Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sự giảm nồng độ bổ thể C3 thường đi trước và liên quan đến mức độ đợt cấp của bệnh SLE, đặc biệt là tổn thương thận SLE [40]. Trong kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi cũng ghi nhận: Nồng độ bổ thể C3 của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud cao hơn so v

Sự giảm nồng độ bổ thể C3 thường đi trước và liên quan đến mức độ đợt cấp của bệnh SLE, đặc biệt là tổn thương thận SLE [40]. Trong kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi cũng ghi nhận: Nồng độ bổ thể C3 của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud cao hơn so v

Tải bản đầy đủ - 0trang

65



nồng độ bổ thể của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud cao hơn so với

nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Kết quả này của chúng

tơi cũng tương tự như kết quả của Jacob Dimant 1979 và Flavia Emilie

Heimovski và cộng sự năm 2015. Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud

thường có mức độ hoạt động bệnh nhẹ hơn [34], [37].

4.2. Mối liên quan giữa hội chứng Raynaud và tăng áp động mạch phổi ở

bệnh nhân SLE.

4.2.1. Thời gian xuất hiện hội chứng Raynaud.

Thời gian xuất hiện hội chứng Raynaud phần lớn là trên 1 năm, chiếm

75.8%. Trong đó, từ 1 – 5 năm chiếm 36.4%, > 5 năm chiếm 39.4%. Thời

gian trung bình xuất hiện hội chứng Raynaud là khoảng 61 tháng. Hội chứng

Raynaud thường đến trước hoặc cùng thời điểm chẩn đoán SLE. Thời gian

trung bình mắc hội chứng Raynaud trước khi chẩn đốn SLE là khoảng 28

tháng. Như vậy, có thể hội chứng Raynaud là một trong các dấu hiệu lâm sàng

đến trước của bệnh SLE nói riêng và các bệnh hệ thống nói chung. Như đã

trình bày ở trên, độ nhạy của kháng thể kháng ANA đạt gần 100% trong chẩn

đoán các bệnh hệ thống. Do đó với những bệnh nhân có hội chứng Raynaud

ngồi việc tìm kiếm các biểu hiện lâm sàng khác của SLE chúng ta có thể xét

nghiệm kháng thể kháng ANA để chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời SLE cho

các bệnh nhân này.

4.2.2. Áp lực động mạch phổi trung bình của đối tượng nghiên cứu.

Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud trong nghiên cứu của chúng tơi

có áp lực động mạch phổi trung bình là 48 mmHg, cao hơn nhóm bệnh nhân

SLE khơng có hội chứng Raynaud. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với

p = 0.000. Kết quả này tương tự như kết quả của A Kasparian và cộng sự năm

2007. Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tăng áp động mạch phổi cao

hơn so với nhóm SLE khơng có hội chứng Raynaud với p < 0.0001 [6].



66



4.2.3. Mối liên quan giữa hội chứng Raynaud và tăng áp động mạch phổi ở

bệnh nhân SLE

Trong nghiên cứu của mình, chúng tơi nhận thấy có mối liên quan giữa

hội chứng Raynaud và tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân SLE (p = 0.02).

Nguy cơ tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud

cao gấp 5.846 lần so với bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud,

khoảng tin cậy 95% là [1.871; 18.267]. Kết quả này của chúng tôi tương tự

như kết quả của nhiều nghiên cứu khác. Hội chứng Raynaud liên quan đến

tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân SLE. Nó xuất hiện ở 75% – 80% bệnh

nhân SLE có tăng áp động mạch phổi [5], [6], [7], [8], [24], [53]. Trong

nghiên cứu của mình Lian và cộng sự đã chỉ ra rằng hội chứng Raynaud là

một yếu tố tiên lượng tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân SLE. Nó làm tăng

nguy cơ tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân SLE gấp 3.2 lần với 95% độ tin

