Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Suy hô hấp trong viêm phổi

2 Suy hô hấp trong viêm phổi

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



1.2.2.2



Kiểm soát nhịp thở



Việc kiểm soát nhịp thở trưởng thành đáng kể trong vài tuần cuối của

thai kỳ và vài ngày đầu sau sinh, điều này giải thích tại sao trẻ đẻ non hay bị

ngừng thở. Nhịp thở của trẻ sơ sinh thường không đều, làm tăng nguy cơ

ngừng thở kéo dài trong những trường hợp nhất định. Đáp ứng với tình trạng

tăng carbonic hoặc giảm oxy máu ở trẻ khá kém nên trẻ nhỏ rất nhạy cảm với

các tác nhân kích thích hay các cơ chế rối loạn kiểm sốt hơ hấp.

1.2.2.3



Đặc điểm đường thở



Tăng sức cản với luồng khí có thể xảy ra trong các bệnh hơ hấp vì trẻ nhỏ

thiếu các cấu trúc nâng đỡ đường thở. Thanh quản, khí quản, phế quản của trẻ

mềm hơn người lớn làm cho đường thở của trẻ dễ bị kéo căng hoặc đè ép.

Trong trường hợp tắc nghẽn đường hô hấp trên, khí quản ngồi lồng ngực có

thể bị ép khi hít vào gắng sức, điều này càng làm tắc thêm. Trường hợp tắc

nghẽn đường hô hấp dưới, thở ra gắng sức làm tăng áp lực trong lồng ngực

càng gây cản trở luồng khí đi ra (vì vậy, trẻ càng kích thích, quấy khóc sự tắc

nghẽn càng nặng). Một điều quan trọng: cần phải bình tĩnh, trấn an trẻ, tránh

sự sợ hãi, quấy khóc khi xử trí tắc đường thở.

Nếu so với người lớn, đường thở của trẻ em rộng tương đối nhưng kích

cỡ tuyệt đối lại nhỏ hơn. Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về bán kính đường thở

cũng làm tăng sức cản đường thở lên rất nhiều - sức cản đường thở tăng theo

lũy thừa bậc bốn với sự giảm bán kính đường thở.

1.2.2.4



Lồng ngực và cơ hơ hấp



Hình dạng lồng ngực trẻ nhỏ với độ giãn nở cao, dễ biến dạng tham gia

hạn chế vào quá trình hơ hấp. Lồng ngực mềm, xương sườn nằm ngang và

các cơ liên sườn chưa phát triển đầy đủ nên di động theo chiều dọc - thở ngực

- ở trẻ bị hạn chế. Cơ hoành nằm ngang nên khi co cơ thì hít vào có xu hướng

kéo phần thấp lồng ngực vào trong. Các cơ liên sườn hoạt động đối kháng với



10



cơ hồnh ở phía bờ sườn và sự mất cân bằng phụ thuộc vào cơ hoành. Nếu cơ

hoành phẳng (ví dụ ứ khí phổi), các cơ liên sườn co lại - một dấu hiệu gắng

sức hô hấp - để khơng khí đi vào lồng ngực. Sự chuyển động ngược chiều của

phần dưới lồng ngực đi vào trong ở thì hít vào gọi là dấu hiệu Hoover, dấu

hiệu này phổ biến ở trẻ khó thở, rõ nhất trong tắc nghẽn đường thở ngoại vi

hoặc lồng ngực giãn căng [14].



Hình 1.1: Dấu hiệu Hoover [12]

Sự cân bằng giữa lồng ngực và áp lực đàn hồi của nhu mô phổi tạo ra thể

tích phổi tĩnh lúc nghỉ ngơi. Ở trẻ em thể tích phổi tương đối thấp so với

người lớn nhưng ngược lại độ giãn nở thành ngực lại khá cao. Thể tích lưu

thơng chồng chéo với thể tích đóng kín (thể tích phổi khi đường thở bắt đầu

đóng) dẫn đến việc đóng các đường thở và tạo ra vùng thơng khí - tưới máu

khơng thích hợp. Trẻ nhỏ ln duy trì dung tích cặn chức năng bằng cách

tăng thể tích phổi cuối thì thở ra; các cơ chế chính gồm: cơ hồnh giãn khơng

hồn tồn trong thì thở ra, nhịp thở nhanh và đóng thanh quản thì thở ra.

