Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Liên quan giữa lâm sàng, SpO2 và khí máu

3 Liên quan giữa lâm sàng, SpO2 và khí máu

Tải bản đầy đủ - 0trang

43



- Gần 90% số bệnh nhân biểu hiện 1 dấu hiệu thở gắng sức trên lâm sàng có

SpO2 ≥ 85%

- 11,1% bệnh nhân biểu hiện 1 dấu hiệu thở gắng sức có SpO2 < 85% trong

khi 34,5% số bệnh nhân biểu hiện ≥ 2 dấu hiệu thở gắng sức có SpO2 <

85%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

- Giá trị SpO2 trung bình ở nhóm bệnh nhân có ≥ 2 dấu hiệu thở gắng sức

(83,8 ± 6,5 %) thấp hơn ở nhóm có 1 dấu hiệu thở gắng sức (87,1 ± 2,5

%), sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,001.



Biểu đồ 3.10: Tương quan giữa nhịp thở và SpO2 ở trẻ 2 – 12 tháng

Nhận xét: Khơng có mối tương quan giữa nhịp thở và SpO2 ở trẻ 2 – 12

tháng suy hô hấp do viêm phổi (hệ số tương quan r = -0,12).



44



Biểu đồ 3.11: Tương quan giữa nhịp thở và SpO2 ở trẻ 1 – 5 tuổi

Nhận xét: Khơng có mối tương quan giữa nhịp thở và SpO2 ở trẻ 1 – 5 tuổi

suy hô hấp do viêm phổi (hệ số tương quan r = -0,08).

3.3.1.3 Liên quan giữa tình trạng tinh thần và SpO2

Bảng 3.16: SpO2 ở nhóm tinh thần bình thường và bất thường

Tinh thần

bình thường

n

%



SpO2



Tinh thần

bất thường

n

%



SpO2 85 – 90%



111



84,7



15



57,7



SpO2 < 85%

SpO2 trung

(%)

Nhận xét:



20



15,3



11



42,3



bình



86,3 ± 4,4



83,5 ± 5,3



p



< 0,05

< 0,05



- 84,7% bệnh nhân tinh thần bình thường có SpO2 ≥ 85%

- 15,3% bệnh nhân tinh thần bình thường có SpO2 < 85% trong khi 42,3%

bệnh nhân tinh thần bất thường (li bì hoặc kích thích) có SpO2 < 85%, sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.



45



- SpO2 trung bình ở nhóm tinh thần bất thường (83,5 ± 5,3 %) thấp hơn

nhóm tinh thần bình thường (86,3 ± 4,4 %), sự khác biệt có ý nghĩa thế

thống kê với p < 0,05.

3.3.1.4 Liên quan giữa mạch và SpO2

Bảng 3.17: Liên quan giữa giá trị SpO2 và tình trạng mạch

Mạch bình thường



SpO2

SpO2 85 – 90%



Mạch nhanh



n



%



n



%



57



85,1



69



76,7



p



> 0,05

SpO2 < 85%

10

14,9

21

23,3

SpO2 trung bình

86,5 ± 4,1

85,4 ± 5,0

> 0,05

(%)

Nhận xét: SpO2 ở nhóm bệnh nhân biểu hiện mạch nhanh và mạch bình

thường khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

3.3.2 Liên quan giữa lâm sàng và khí máu

3.3.2.1 Đặc điểm khí máu liên quan đến nhóm tuổi bệnh nhân

Bảng 3.18: Đặc điểm khí máu theo nhóm tuổi

Đặc điểm



< 1 tuổi



1 – 5 tuổi



p



PaO2 trung bình nhóm tự thở (mmHg)



54,0 ± 4,4



51,6 ± 5,5



> 0,05



PaO2 trung bình nhóm thở oxy

(mmHg)



83,1 ± 15,0



75,3 ± 16,1



> 0,05



Tỷ lệ SHH type III (%)



43,7



19,4



< 0,05



Tỷ lệ toan máu mất bù (%)



43,7



22,6



< 0,05



7,36 ± 0,08



7,40 ± 0,06



< 0,05



pH máu trung bình

Nhận xét:



- Khơng có sự khác biệt về giá trị PaO2 trung bình ở nhóm bệnh nhân dưới

1 tuổi và nhóm 1 – 5 tuổi.