cậy trong khoảng [ 1.291; 7.949] [54]. Năm 2012, Atiya Dhala cũng đưa ra

kết luận có mối liên quan giữa tăng áp động mạch phổi và hội chứng Raynaud

ở bệnh nhân SLE và nên xem xét việc sàng lọc tăng áp động mạch phổi ở

những bệnh nhân này [8]. Điều này có thể được giải thích bởi cơ chế bệnh

sinh của hội chứng Raynaud. Đó là sự suy giảm chức năng nội mạch: Tế bào

nội mô giảm sản xuất các yếu tố giãn mạch như nitric oxit, prostacyclin và

tăng cường các sản phẩm gây co mạch như endothelin – 1 kết hợp với tổn

thương cấu trúc mạch máu: Các tế bào nội mô mạch máu bị tổn hại do thiếu

máu cục bộ hoặc do các tự kháng thể dẫn đến co thắt tuần hoàn phổi và thiếu

oxy. Kết quả là tăng các phân tử kết dính và hình thành sợi fibrin; tăng sinh

nội mạc và cơ trơn mạch máu phổi; làm dày thành mạch và thay đổi cấu trúc

mạch máu không thể đảo ngược; cuối cùng, gây tăng áp động mạch phổi [6],

[51], [55]. Ngồi cơ chế kể trên thì tổn thương phổi kẽ cũng là một trong

những nguyên nhân của tăng áp động mạch phổi [56]. Trong nghiên cứu của



67



mình, chúng tơi ghi nhận bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tỷ lệ tổn

thương phổi kẽ nhiều hơn so với bệnh nhân SLE khơng có hội chứng

Raynaud. Một trường hợp phân tích tử thi ở bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud và tăng áp động mạch phổi cũng chứng minh ở bệnh nhân này có xơ

và dày thành động mạch và tiểu động mạch, đặc biệt là động mạch và tiểu

động mạch phổi [57].

4.2.4. Mức độ tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi có 58% bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud có mức độ tăng áp động mạch phổi > 50 mmHg ( trong đó 32%

bệnh nhân có tăng áp động mạch phổi > 70 mmHg). Ngược lại so với nhóm

bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud, khơng có bệnh nhân nào có

tăng áp động mạch phổi > 50 mmHg. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

với p = 0.045. Điều này cho thấy, bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud nếu

có tăng áp động mạch phổi thì áp lực động mạch phổi có thể rất cao. Trong

nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân có áp lực động mạch phổi cao nhất ước

tính qua siêu âm doppler tim là 101mmHg, khác với nhóm bệnh nhân SLE

khơng có hội chứng Raynaud, nếu có tăng áp động mạch phổi thì ít khi tăng

áp động mạch phổi > 50 mmHg. Ba nghiên cứu thuần tập năm 1999 và 2006

đã chỉ ra rằng áp lực động mạch phổi > 70 mmHg có liên quan đến tỷ lệ tử

vong ở bệnh nhân SLE [9], [24], [53]. Bệnh nhân cùng với áp lực động mạch

phổi cao tại thời điểm chẩn đốn có liên quan với khoảng thời gian sống còn

lại ngắn hơn. Áp lực động mạch phổi càng cao, thời gian sống càng giảm,

trung bình khoảng 2.5 tháng [9]. Do đó, với bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud, chúng ta cần đánh giá sớm mức độ tăng áp động mạch phổi để có

thể tiên lượng cũng như có phương pháp điều tri kịp thời.



68



4.2.5. Mối tương quan giữa thời gian mắc hội chứng Raynaud và tăng áp

động mạch phổi.

Trong nghiên cứu của mình, chúng tơi ghi nhân được khơng có mối

tương quan giữa thời gian mắc hội chứng Raynaud và tăng áp động mạch

phổi ở bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud (p = 0.356). Hiện tại chưa có

nghiên cứu nào trên thế giới cũng như ở Việt Nam đề cập đến mối liên quan

này. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình A Kasparian và cộng sự cũng nghi

nhận được mặc dù tăng áp động mạch phổi có liên quan với hội chứng

Raynaud nhưng khơng có mối liên quan với thời gian mắc bệnh [6]. Huang và

cộng sự năm 2016 cũng đưa ra kết quả tương tự [56].

4.2.6. Tổn thương tim mạch của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: Bệnh nhân SLE có hội

chứng Raynaud có tỷ lệ suy tim phải nhiều hơn so với bệnh nhân SLE khơng

có hội chứng Raynaud, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0.000. Tăng

