Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hệ số tương quan

Hệ số tương quan

Tải bản đầy đủ - 0trang

52



Biểu đồ 3.7. Mối liên quan giữa thời gian xuất hiện Raynaud và áp lưc

động mạch phổi.

Nhận xét:

Khơng có mối tương quan giữa thời gian mắc hội chứng Raynaud và

tăng áp động mạch phổi (p = 0.356).

3.2.7. Tổn thương tim mạch của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Bảng 3.17. Tổn thương tim mạch của bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud

Nhóm bệnh



Nhóm chứng



n



%



n



%



Huyết áp cao



7



21.9



7



23.3



2



Huyết áp thấp



5



15.6



0



0



3



Suy tim phải



14



43.8



0



0



0.00



4



Suy tim trái



0



0



2



6.7



0.23



4



Tràn dịch màng

ngoài tim



12



37.5



9



30



0.53



5



Rối loạn nhịp tim



1



3.2



0



0



1.00



STT



Đặc điểm



1



p



0.08



53



Nhận xét:

Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tỷ lệ suy tim phải nhiều hơn

so với bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud, sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p = 0.00. Có 5 bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có huyết

áp thấp và 1 bệnh nhân có rối loạn nhịp tim. Các đặc điểm suy tim trái, tràn

dịch màng ngồi tim, rối loạn nhịp tim khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm.

3.2.8. Các nhóm thuốc điều trị hội chứng Raynaud ở bệnh nhân SLE

Biểu đồ 3.8. Nhóm thuốc điều trị hội chứng Raynaud

Nhận xét:

Chẹn kênh calci là nhóm thuốc điều trị phổ biến nhất hội chứng

Raynaud ở bệnh nhân SLE, sau đó là thuốc ức chế phosphodiesterase,…Có

đến 37.5% bệnh nhân khơng được điều trị hội chứng Raynaud.



54



3.2.9. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Bảng 3.18. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Nhóm bệnh



Nhóm chứng



n



%



n



%



Ổn định, ra viện



31



97



30



100



Tử vong



1



3



0



0



Kết quả



p

0.329



Nhận xét:

Có 1 bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud tử vong. Ngược lại, bệnh

nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud 100% ổn định, ra viện.



55



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud.

4.1.1. Tuổi của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ 18 - 49 tuổi, chiếm tỷ lệ 87.5%, tuổi

trung bình của bệnh nhân là 36 tuổi. Khơng có sự khác biệt về nhóm tuổi

cũng như tuổi trung bình giữa hai nhóm bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud và khơng có hội chứng Raynaud với p lần lượt là 0.281 và 0.505 (>

0.05). Kết quả này của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của Xia

năm 2013 và Flavia Emilie Heimovski và cộng sự năm 2015, tuổi trung bình

của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud lần lượt là 35.5 tuổi và 33 tuổi.

Các tác giả cũng nghi nhận cũng khơng có sự khác biệt về tuổi trung bình

giữa hai nhóm bệnh nhân SLE có và khơng có hội chứng Raynaud [7], [37].

Điều này cũng hồn tồn phù hợp với bệnh sinh của SLE. SLE chủ yếu xảy ra

ở trong độ tuổi sinh đẻ [40]. Y học ngày càng phát triển, tuổi thọ của những

bệnh nhân SLE ngày càng cao hơn nên ta cũng gặp nhiều bệnh nhân SLE ở

nhóm tuổi > 50 tuổi. Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud > 50 tuổi trong

nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỷ lệ 12.5%. Chúng tôi cũng ghi nhận khơng

có bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud nào < 18 tuổi. Điều này có thể do

Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai hầu hết khám

và điều trị nội trú cho các bệnh nhân người lớn, các đối tượng trẻ em nếu có

sẽ được khám điều trị tại chuyên khoa nhi.

4.1.2. Giới của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

SLE là bệnh chủ yếu ở xảy ra nữ giới, tỷ lệ nữ/nam khoảng từ 9 – 15/1,

tùy từng nghiên cứu [41]. Người ta thấy rằng phụ nữ thường có đáp ứng miễn



56



dịch mạnh hơn nam giới [42]. Estrogen liên quan với việc giảm khả năng gây

độc tế bào của tế bào NK, ức chế sự phát triển của dòng tế bào T kiểm sốt

lympho bào B làm tăng sinh dòng tế bào lympho B và sản xuất kháng thể

kháng Ds-DNA [43], [44], [45]. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với kết quả

nghiên cứu của chúng tơi. Trong nghiên cứu của mình, chúng tơi ghi nhận

100% bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud đều là nữ giới và khơng có sự

khác biệt về tỷ lệ nam/nữ giữa 2 nhóm bệnh nhân SLE có và khơng có hội

chứng Raynaud. Kết quả này của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả của

nhiều nghiên cứu khác. SLE là bệnh gặp chủ yếu ở nữ giới [34], [37], [40].