Cấu tạo mơ học cơ hồnh ở trẻ nhỏ chưa duy trì được hoạt động với

cường độ cao. Sự trưởng thành xảy ra trong năm đầu bằng cách tăng khối

lượng cơ và tăng thành phần các sợi cơ chịu mệt type I dần giống người lớn.



11



1.2.2.5



Nhu mơ phổi



Diện tích trao đổi khí tính trên mỗi diện tích bề mặt cơ thể thấp ở trẻ nhũ

nhi do số lượng phế nang ít hơn và kích thước phế nang nhỏ hơn người lớn.

Tổ chức đàn hồi xung quanh các phế nang cạnh đường dẫn khí tạo ra lực đàn

hồi, giúp đường dẫn khí ln mở. Giai đoạn đầu sau sinh rất ít các phế nang

lớn hỗ trợ nên đường thở dễ bị xẹp. Phế nang tiếp tục phân chia trong suốt

thời kỳ thơ ấu bằng các vách ngăn, tạo ra nhiều tổ chức đàn hồi hơn, giảm

dần nguy cơ xẹp đường thở theo tuổi. Con đường thơng khí bàng hệ (lỗ Kohn

thơng giữa các phế nang và ống Lambert thông giữa phế quản phế nang) chưa

xuất hiện cho đến 3 – 4 tuổi, vì vậy trẻ nhũ nhi rất dễ bị xẹp phổi. Tình trạng

giảm oxy và tăng carbonic máu vì thế mà xuất hiện sớm và có thể trở nên

nặng nhanh chóng ở lứa tuổi này.



Hình 1.2: Phế quản dễ bị xẹp - con đường thơng khí bàng hệ [12]

1.2.3 Cơ chế bệnh sinh của suy hơ hấp

1.2.3.1



Giảm thơng khí phế nang



Thơng khí phế nang (VA) được xác định bằng tần số thở và biên độ

từng nhịp thở, là hiệu số giữa thơng khí tồn bộ (VE) và thể tích khoảng chết



12



(VD): VA=VE –VD (trong đó: VE = Vt x f, Vt: thể tích lưu thơng, f: tần số

thở).

Giảm thơng khí thế nang xảy ra khi:

- VE giảm: do giảm thể tích khí lưu thơng hoặc giảm tần số thở.

+ Thể tích khí lưu thông giảm: chủ yếu do tắc nghẽn đường hô hấp (đờm

rãi, phù nề niêm mạc đường hô hấp, dị vật đường thở, bệnh bạch hầu, viêm

tiểu phế quản, hen phế quản) hoặc bất thường lồng ngực, cột sống... Bệnh

nhân thở nhanh nơng cũng làm giảm thể tích khí lưu thơng.

+ Bệnh nhân thở chậm: do ức chế trung tâm hô hấp (hay gặp trong các

bệnh lý thần kinh trung ương, thần kinh ngoại vi, bệnh thần kinh – cơ).

- VD tăng: chủ yếu do hiện tượng ứ khí phế nang (hen, viêm tiểu phế

quản…)

Hậu quả của giảm thơng khí là ứ đọng khí carbonic (PaCO 2 = VCO2/VA)

và thiếu oxy. Giảm oxy máu do giảm thơng khí phế nang có thế được cải

thiện một phần bằng cách tăng FiO2. Tuy nhiên cách này khơng thể cải thiện

tình trạng tăng CO2 máu. PaCO2 máu phản ánh chính xác thơng khí phế nang

và cách tốt nhất để cải thiện tình trạng tăng carbonic và giảm oxy máu là cải

thiện thơng khí phế nang.

1.2.3.2



Bất tương xứng thơng khí-tưới máu (VA/Q mismatching)



Bình thường có sự tương xứng giữa thơng khí (VA) và tưới máu (Q) ở một

phế nang cũng như một vùng phổi: VA/Q = 0,8 [15].