áp động mạch phổi là một bệnh tiến triển của mạch máu phổi dẫn đến tăng

sức đề kháng mạch phổi, áp lực động mạch phổi tăng cao, rối loạn chức năng

thất phải và cuối cùng là suy thất phải. Suy thất phải làm tăng lượng tải trọng

cho tim, lâu dần sẽ dẫn đến suy tim phải và chiến lược để bảo tồn chức năng

thất phải là cố gắng làm giảm kháng trở mạch máu phổi [58], [59]. Do đó

bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tỷ lệ tăng áp động mạch phổi cao

hơn thì tỷ lệ suy tim phải cũng nhiều hơn so với bệnh nhân SLE khơng có hội

chứng Raynaud, có tỷ lệ tăng áp động mạch phổi thấp hơn. Đây cũng là một

trong các lý do chúng ta cần sàng lọc và đánh giá sớm tăng áp động mạch

phổi ở bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud để tiên lượng và tầm soát các

biến chứng của nó. Vì ngồi tăng áp động mạch phổi thì suy tim phải cũng là

một trong những những nguyên nhân tử vong ở bệnh nhân SLE. Suy tim phải

lâu dần sẽ tiến triển thành suy tim trái và suy tim toàn bộ. Một nghiên cứu

năm 2001 của Lin Jun và cộng sự cũng cho thấy trong 11 bệnh nhân SLE có



69



hội chứng Raynaud và tăng áp động mạch phổi có 3 bệnh nhân tử vong, một

trong số đó là do suy tim thứ phát [60].

Có 5 bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có huyết áp thấp, nhiều

hơn so với bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Các đặc điểm như

suy tim trái, tràn dịch màng ngoài tim, rối loạn nhịp tim khơng có sự khác biệt

giữa hai nhóm. Điều này cho thấy hội chứng Raynaud hầu như tác động ưu

thế đến tuần hoàn phổi, gây co động mạch phổi [27], [61]. Lý do tại sao thì

chúng tơi chưa rõ, có lẽ cần nhiều hơn các nghiên cứu về mặt phân tử, giải

phẫu để có thể lý giải được vấn đề này.

4.2.7. Các nhóm thuốc điều trị hội chứng Raynaud ở bệnh nhân SLE.

Dựa trên cơ chế bệnh sinh, các thuốc điều trị hội chứng Raynaud đều

hướng đến đích cuối cùng là gây giãn mạch. Chẹn kênh calci là nhóm thuốc

được khuyến cáo đầu tiên cho các trường hợp hội chứng Rayanud nhẹ hoặc

trung bình. Nó có hiệu quả giảm 33% - 66% tần số và mức độ trầm trọng của

các đợt tấn công. Những thuốc khác như chẹn alpha -1 adrenegic, ức chế

enzyme vận chuyển angiotensin, ức chế receptor angiotensin II, ức chế

phosphodiesterase - 5, dẫn xuất prostaglandin, ức chế endothelin – 1… được

khuyến cáo trong các trường hợp nặng, không đáp ứng với chẹn kênh calci [62],

[63]. Trong nghiên cứu của mình, chúng tơi cũng nhận thấy chẹn kênh calci cũng

là thuốc điều trị phổ biến nhất cho hội chứng Raynaud ở bệnh nhân SLE, sau đó

là thuốc ức chế phosphodiesterase - 5,… Có thể nói hiệu quả tốt, giá thành rẻ

cũng là một lợi thế để chẹn kênh calci được khuyến cáo là thuốc điều trị đầu tay

cho hội chứng Raynaud. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của chúng tơi cũng cho

thấy có đến 37.5% bệnh nhân không được điều trị hội chứng Raynaud. Điều này

chứng tỏ hội chứng Raynaud chưa thực sự được quan tâm đến ở những bệnh

nhân SLE. Vì những thuốc điều trị hội chứng Raynaud cũng là những thuốc điều

trị tăng áp động mạch phổi. Có thể nhiều bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud



70



khơng những khơng được điều trị hội chứng Raynaud mà còn bỏ qua việc sàng

lọc, đánh giá tăng áp động mạch phổi.

4.2.8. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud

Trong nhóm bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud, chúng tơi ghi nhận

có 1 trường hợp tử vong vì ngừng tuần hồn đột ngột. Đó cũng là trường hợp

bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có áp lực động mạch phổi cao nhất

(101 mmHg). Ngược lại, 100% bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud

ổn định và ra viện. Ngoài 2 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân

SLE là nhiễm trùng và tổn thương thận thì tăng áp động mạch phổi cũng là

một nguyên nhân không thể không nhắc tới [64]. Thực tế, đã có rất nhiều báo

cáo về tỷ lệ tử vong cao hơn ở nhóm bệnh nhân SLE có tăng áp động mạch

phổi. Theo tác giả Kim, WU Min và cộng sự năm 1999, tăng áp động mạch

phổi là nguyên nhân tử vong thứ ba ở bệnh nhân SLE ở Hàn Quốc [9]. Một

nghiên cứu thuần tập hồi cứu của nhóm tác giả Son – Mi Lee và cộng sự năm

2006 báo cáo tỷ lệ sống sau 3 năm của bệnh nhân SLE có tăng áp động mạch

phổi là 44.9 % và sau 5 năm là 16.8% [10]. Tăng áp động mạch phổi có thể

xuất hiện tại thời điểm chẩn đốn hoặc trong q trình bị bệnh. Nó cũng có thể

tiến triển tăng lên mặc dù được điều trị. Tử vong thường xảy ra trong hai năm

đầu chẩn đoán tăng áp động mạch phổi. Nguyên nhân tử vong thường thấy ở

đây thường là suy tim tiến triển, rối loạn nhịp tim và ngừng tim đột ngột [65].

Điều này 1 lần nữa khẳng định chúng ta không những cần sàng lọc sớm tăng áp

động mạch phổi ở những bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud mà còn phải

đánh giá mức độ tăng áp động mạch phổi để thể tiên lượng và có biện pháp

điều trị kịp thời. Như đã trình bày ở trên, tăng áp động mạch phổi có thể vẫn

tiến triển mặc dù được điều trị. Trong nghiên cứu của chúng tơi có đến 37.5%

bệnh nhân SLE khơng được điều trị hội chứng Raynaud. Có thể nói với những

gì chúng tơi đã trình bày ở trên thì đây là một con số đáng báo động.



71



KẾT LUẬN

 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud.

- Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud tập chung chủ yếu ở độ tuổi từ 18 - 49.

- Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud 100% đều là nữ giới.

- Những bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud chủ yếu là nơng dân và kinh

doanh tự do.

- Khơng có sự khác biệt về tuổi, giới, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh trung

bình giữa 2 nhóm bệnh nhân SLE có và khơng có hội chứng Raynaud.

- Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud vào viện chủ yếu vì: khó thở, đau

ngực, tím đầu chi và đau buốt đầu chi.

- 3.1% bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud phải cắt cụt đầu chi vì hoại tử

ngón tay.

- Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tỷ lệ viêm cầu thận và lượng

protein niệu 24 giờ thấp hơn so với nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng

Raynaud.

- Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tỷ lệ đau ngực, khó thở, tổn thương

phổi kẽ nhiều hơn so với bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud.

- Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có nồng độ bổ thể C3 cao hơn và mức

độ hoạt động của bệnh nhẹ hơn so với bệnh nhân SLE khơng có hội chứng

Raynaud.



 Mối liên quan giữa hội chứng Raynaud và tăng áp động mạch phổi ở

bệnh nhân SLE.

- Thời gian xuất hiện hội chứng Raynaud phần lớn là trên 1 năm. Thời gian

trung bình xuất hiện hội chứng Raynaud là khoảng 61 tháng.



72



- Hội chứng Raynaud thường đến trước hoặc cùng thời điểm chẩn đoán SLE.

Thời gian trung bình mắc hội chứng Raynaud trước khi chẩn đốn SLE là

khoảng 28 tháng.

- Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có áp lực động mạch phổi trung bình

là 48 mmHg, cao hơn nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud.

- Nguy cơ tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud

cao gấp 5.846 lần so với bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud,

khoảng tin cậy 95% là [1.871; 18.267].

- Hơn 50% bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tăng áp động mạch phổi > 50

mmHg, khác biệt so với nhóm khơng có hội chứng Raynaud.

- Khơng có mối tương quan giữa thời gian mắc hội chứng Raynaud và tăng áp

động mạch phổi.

- Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tỷ lệ suy tim phải nhiều hơn so với

bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud.

- Chẹn kênh calci là nhóm thuốc điều trị phổ biến nhất hội chứng Raynaud ở

bệnh nhân SLE. Có đến 37.5% bệnh nhân khơng được điều trị hội chứng

Raynaud.

- Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân SLE có hội chứng Ryanud liên quan đến tăng áp

động mạch phổi



KIẾN NGHỊ



Từ những kết quả và bàn luận trên, chúng tơi đễ xuất kiến nghị:

• Với bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud cần xem xét sàng lọc sớm

tăng áp động mạch phổi để chẩn đoán xác định sớm mức độ tăng áp

động mạch phổi và điều trị kịp thời.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sự giảm nồng độ bổ thể C3 thường đi trước và liên quan đến mức độ đợt cấp của bệnh SLE, đặc biệt là tổn thương thận SLE [40]. Trong kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi cũng ghi nhận: Nồng độ bổ thể C3 của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud cao hơn so v

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×