46



- Tỷ lệ SHH type III (có tăng CO2) và tỷ lệ toan máu mất bù (pH < 7,35) ở

nhóm bệnh nhân dưới 1 tuổi cao hơn nhóm 1 – 5 tuổi với OR (95% CI)

tương ứng là 3,23 (1,24 – 8,41) và 2,66 (1,07 – 6,62) (p < 0,05).

- Giá trị pH máu trung bình ở nhóm bệnh nhân dưới 1 tuổi thấp hơn nhóm 1

– 5 tuổi, với p < 0,05.

3.3.2.2 Liên quan giữa nhịp thở và PaCO2



Biểu đồ 3.12: Đường cong ROC dự đoán PaCO2 > 50mmHg bằng nhịp thở

ở trẻ 2 – 11 tháng



Biểu đồ 3.13: Đường cong ROC dự đoán PaCO2 > 50mmHg bằng nhịp thở

ở trẻ 1 – 5 tuổi



47



Nhận xét: Nhịp thở khơng có giá trị dự đốn PaCO2 > 50mmHg ở trẻ viêm

phổi có suy hơ hấp (diện tích dưới đường cong trong 2 trường hợp lần lượt là

0,534 và 0,197).

3.3.2.3 Liên quan giữa nhịp thở và pH máu



Biểu đồ 3.14: Đường cong ROC dự đoán pH < 7,35 bằng nhịp thở

ở trẻ 2 – 11 tháng



Biểu đồ 3.15: Đường cong ROC dự đoán pH < 7,35 bằng nhịp thở

ở trẻ 1 – 5 tuổi



48



Nhận xét: Nhịp thở khơng có giá trị dự đốn pH < 7,35 ở trẻ viêm phổi có

suy hơ hấp (diện tích dưới đường cong trong 2 trường hợp lần lượt là 0,444 và

0,485).

3.3.2.4 Một số yếu tố lâm sàng liên quan đến tăng CO2 máu

Bảng 3.19: Một số yếu tố liên quan đến tăng CO2 máu

Đặc điểm





Khơng tăng

CO2



Tăng CO2



n



%



n



%



23



54,8



19



45,2



Đẻ non



Khơn

g



73



63,5



42



36,5



Bệnh

nền hơ

hấp







15



75,0



5



25,0



Khơn

g



81



59,1



56



40,9







30



50,8



29



49,2



Khò khè Khơn

g

RRPN

giảm





Khơn

g





Ran rít



Khơn

g



66



67,3



32



32,7



9



52,9



8



47,1



87



62,1



53



37,9



59,2



58,4



31



40,8



63,0



62,7



30



37,0



p



OR

(95% CI)



> 0,05



1,44

(0,70-2,94)



> 0,05



0,48

(0,17-1,40)



< 0,05



2,00

(1,12-4,17)



> 0,05



1,46

(0,53-4,01)



> 0,05



1,17

(0,62-2,26)



Nhận xét:

- Tỷ lệ tăng CO2 ở nhóm bệnh nhân có biểu hiện khò khè (49,2%) cao hơn ở

nhóm khơng biểu hiện khò khè (32,7%). Bệnh nhân biểu hiện khò khè có nguy

cơ tăng CO2 cao gấp 2 lần bệnh nhân không biểu hiện khò khè (p < 0,05).

- Tỷ lệ tăng CO2 ở nhóm bệnh nhân có tiền sử đẻ non, bệnh nền hơ hấp,

nghe phổi rì rào phế nang giảm hay có ran rít khơng khác biệt so với nhóm

bệnh nhân khơng có các yếu tố này (p > 0,05).



49



3.3.2.5 Liên quan giữa tím với PaCO2 và pH máu

Bảng 3.20: Liên quan giữa tím với PaCO2 và pH máu

Tím khi gắng sức



Đặc điểm



Tím liên tục



n



%



n



%



PaCO2 > 50 mmHg



42



37,2



19



43,2



PaCO2 ≤ 50 mmHg



71



62,8



25



56,8



pH < 7,35



43



38,1



19



43,2



p



> 0,05



> 0,05

pH ≥ 7,35

70

61,9

25

56,8

Nhận xét: Tỷ lệ tăng CO2 và toan máu ở nhóm bệnh nhân tím khi gắng sức

và tím liên tục khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.