Khi phế nang được thơng khí (VA) ít hơn so với sự tưới máu (Q) do tắc

nghẽn một phần của ống dẫn khí (hen phế quản, viêm tiểu phế quản...) sẽ dẫn

đến giảm sút tỉ lệ VA/Q, hoặc ngược lại khi tại một vùng phổi có hiện tượng

tưới máu kém hơn so với thơng khí (tắc mạch phổi, vách phế nang bị hủy)

hoặc phế nang căng chướng quá mức ép vào mạch máu phổi, giảm lưu lượng

máu đến phổi, hậu quả tăng bất thường VA/Q tại vùng phổi đó. Sự bất tương



13



xứng thơng khí - tưới máu này cũng gây ra thiếu oxy với gia tăng khác biệt

giữa áp lực oxy động mạch với phế nang đáp ứng tốt với oxy liệu pháp.

1.2.3.3



Shunt



Shunt là hiện tượng dòng máu đi từ tim phải về tim trái mà không tham

dự vào q trình trao đổi khí (có tưới máu mà khơng có thơng khí) gây ra

giảm oxy máu động mạch với đặc trưng cơ bản là gia tăng khác biệt giữa áp

lực oxy động mạch với phế nang và không đáp ứng với điều trị bằng oxy liệu

pháp. Shunt mao mạch xuất hiện khi dòng máu vượt qua phế nang khơng

được thơng khí, trong một số bệnh lí: xẹp phổi, tràn dịch, tràn khí màng phổi,

viêm phổi, phù phổi và ARDS. Shunt giải phẫu xuất hiện khi dòng máu từ

tim phải tới tim trái hoàn toàn vượt qua phổi, thường thấy trong các bệnh tim

bẩm sinh.

1.2.3.4 Hạn chế khuếch tán qua màng phế nang-mao mạch

Giảm khuếch tán qua màng phế nang mao mạch xảy ra do diện tích bề

mặt trao đổi khí bị giảm bởi q trình viêm, xơ màng phế nang mao mạch, do

oxy trong phế nang thấp hoặc thời gian máu qua mao mạch phế nang rất ngắn.

Hậu quả là PaO2 giảm nhưng PaCO2 thường không tăng do khả năng tan

trong nước của CO2 cao hơn oxy 20 lần [13]. Một lý do khác, do tình trạng

tăng thơng khí khi giảm oxy máu cũng giúp tăng đào thải CO2.

Bình thường, thời gian máu qua mao mạch phế nang là 0,75s, thời gian

cần để hồn thành trao đổi khí là 0,25s. Một đặc điểm quan trọng trong cơ chế

rối loạn khuếch tán khí qua màng phế nang-mao mạch là tình trạng giảm oxy

xuất hiện hoặc nặng lên khi gắng sức. Khi gắng sức thời gian máu qua mao

mạch bị rút ngắn do tăng cung lượng tim và nồng độ oxy trong máu tĩnh mạch

trộn bị giảm do mô tăng sử dụng. Tuy nhiên, tình trạng giảm oxy máu thường

khơng xảy ra do sự huy động thêm mao mạch, giãn mao mạch và tăng oxy

phế nang. Bệnh nhân xơ phổi khơng huy động được thêm mao mạch nên tình

trạng giảm oxy máu dễ xuất hiện hoặc nặng lên. Các nguyên nhân quan trọng

gây hạn chế khuếch tán qua màng phế nang-mao mạch là khí phế thũng và



14



bệnh phổi kẽ [15].

1.2.4 Biểu hiện lâm sàng

Cần chú ý phát hiện biến chứng suy hơ hấp ở trẻ viêm phổi khi trẻ có

các biểu hiện thở gắng sức, biểu hiện của các cơ quan bị ảnh hưởng (da niêm

mạc, tuần hoàn, thần kinh).

Các dấu hiệu lâm sàng dự báo tình trạng giảm oxy máu được nhiều tác

giả nghiên cứu trong nhiều năm qua, với độ nhạy độ đặc hiệu khác nhau tùy

từng định nghĩa giảm oxy máu được sử dụng. Trong đó, hai biểu hiện chính

của suy hơ hấp trên lâm sàng được các tác giả đề cập là khó thở và tím.

1.2.4.1



Khó thở



Rối loạn về tần số thở

Thở nhanh là một đáp ứng sinh lý đối với tình trạng giảm oxy máu

trong nhiễm trùng hô hấp cấp. Đây là một dấu hiệu lâm sàng có giá trị chẩn

đốn viêm phổi và cũng được sử dụng để dự báo giảm oxy máu, với những

điểm cắt khác nhau tùy từng nghiên cứu. Onyango và cộng sự lấy mốc nhịp

thở ≥ 70 lần/phút để dự báo giảm oxy máu ở trẻ 3-11 tháng, ≥ 60 với trẻ lớn

hơn. Một nghiên cứu ở Gambia cho thấy nguy cơ giảm oxy tăng gấp đôi ở trẻ

thở 70 lần/phút và tăng lên 3% cho mỗi nhịp thở tăng [16].

