tiếp theo rễ của nó, rễ này từ ống tai ngoài kéo dài ra theo

hướng nằm ngang (phía ngồi và phía sau). Từ chỗ xuất phát gờ luân nhĩ tiếp

tục đi lên phía trên rồi lại cong xuống phía dưới để tận cùng tiếp nối với dái tai.

- Gờ đối luân nằm phía trong, đồng tâm với gờ luân, xuất phát từ phía

trên bởi 2 rễ: rễ dưới (trước) và rễ trên (sau), hai rễ này hợp nhất thành một

tạo nên gờ đối luân. Gờ này nằm ngăn cách giữa gờ luân nhĩ ở phía sau và bờ

của loa tai ở phía trước.

- Đối bình tai là một gờ nhỏ ở phía trước dưới của gờ đối ln, đối diện

với bình tai.



10



- Bình tai có hình tam giác, nghiêng ra phía sau ngồi và tạo nên thành

trước của ống tai. Giữa bình tai và đối bình tai có một khuyết nhỏ - khuyết

gian bình.

Những chỗ lõm là hố thuyền, hố tam giác, rãnh luân nhĩ, loa tai và cửa tai.

- Hố thuyền: là một hố thấp, nông, nằm giữa rễ sau của gờ đối luân và

gờ luân nhĩ.

- Hố tam giác: là một hố sâu, nằm giữa 2 rễ của gờ đối luân.

- Rãnh luân nhĩ (Scapha): nằm giữa gờ luân nhĩ và gờ đối luân.

- Loa tai: tiếp giáp với gờ đối luân ở phía trên sau, phía trước đáy của loa

tai nối liền với ống tai ngồi và liên quan với bình tai, phía sau dưới giới hạn

bởi gờ đối bình.

- Dái tai thể hiện nhiều mức độ phát triển khác nhau với hình dáng thay đổi

ở từng người [14].

* Mặt sau vành tai gồm có hai bờ

- Bờ trước dính chặt với thành bên của đầu.

- Bờ sau là bờ tự do

Hai vành tai của người thường khơng hồn tồn giống nhau. Các bộ phận

của vành tai cũng biến đổi theo tuổi tác và nghề nghiệp: vành tai trẻ em da

mịn, các chỗ lồi lõm không quá gồ ghề; vành tai người già có những nếp

nhăn, gập khúc, sụn cứng hơn và gồ lên rõ hơn, người lao động chân tay

nhiều vành tai cứng và gồ ghề hơn.

1.2.4. Cấu tạo của vành tai

Vành tai là một cái loa bằng sụn được bao bọc bên ngồi bởi da, phía

dưới của vành tai khơng có sụn mà chỉ có mỡ và da được gọi là dái tai.

Da của vành tai rất mịn mỏng, thực tế khơng có mỡ dưới da mà dính chặt

vào bề mặt sụn. Mặt trước của vành tai lớp da phủ mỏng dính chắc vào sụn,

trong khi ở phía sau (mặt sau) thì da di động dễ dàng [11].



11



Sụn vành tai là sụn chun, sụn vành tai rất mỏng và khá đồng đều về độ

dày mỏng, dày từ 0,5 - 1 mm, bọc bởi màng sụn. Sụn của vành tai có tính chất

rất đặc biệt, nó khơng giống với sụn ở bất cứ nơi nào khác trong cơ thể. Nó

khơng có mạch máu và chỉ gồm duy nhất một mảnh nguyên vẹn. Sụn của

xương sườn VII phần nào giống với sụn vành tai nhưng dày hơn, rắn hơn và

cũng dễ gẫy hơn. Hình dáng của vành tai lệ thuộc vào cốt sụn của vành tai.

Những đặc tính riêng biệt của sụn vành tai cộng với những gờ nổi, nếp gấp

tạo cho vành tai có hình dáng phức tạp [11].

Khung của vành tai gồm có ba tầng sụn, hình thành nên bốn mặt phẳng,

xoắn vặn một cách tinh tế, đó là các tầng sau: phức hợp loa tai, phức hợp gờ

đối luân- gờ bình tai và phức hợp gờ luân nhĩ. Tất cả những mặt phẳng này

nối tiếp với nhau lần lượt theo những góc vng và hình thành một mặt trước

(phía lõm) với những thành phần lồi lõm phức tạp và một mặt sau (phía lồi)

bằng phẳng hơn. Vì vậy, bất kỳ tổn thương nào của vành tai khi phục hồi cần

tuân theo đặc điểm cấu trúc này.

1. Sàn vành tai

2. Thành vành tai

3. Phức hợp hố thuyền – gờ đối luân

4. Gờ luân nhĩ

Hình 1.5. Quan niệm bốn mặt phẳng, ba tầng thiết kế vành tai [16]

1.2.5. Mạch máu và thần kinh vành tai

- Động mạch: Vành tai được cung cấp máu bởi hai nguồn: động mạch

thái dương nông hay động mạch tai trước và động mạch tai sau. Đó là những

nhánh bên của động mạch cảnh ngoài [17].

Các động mạch tai trước: thường có 3 nhánh.

+ Nhánh dưới: phân chia cấp máu cho nửa trước của bình tai và dái tai.



12



+ Nhánh giữa: đi vào nửa dưới của phần lên gờ luân và đi xuống cấp

máu cho loa tai theo rễ của gờ luân.

+ Nhánh trên: cấp máu cho nửa trên phần lên của gờ luân.