3.3.3 Liên quan giữa SpO2 và khí máu động mạch

3.3.3.1 Liên quan giữa SpO2 và SaO2

Bảng 3.21: Liên quan giữa SpO2 và SaO2



SpO2 (%)



Nhóm BN tự thở

(n = 87)

86,8 ± 2,7



Nhóm BN thở oxy

(n = 73)

97,0 ± 2,1



SaO2 (%)



86,4 ± 3,0



94,9 ± 3,3



0,5 ± 2,7



2,1 ± 3,0



Giá trị trung bình



SpO2 – SaO2 (%)

Nhận xét:



- Khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa SpO2 và SaO2 ở nhóm

bệnh nhân tự thở (p > 0,05), độ chênh lệch trung bình là 0,5 ± 2,7 %

- SpO2 lớn hơn SaO2 có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân thở oxy Mask

(p < 0,001), độ chênh lệch trung bình là 2,1 ± 3,0 %.



50



3.3.3.2 Liên quan giữa SpO2 và PaO2



Biểu đồ 3.16: Tương quan giữa SpO2 và PaO2 (tự thở)



Biểu đồ 3.17: Tương quan giữa SpO2 và PaO2 (thở oxy)

Nhận xét: SpO2 và PaO2 có mối tương quan khơng chặt chẽ, với hệ số tương

quan trong trường hợp tự thở và thở oxy lần lượt là 0,458 và 0,414.



51



Chương 4 BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4.1.1 Phân bố tuổi

Viêm phổi là bệnh lý thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 1

tuổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi trên 157 bệnh nhân viêm phổi có suy hơ

hấp từ 2 tháng đến 5 tuổi, nhóm trẻ dưới 1 tuổi chiếm tới 80,3%, với độ tuổi

trung bình của nhóm nghiên cứu là 8,5 ± 11,6 tháng.

Năm 2008, trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thường trên 69

bệnh nhân suy hô hấp do viêm phổi tại khoa Hồi sức Cấp cứu Bệnh viện Nhi

Trung ương, nhóm trẻ dưới 1 tuổi chiếm 85,5% [47]. Năm 2010, tác giả Đào

Minh Tuấn nghiên cứu 72 bệnh nhân viêm phổi nặng có suy hơ hấp tại khoa

Hơ hấp Bệnh viện Nhi Trung ương cũng cho kết quả tương tự, với 66,7% là

trẻ dưới 1 tuổi [6]. Một nghiên cứu mới được công bố gần đây (2017) của tác

giả Zabihullah và cộng sự tại Afghanistan, trong 639 trẻ viêm phổi dưới 5 tuổi

phải nhập viện, nhóm tuổi 1 – 12 tháng chiếm 79,8% [48].

Như vậy, nhóm trẻ dưới 5 tuổi, nhất là trẻ dưới 1 tuổi dễ bị suy hô hấp

khi mắc viêm phổi. Điều này có thể giải thích bởi những đặc điểm giải phẫu

và sinh lý hệ hô hấp ở trẻ nhỏ làm cho trẻ mắc viêm phổi dễ tiến triển đến suy

hơ hấp. Cần tập trung chẩn đốn và điều trị suy hơ hấp cho nhóm bệnh nhân

dưới 1 tuổi để giảm nguy cơ tử vong của trẻ viêm phổi.

4.1.2 Phân bố giới

Phần lớn các nghiên cứu trong, ngồi nước về trẻ viêm phổi nói chung

và trẻ viêm phổi có suy hơ hấp nói riêng đều cho thấy tỷ lệ trẻ nam thường

nhiều hơn trẻ nữ. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nam chiếm 60,5%, nữ

chiếm 39,5%, tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1.

Nghiên cứu của tác giả Usen S (2001) trên 1072 trẻ nhiễm trùng hô hấp

cấp, tỷ lệ nam/nữ là 1,2/1 [5]. Nghiên cứu của tác giả Khu Thị Khánh Dung



52



(2001) trên 134 trẻ sơ sinh suy hô hấp do viêm phổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,7/1

[33]. Tác giả Nguyễn Duy Bộ (2013) nghiên cứu 180 trẻ 1 – 12 tháng viêm

phổi suy hô hấp và tác giả Zabihullah cùng cộng sự (2017) nghiên cứu 639 trẻ

viêm phổi dưới 5 tuổi cũng cho kết quả tương tự trong nghiên cứu của chúng

tôi, với tỷ lệ nam/nữ là 1,8/1 [36], [48]. Tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu của

tác giả Nguyễn Văn Thường (2008) trên 69 trẻ suy hô hấp do viêm phổi cao

hơn: nam/nữ là 2,3/1 [47]. Nhìn chung, tỷ lệ này thay đổi trong các nghiên

cứu khác nhau nhưng hầu hết đều cho thấy trẻ nam gặp nhiều hơn trẻ nữ.