Tuy nhiên nhịp thở của trẻ thay đổi theo tuổi, bị ảnh hưởng bởi tình

trạng suy dinh dưỡng, sốt, thiếu máu và độ cao nơi trẻ sống. Trẻ suy dinh

dưỡng không thở nhanh như trẻ khỏe mạnh. Trẻ suy hô hấp mắc bệnh lý thần

kinh cơ cũng không thể gắng sức bằng tăng nhịp thở.

Thở nhanh là dấu hiệu gắng sức để đảm bảo thể tích khí lưu thơng.

Nhưng khi trẻ mệt cơ hô hấp sẽ biểu hiện bằng thở chậm, thậm chí có những

cơn ngừng thở hay rối loạn nhịp thở.

Rối loạn kiểu thở

Thở rên: Âm thanh tạo ra do khép thanh mơn thì thở ra, làm tăng áp

lực đường thở để giữ đường thở mở trong thì thở ra. Đây là một cơ chế bảo

vệ của những trẻ bị bệnh màng trong giảm oxy máu. Dấu hiệu này dễ dàng



15



nhận định, khơng cần sử dụng ống nghe, có thể hướng dẫn cho bà mẹ hoặc

nhân viên y tế phát hiện.

Thở rít: Biểu hiện thở rít định khu ở đường hơ hấp trên hoặc ngồi

lồng ngực. Điển hình thở rít xuất hiện trong suốt thì hít vào nhưng cũng có

thể ở cả hai thì khi đường thở bị hẹp nặng hơn. Với những bệnh nhân thở rít

có nguy cơ cao như viêm nắp thanh môn, phù nề đường thở nặng, việc đầu

tiên phải giữ cho trẻ bình tĩnh trong khi đợi các bác sĩ tai mũi họng, bác sĩ

gây mê đánh giá khẩn cấp. Những bệnh nhân này có thể phân biệt bằng biểu

hiện nhiễm độc và chảy nước dãi nhiều.

Khò khè: Khò khè được định nghĩa là âm thanh có âm sắc cao liên tục

phát ra từ ngực trong suốt thì thở ra [17]. Đây là một dấu hiệu của đường hô

hấp dưới hoặc đường thở trong ngực, gồm phế quản, tiểu phế quản. Trong

hen phế quản khò khè cũng là triệu chứng chủ yếu. Tuy nhiên, điều quan

trọng cần xem xét các chẩn đoán khác như viêm tiểu phế quản, khò khè do

virus, phù phổi, rối loạn chức năng tim hoặc do dị vật. Xquang ngực có thể

giúp thu hẹp chẩn đốn phân biệt.

Rối loạn thì thở

Bệnh nhân khó thở có thể biểu hiện trong thì hít vào, thở ra hoặc khó

thở cả hai thì. Khó thở thì hít vào thường do tắc nghẽn đường hơ hấp trên.

Khó thở thì thở ra do tắc nghẽn đường hơ hấp dưới. Trong viêm phổi, bệnh

nhân thường biểu hiện khó thở cả hai thì do rối loạn quá trình trao đổi khí tại

phế nang.

Sự gắng sức cơ hơ hấp

Đầu gật gù theo nhịp thở: Đầu gật gù theo nhịp thở (dấu hiệu Funk) là

sự vận động đồng bộ của đầu với nhịp thở do sử dụng cơ hô hấp phụ (cơ ức

đòn chũm). Hai nghiên cứu từ Gambia cho thấy đây là dấu hiệu dễ nhận định

với độ nhạy 29% và 57%, độ đặc hiệu tương ứng 96% và 85% [16]. Giống

như thở rên, dấu hiệu này thường gặp hơn ở trẻ nhỏ và giá trị trong thực tế

nằm ở chỗ có thể quan sát mà khơng cần bộc lộ trẻ.