Tuy nhiên, có một khác biệt nhỏ trong nghiên cứu của chúng tơi 100% bệnh

nhân SLE có hội chứng Raynaud đều là nữ. Điều này có thể là do cỡ mẫu của

chúng tôi chưa đủ lớn.

4.1.3. Nghề nghiệp của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Hội chứng Raynaud thường biểu hiện khi tiếp xúc với lạnh,… Do đó

nghề nghiệp là một trong các yếu tố tác động đến mức độ trầm trọng của hội

chứng Raynaud ở bệnh nhân SLE. Mặc dù trong nghiên cứu của mình, ở

nhóm bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud chúng tơi khơng ghi nhận được

bệnh nhân làm các nghề tiếp xúc với lạnh như công nhân trong các nhà máy

đông lạnh, sản xuất kem, đá… Nhưng nghề nghiệp chủ yếu của họ là nông

dân và kinh doanh tự do, chiếm tỷ lệ lần lượt là 34% và 25%. Có thể khơng

phải thường xun tiếp xúc với lạnh như các nghề nghiệp kể trên nhưng điều

kiện lao động cũng như khả năng bảo hộ lao động của nông dân và kinh

doanh tự do cũng khơng hồn tồn đảm bảo nên cũng là một phần tác động

đến mức độ trầm trọng của hội chứng Raynaud ở những bệnh nhân SLE.

Chúng tôi cũng ghi nhận không có sự khác biệt về nghề nghiệp của

những bệnh nhân SLE có và khơng có hội chứng Raynaud với p = 0.865 (p >

0.05). Có thể vì Việt Nam vẫn là là một đất nước đang phát triển, nông nghiệp



57



và kinh doanh nhỏ lẻ vẫn là nguồn thu nhập chính của những người dân nên

SLE vẫn chủ yếu gặp ở nông dân và kinh doanh tự do.

4.1.4. Số ngày nằm viện trung bình của bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số ngày nằm viện trung bình

của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud là khoảng 19 ngày, dài hơn 2 ngày

so với số ngày nằm viện của bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud.

Điều này có thể phần nào cho thấy bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có

thể liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh, kéo dài thời gian nằm viện của

bệnh nhân hơn. Thời gian nằm viện kéo dài hơn sẽ gây nhiều thiệt hại cho

bệnh nhân. Với bản thân bệnh nhân, làm tăng chi phí nằm viện, kéo dài sự

mệt mỏi do phải nằm điều trị dài ngày và mất đi khoản thu nhập nhiều hơn do

phải nghỉ việc trong thời gian nằm viện, quan trọng hơn thời gian nằm viện

dài hơn sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng chéo từ các bệnh nhân khác trong

bệnh viện. Ngoài ra, mỗi bệnh nhân nằm viện sẽ kèm theo ít nhất một người

nhà chăm sóc. Chi phí cho việc ăn ở, đi lại và khơng có thu nhập trong khi

nghỉ việc sẽ tăng lên gấp đôi.

4.1.5. Thời gian mắc bệnh của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có thời gian mắc bệnh trung

bình là 46 tháng, số tháng mắc bệnh thấp nhất là 0 tháng, số tháng mắc bệnh

nhiều nhất là 156 tháng, khơng có sự khác biệt về thời gian mắc bệnh trung

bình giữa 2 nhóm bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud và khơng có

Raynaud với P = 0.96 (> 0.05). Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi tương

tự như kết quả nghiên cứu của Flavia Emilie Heimovski và cộng sự năm

2015, thời gian bị bệnh của nhóm bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud là 48

tháng và cũng khơng có sự khác biệt so với nhóm bệnh nhân SLE khơng có

hội chứng Raynaud (p = 0.49) [37].



58



4.1.6. Tiền sử gia đình

Trong nghiên cứu của mình, chúng tơi nhận thấy khơng có sự khác biệt

về tiền sử mắc SLE và các bệnh tự miễn khác giữa hai nhóm bệnh nhân SLE

có và khơng có hội chứng Raynaud. Có 2 bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud có tiền sử gia đình mắc SLE, chiếm 6.2%. Điều này là phù hợp với

bệnh sinh của SLE. SLE là bệnh lý hệ thống có tính chất gia đình. Theo tác

giả Yun Deng và cộng sự 2010, nguy cơ mắc SLE ở người có anh chị em ruột

bị bệnh cao gấp 8 lần so với dân số chung và nguy cơ này là 10 lần trong

trường hợp cặp song sinh cùng trứng. Trong một nghiên cứu khác, người ta

thấy SLE xảy ra ở cả hai đứa trẻ trong 24% cặp song sinh cùng trứng và 2%

cặp song sinh khác trứng [15], [16].