Các động mạch tai sau: có 3 hoặc 4 nhánh tách ra từ thân động mạch tai

sau, một số nhánh đi ở dưới cơ tai sau, một số nhánh đi ở trên cơ này. Ngay

sau chỗ xuất phát các nhánh này đi tới mặt trong của vành tai và phân nhánh ở

mặt này theo hướng chếch lên trên và ra trước. Như vậy, các nhánh này đi từ

phần dính của vành tai ra bờ tự do.

Hình A: 1.Động mạch thái dương

nơng; 2.Động mạch tai sau; 3.Các

nhánh của động mạch tai trước;

4.Các nhánh xiên; 5.Cơ nhị thân,

6.Góc hàm

Hình B: 1.Cơ sau tai, 2.Động

mạch tai sau, 3.Các nhánh xiên

Hình 1.6. Mạch máu của vành tai [18]

- Tĩnh mạch: Giống như động mạch. Các tĩnh mạch của vành tai phân

chia thành các tĩnh mạch tai trước và tai sau.

Các tĩnh mạch tai trước đổ vào tĩnh mạch thái dương nơng và sau đó vào

tĩnh mạch cảnh ngồi. Các tĩnh mạch tai sau đổ vào tĩnh mạch cảnh ngoài.

Tuy nhiên, một số tĩnh mạch sau lại đổ vào tĩnh mạch liên lạc. Tĩnh mạch này

chui qua lỗ chũm để đổ vào xoang tĩnh mạch bên.

-Thần kinh: Các dây thần kinh chi phối cho vành tai gồm hai loại:

+ Các nhánh vận động: xuất phát từ dây thần kinh mặt.

+ Các nhánh cảm giác của vành tai là do những nhánh sau và nhánh

trước của dây thần kinh tai lớn chi phối, được tăng cường thêm bởi dây thần

kinh tai - thái dương.

1.2.6. Chức năng của vành tai



13



Vành tai với vị trí và cấu trúc đặc biệt có tác dụng thu, hứng lấy các sóng

âm trong khơng khí vào ống tai ngồi. Ngồi ra, vành tai còn giúp chúng ta

định hướng âm, phân biệt được tiếng động ở bên phải hoặc bên trái, ở phía

trước hoặc phía sau.

Ngày nay, người ta đã biết nghe rõ bằng hai tai có ưu thế hơn nghe bằng

một tai vì: nghe rõ hơn, khu trú được nguồn âm tốt hơn, phân biệt được lời

nói trong mơi trường ồn ào.

Vành tai còn có chức năng thẩm mỹ tạo sự cân đối cho khuôn mặt.

Dị tật vành tai gây ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của bệnh nhân, nhất là

trẻ em ở giai đoạn phát triển về ý thức, bắt đầu nhận thức về mình so với mọi

người xung quanh. Với những trẻ bị tật ở mắt như cận thị, viễn thị, nếu có

vành tai vùi sẽ khơng thể đeo được kính cũng như đeo khẩu trang mỗi lần ra

ngồi mơi trường bụi, gió rét…

Dái tai có một nguồn cung cấp máu lớn và có thể giúp làm ấm đơi tai và

duy trì sự cân bằng, dái tai có chứa rất nhiều đầu dây thần kinh và đối với

một số người, dái tai được cho là một vùng nhạy cảm trong cơ thể.

Các chức năng này đều quan trọng nên khi chỉnh hình cần đảm bảo cả về

giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ.

1.3. Đặc điểm dị dạng vành tai bẩm sinh

1.3.1. Phân loại dị dạng vành tai bẩm sinh

Có rất nhiều loại dị dạng vành tai bẩm sinh khác nhau do sự phát triển

bất thường của một hoặc nhiều gờ lồi trong quá trình phát triển bào thai. Theo

phân loại của Weerda, dị dạng vành tai bẩm sinh được phân thành các độ tăng

dần cùng với mức độ nghiêm trọng của dị tật[1].

- Độ I (dị dạng nhẹ): hầu hết các cấu trúc của vành tai còn nhận thấy

được. Sự chỉnh hình vành tai ít khi đòi hỏi phải lấy thêm da hoặc sụn.



14



- Độ II (dị dạng vừa): còn được gọi là thiểu sản vành tai độ II, một vài

cấu trúc của vành tai bình thường còn nhận thấy được. Cần có sự chỉnh hình

một phần và đòi hỏi phải sử dụng thêm sụn và da.

- Độ III (dị dạng nặng) còn được gọi là thiều sản vành tai độ III, khơng

có tai. Khơng còn nhận thấy được các cấu trúc bình thường của vành tai. Cần

chỉnh hình tồn bộ vành tai và đòi hỏi cần sử dụng thêm da và rất nhiều sụn.

Bảng 1.1. Phân độ dị dạng vành tai theo Weerda[1]

Độ dị dạng vành tai









Độ I

















Độ II



Độ III















Các dưới nhóm

Vành tai vểnh (Prominent ear)

Vành tai lớn (Macrotia)

Vành tai vùi (Cryptotia – pocket ear)

Vành tai cụp type I, IIa, IIb (Constricted ear)

Dị dạng dái tai (cố định, khơng có, dái tai nhỏ, dái

tai lớn, dái tai xẻ thùy)

Vành tai dơi (Stahl ear)

Vành tai phẳng (Scaphoid ear)

Vành tai nhọn (Satyr ear)

Dị dạng khác: thiếu rễ của sụn luân nhĩ, dị dạng

bình tai, đối bình tai

Vành tai cụp type III (Cup ear type III)

Vành tai nhỏ (Mini ear) thiểu sản phần trên, phần

giữa, phần dưới vành tai; thường kết hợp với chít

hẹp ống tai ngoài và bất thường màng nhĩ

Thiểu sản vành tai 1 bên hoặc 2 bên (microtia)

Khơng có tai (anotia)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Kích thước của vành tai

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×