16



Phập phồng cánh mũi: Phập phồng cánh mũi là cánh mũi di chuyển ra

ngồi ở thì hít vào, dẫn đến mở rộng cánh mũi. Các nghiên cứu đều chỉ ra

mối liên quan rõ rệt giữa dấu hiệu phập phồng cánh mũi với giảm oxy máu.

Dấu hiệu này có độ đặc hiệu khá tốt nhưng độ nhạy thấp chỉ 17% trong một

nghiên cứu từ Gambia [16].

Rút lõm hõm ức: Hõm trên xương ức lõm vào sâu trong thì hít vào

Co kéo cơ liên sườn: Phần mềm giữa các xương sườn lõm vào khi trẻ

hít vào, thường gặp ở trẻ lớn và người lớn.

Rút lõm lồng ngực: Rút lõm lồng ngực là phần dưới lồng ngực di

chuyển vào bên trong so với khung xương thành ngực trong thì hít vào. Dấu

hiệu này có giá trị chẩn đốn viêm phổi và cùng với biểu hiện ho, thở nhanh

xếp bệnh nhân vào nhóm cần nhập viện. Hall và cộng sự khơng tìm thấy mối

liên quan giữa rút lõm lồng ngực và giảm oxy máu ở trẻ nhiễm RSV nhưng

hai nghiên cứu khác ở trẻ viêm tiểu phế quản lại thấy mối liên quan rõ rệt.

Một số nghiên cứu gần đây ở trẻ nhiễm trùng đường hơ hấp dưới cấp tính,

chủ yếu là viêm phổi, cho thấy rút lõm lồng ngực không phải là yếu tố nguy

cơ của giảm oxy máu. Điều này có thể giải thích một phần do hầu hết số trẻ

trong nghiên cứu được nhập viện theo hướng dẫn của WHO đều có dấu hiệu

này, mặc dù có giảm oxy máu hoặc khơng.

1.2.4.2



Tím



Tím trung tâm là tím ở niêm mạc, nhìn thấy dễ nhất ở miệng. William

Stadie mô tả đầu tiên về mối liên quan giữa tím và giảm oxy máu động mạch.

Khi xuất hiện tím, độ bão hòa oxy ln dưới 90%, thường dưới 85% [18]. Ở

trẻ nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp tính, triệu chứng tím có mối tương

quan với PaO2 và cũng là chỉ định cho hỗ trợ oxy, do đó được sử dụng để

đánh giá mức độ nặng của bệnh trên lâm sàng. Đây là dấu hiệu đặc hiệu nhất

của giảm oxy máu (OR = 83.2, 95% CI [5.248–355.111]; p = 0.000) [19]

nhưng độ nhạy không cao, tối đa 42% [20]. Việc nhận định tím bị ảnh hưởng

bởi một số yếu tố, bao gồm: giảm nồng độ hemoglobin, tưới máu da, màu sắc



17



da và cả chất lượng ánh sáng.

1.2.4.3



Tình trạng tồn thân



WHO khuyến cáo cung cấp oxy cho trẻ nhiễm trùng đường hơ hấp

dưới cấp tính có dấu hiệu khơng thể uống được gây ra do tình trạng bệnh

[21]. Trong thực tế hầu hết những bệnh nhân này đều có suy giảm ý thức

hoặc li bì. Những nghiên cứu ở Gambia, Peru và Kenya cho thấy những dấu

hiệu tồn thân (giảm ý thức, khơng ăn được, khơng thể khóc) liên quan đến

giảm oxy máu với độ đặc hiệu cao ở Gambia, thấp hơn ở Peru và Kenya, độ

nhạy thay đổi từ 16 đến 68% [16].

1.2.5 Đo độ bão hòa oxy dựa vào mạch đập (SpO2)

Bình thường trong 100ml máu có khoảng 20,7 ml oxy, phần lớn được

vận chuyển dưới dạng kết hợp với hemoglobin (hơn 98%) chỉ 0,3 ml ở dạng

hòa tan. Do đó, độ bão hòa oxy của hemoglobin trong máu - tỷ lệ phần trăm

dạng hemoglobin gắn oxy - cho biết tình trạng oxy máu. Đo độ bão hòa oxy

dựa vào mạch đập (SpO2) là phương pháp được sử dụng rộng rãi bởi tính đơn

giản, khơng xâm nhập, kết quả phản ánh khá chính xác độ bão hòa oxy trong

máu động mạch (SaO2).