Nghiên cứu của chúng tơi cũng ghi nhận có 1 bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud có em gái bị hội chứng Raynaud. Mặc dù số liệu này chưa đủ thuyết

phục vì có thể cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ lớn nhưng nó cũng là 1 gợi ý.

Liệu hội chứng Raynaud có tính di truyền hay khơng? Trong nghiên cứu của

mình Tan, Filemon K và cộng sự, năm 2000 đã chỉ ra rằng có một sự phù hợp

đáng kể về bệnh Raynaud ở những cặp song sinh cùng trứng [46].

4.1.7. Lý do vào viện.

Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud trong nghiên cứu của chúng tơi

vào viện chủ yếu vì: khó thở, đau ngực, tím đầu chi, đau buốt đầu chi… Trong

đó, khó thở là triệu chứng phổ biến nhất, chiếm 55% và có sự khác biệt so với

nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Về lý thuyết, khó thở là

triệu chứng cơ năng do tổn thương hệ hô hấp hoặc hệ tim mạch. Có thể những

bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tổn thương hai hệ cơ quan này

nhiều hơn so với nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Ngồi

ra, bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud vào viện vì tím và đau buốt đầu chi

nhiều hơn so với nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Sự



59



khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0.000. Tím và đau buốt đầu chi là

những triệu chứng phổ biến và điển hình của hội chứng Raynaud. Điều này

cũng chứng tỏ hội chứng Raynaud ảnh hưởng một cách đáng kể đến chất

lượng cuộc sống của những bệnh nhân SLE. Những khó chịu và phiền tối do

hội chứng Raynaud buộc họ phải vào viện. Đó cũng là một nguyên nhân làm

tăng chi phí điều trị bệnh ở những bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

4.1.8. Triệu chứng toàn thân, da, cơ, xương khớp của đối tượng nghiên cứu.

Các triệu chứng lâm sàng phổ biến của bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud là sốt, ban đỏ, nhạy cảm ánh sáng, đau khớp, rụng tóc…Khơng có

sự khác biệt về các triệu chứng toàn thân, da, cơ, xương, khớp giữa 2 nhóm

bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud và khơng có hội chứng Raynaud. Đây

là những triệu chứng điển hình, có trong tiêu chuẩn chẩn đốn SLE. Điều này

cũng phù hợp với kết quả của những thống kê trước đó. Sốt, đau khớp, ban đỏ

là những triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất ở bệnh nhân SLE, chiếm tỷ lệ

lần lượt là 84%, 92% và 57% [47]. Fries và Holman năm 1975, Flavia Emilie

Heimovski và cộng sự năm 2015 cũng chỉ ra rằng khơng có sự khác biệt về

các đặc điểm lâm sàng ban đỏ, nhạy cảm ánh sáng, đau cơ, đau khớp giữa

nhóm bệnh nhân SLE có và khơng có hội chứng Raynaud [37], [48].

4.1.9. Tỷ lệ cắt cụt đầu chi ở bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud

Nghiên cứu của chúng tơi có 3 bệnh nhân bị hoại tử đầu chi. Trong đó,

có 1 bệnh nhân phải cắt cụt đầu chi vì hoại tử ngón tay, chiếm tỷ lệ 3%. Đó là

bệnh nhân nữ 39 tuổi, làm nơng nghiệp, SLE 10 tháng nay, vào viện vì tím,

hoại tử đầu ngón tay. Sau hơn một tháng điều trị, tình trạng hoại tử không

khỏi, bắt buộc bệnh nhân phải cắt đốt xa ngón giữa tay trái. Con số 3% có thể

khơng lớn nhưng nó cũng là một vấn đề đáng lưu ý. Cắt cụt đầu chi, đồng

nghĩa với việc bệnh nhân mất đi tính linh hoạt của bàn chân, bàn tay trong

sinh hoạt và cuộc sống hằng ngày. Bệnh nhân không thể làm được những



60



công việc cần sự tỷ mỉ, khéo léo. Thậm trí, nhiều bệnh nhân bị mất cơng việc.

Bệnh tật cộng với khơng có cơng việc, cuộc sống hoàn toàn bị phụ thuộc vào

người khác là một áp lực lớn cho chính bệnh nhân cũng như gia đình của họ.

Không giống như hội chứng Raynaud tiên phát hiếm khi có hoại tử đầu chi,

hội chứng Raynaud thứ phát có tỷ lệ hoại tử đầu chi lớn hơn, thậm trí nhiều

bệnh nhân phải cắt cụt [49]. Trong một báo cáo của Yayoi Nagai và cộng sự

năm 2009 về hoại tử đầu chi ở bệnh nhân SLE: Trong số ba bệnh nhân SLE

hoại tử đầu chi có 2 bệnh nhân có hội chứng Raynaud [50].