4.1.3 Tiền sử

Tiền sử đẻ non, tiền sử tiêm chủng, tiền sử bệnh tật,…là những yếu tố

nguy cơ của viêm phổi ở trẻ đã được nghiên cứu và công bố trong y văn.

Trong số 157 bệnh nhân viêm phổi có suy hơ hấp từ 2 tháng đến 5 tuổi

chúng tơi nghiên cứu, 26,8% có tiền sử đẻ non, 39,5% tiêm phòng vắc xin

khơng đầy đủ, 8,9% khơng tiêm phòng, 31,8% có có tiền sử được chẩn đốn

viêm phổi phải nằm viện điều trị (bảng 3.2).

Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử đẻ non trong nghiên cứu của chúng tôi cao

hơn trong nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ mắc viêm phổi của tác giả Trần

Thị Thúy Hằng (17,2%) [49], nhưng thấp hơn trong nghiên cứu của tác giả

Nguyễn Duy Bộ (37,2%) [36]. Sự khác nhau này là do thời điểm, đối tượng

và cỡ mẫu của các nghiên cứu không giống nhau.

Trong nghiên cứu của tác giả Zabihullah và cộng sự tỷ lệ trẻ chưa tiêm

phòng lao, bạch hầu-ho gà-uốn ván-bại liệt-Hib và sởi ở nhóm bệnh nhân

viêm phổi tử vong lần lượt là 26,7%, 33,3% và 42,9%, cao hơn nhóm viêm

phổi được xuất viện [48].

Tựu chung, các nghiên cứu đều cho thấy tiền sử đẻ non, tiêm chủng

không đầy đủ là những yếu tố nguy cơ của viêm phổi hoặc là yếu tố tiên



53



lượng nặng, tử vong ở trẻ viêm phổi. Cần khai thác đầy đủ những tiền sử này

ở trẻ mắc viêm phổi để góp phần tiên lượng kết quả điều trị bệnh.

4.1.4 Bệnh kèm theo

Trẻ mắc các bệnh lý hô hấp, tim mạch, thần kinh, cơ,…dễ bị viêm phổi

nặng và suy hô hấp hơn trẻ khỏe mạnh bình thường. Trong nghiên cứu của

chúng tơi, 1/3 các trường hợp viêm phổi có bệnh lý khác kèm theo (biểu đồ

3.2). Bệnh lý hô hấp hay gặp nhất chiếm 12,7%, bao gồm: loạn sản phế quản

phổi (11 bệnh nhân), hen phế quản (2 bệnh nhân), viêm tiểu phế quản bít tắc

sau nhiễm trùng (2 bệnh nhân), giãn phế quản (1 bệnh nhân), hẹp phế quản

gốc (1 bệnh nhân), hẹp khí quản (1 bệnh nhân), mềm sụn thanh quản (1 bệnh

nhân), chấn thương phổi (1 bệnh nhân). 4,5% trường hợp có bệnh lý tim bẩm

sinh nhiều máu lên phổi, bao gồm: còn ống động mạch (2 bệnh nhân), tồn tại

lỗ bầu dục (2 bệnh nhân), thông liên thất (2 bệnh nhân), thông liên nhĩ (1 bệnh

nhân). 4,5% trường hợp có bệnh lý thần kinh hoặc bệnh lý cơ, bao gồm: bại

não (2 bệnh nhân), động kinh (2 bệnh nhân), giãn não thất (1 bệnh nhân), teo

cơ tủy (1 bệnh nhân), giảm trương lực cơ (1 bệnh nhân). 11,5% trường hợp có

các bệnh lý khác, bao gồm: Down khơng có tim bẩm sinh hoặc tim bẩm sinh

đã phẫu thuật không còn shunt tồn lưu (5 bệnh nhân), suy giảm miễn dịch thể

dịch bẩm sinh (3 bệnh nhân), khe hở vòm miệng (2 bệnh nhân),…

Một nghiên cứu tiến cứu, đa trung tâm mới đây (năm 2017) về mức độ

nặng của viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển của tác giả

Bénet cho thấy trong nhóm 70 bệnh nhân viêm phổi giảm oxy máu, tỷ lệ mắc

bệnh tim và phổi lần lượt là 8,7% và 6% [50]. Kết quả này khác kết quả trong

nghiên cứu của chúng tơi, có lẽ do địa điểm và cỡ mẫu nghiên cứu khác nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Liên quan giữa lâm sàng, SpO2 và khí máu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×