1.2.5.1 Nguyên lý hoạt động

Tia đỏ (bước sóng 660nm) và tia hồng ngoại (bước sóng 940nm) được

phát từ hai điot phát sáng (LED), đi qua lớp mạch máu dưới da (ví dụ đầu

ngón) bị hấp thụ theo định luật hấp thụ ánh sáng. Hệ số hấp thụ ánh sáng đỏ

và ánh sáng hồng ngoại của HbO2 (oxyhemoglobin) và RHb (reduced

hemoglobin) khác nhau. Một đầu dò cảm quang sẽ đo cường độ ánh sáng sau

khi truyền qua và chuyển đổi thành tín hiệu điện tử. Độ bão hòa oxy đo được

là kết quả giữa tỉ lệ ánh sáng đỏ và ánh sáng hồng ngoại thu được.

Tuy nhiên mô mềm, xương, da, máu tĩnh mạch và bản thân đầu đo cũng

hấp thụ ánh sáng, do đó thiết bị đo độ bão hòa oxy qua mạch đập phải tách

các thành phần không nhịp này và các thành phần có nhịp từ máu động mạch.

Các thành phần có nhịp được tính tốn trong bộ vi xử lý. Sau khi các cảm



18



biến quang đã nhận được các tia đỏ (Red – R) và tia hồng ngoại (Infrared –

IR), tỉ lệ R/IR sẽ được đem ra so sánh với bảng tra cứu chuẩn được các nhà

thiết kế dựng sẵn để chuyển đổi sang giá trị SpO2 tương ứng.

1.2.5.2 Giá trị của SpO2 xác định giảm oxy máu

Độ bão hòa oxy đo bằng phương pháp mạch đập (SpO2) phản ánh khá

chính xác độ bão hòa oxy trong máu động mạch (SaO2) khi SpO2 > 91%. Độ

chính xác giảm đi khi SpO2 < 90%, chênh lệch (SpO2 – SaO2) khoảng > 3%

khi SpO2 76 – 90% [22].



Biểu đồ 1.1: Sai số giữa SpO2 và SaO2 phụ thuộc giá trị SpO2 [22]

Giá trị trung bình của SpO2 khoảng 97 – 99% với giới hạn dưới (-2 SD)

là 94%, do vậy khoảng giá trị bình thường của SpO2 từ 94 – 100%. Một sự

thay đổi nhỏ của SpO2 trong khoảng 90 – 100% phản ánh sự thay đổi lớn của

PaO2 bởi vì đường cong phân ly HbO2 tương đối nằm ngang khi PaO2 >

60mmHg. Khi SpO2 < 90% đường cong dốc nên mặc dù PaO2 giảm rất ít thì

SpO2 vẫn giảm rất nhanh. Vì lý do này, nhiều tác giả định nghĩa giảm oxy

máu (PaO2 < 60mmHg) khi SpO2 < 90% và khuyến cáo thở oxy khi SpO2 <

90% [23].



19



Hình 1.3: Mối liên quan giữa SpO2 và PaO2 [24]

1.2.5.3 Hạn chế

Điều kiện

Da tối màu

Giảm tưới máu

Thiếu máu

Ánh sáng bên ngồi q sáng

Chuyển động

Dòng tĩnh mạch

- Suy tim phải nặng

- Hở van ba lá

- Garo hoặc băng đo

huyết áp phía trên

Bất

thường

nồng

độ

hemoglobin

- MetHb

- SSHb

- HbCO

1.2.6 Khí máu động mạch



Giới hạn

Ngun nhân khơng đầy đủ tín hiệu



Kết quả đọc thấp hơn so với độ bão

hòa oxy máu động mạch



Không đáng tin cậy (xu hướng đọc

80 – 85% so độ bão hòa thực tế)

Độ bão hòa chính xác nhưng đường

cong phân ly Hb chuyển phải

Bão hòa cao hơn thực tế



Áp lực khí máu động mạch và thăng bằng toan kiểm là các chỉ số chỉ thị

cho trao đổi khí. Hiện nay, việc chẩn đốn suy hơ hấp dựa vào các tiêu chuẩn

trong khí máu động mạch: PaO2 < 60 mmHg và hoặc PaCO2 > 50 mmHg.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Suy hô hấp trong viêm phổi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×