Hình 4.1. Hoại tử đầu chi ở bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

4.1.10. Tổn thương huyết học học của bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud.

Thiếu máu là tổn thương huyết học hay gặp nhất ở nhóm bệnh nhân

SLE có hội chứng Raynaud, chiếm 63.6%. Tuy nhiên, so với nhóm bệnh nhân

SLE khơng có hội chứng Raynaud thì tỷ lệ bệnh nhân thiếu máu này vẫn thấp

hơn (80%). Mức độ thiếu máu của nhóm bệnh nhân SLE có hội chứng

Raynaud cũng nhẹ hơn so với nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng

Raynuad. Biểu hiện bằng nồng độ HGB trung bình của nhóm bệnh nhân SLE

có hội chứng Raynaud là 109 G/l (so với nhóm chứng khoảng 97 G/l). Kết

quả này của chúng tôi cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Jacob Dimant



61



1979 và Flavia Emilie Heimovski và cộng sự năm 2015. Bệnh nhân SLE có

hội chứng Raynaud có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn so với bệnh nhân SLE khơng

có hội chứng Raynaud [34], [37]. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu trên, thiếu

máu là tổn thương huyết học chiếm tỷ lệ thấp hơn so với các tổn thương khác

như giảm tiểu cầu, bạch cầu. Lý do ở đây là các nghiên cứu trên chỉ tính

những bệnh nhân thiếu máu tan máu, ngược lại trong nghiên cứu của chúng

tôi, chúng tôi ghi nhận tất cả các bệnh nhân thiếu máu (có thể là thiếu máu tan

máu, thiếu máu thiếu sắt…).

Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có tỷ lệ giảm bạch cầu thấp hơn

so với nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê với p = 0.013 (< 0.05). Điểu này có thể do, bệnh nhân

SLE khơng có hội chứng Raynaud trong nghiên cứu của chúng tơi có tổn

thương thận nhiểu hơn so với nhóm SLE có hội chứng Raynaud, do đó việc

sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch là nhiều hơn. Các thuốc ức chế miễn dịch

điều trị phổ biến trong tổn thương thận SLE là endoxan, cellcept,

azathiopril… đều là những thuốc có thể có tác dụng phụ làm giảm bạch cầu

máu [40].

4.1.11. Tổn thương thận của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: Bệnh nhân SLE có hội

chứng Raynaud có tỷ lệ viêm cầu thận và lượng protein niệu 24 giờ thấp hơn

so với nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê với p lần lượt là 0.000 và 0.01 (< 0.05). Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi tương tự như kết quả của các nghiên cứu của Jacob Dimant

1997 và Flavia Emilie Heimovski và cộng sự năm 2015. Trong nghiên cứu

của mình Flavia Emilie Heimovski và cộng sự đã chỉ ra rằng có 53.6% bệnh

nhân viêm cầu thận ở nhóm SLE khơng có hội chứng Raynaud so với 35.5%

bệnh nhân viêm cầu thận ở nhóm SLE có hội chứng Raynaud với mức ý nghĩa



62



thống kê p = 0.0004 [37]. Chúng tôi cũng ghi nhận bệnh nhân SLE có hội

chứng Raynaud có tỷ lệ hội chứng thận hư và suy thận ít hơn so với nhóm

bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Tuy nhiên, sự khác biệt này là

khơng có ý nhĩa thống kê với p lần lượt là 0.077 và 0.249. Điều này có thể do

cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ lớn. Đồng thời bệnh nhân SLE trong nghiên

cứu của chúng tôi phần lớn là những người trẻ tuổi (tuổi trung bình khoảng 36

– 37 tuổi) và thời gian mắc bệnh trung bình khoảng 45 tháng nên tỷ lệ bệnh

nhân viêm cầu thận dẫn đến suy thận là ít.

4.1.12. Tổn thương hơ hấp của bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud.

Trong nghiên cứu của mình, chúng tơi ghi nhận: Bệnh nhân SLE có hội

chứng Raynaud có tỷ lệ đau ngực, khó thở nhiều hơn so với bệnh nhân SLE

khơng có hội chứng Raynaud. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p lần lượt

là 0.011 và 0.002 (< 0.05). Như chúng tôi đã giải thích ở trên, có thể bệnh

nhân SLE có hội chứng Raynaud có tổn thương hơ hấp, tim mạch nhiều hơn

so với nhóm bệnh nhân SLE khơng có hội chứng Raynaud. Thật vậy, Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: Bệnh nhân SLE có hội chứng Raynaud có

tổn thương phổi kẽ nhiều hơn so với bệnh nhân SLE không có hội chứng

Raynaud với p = 0.027 (< 0.05). Điều này được giải thích bởi cơ chế bệnh

sinh của hội chứng Raynaud là co mạch máu phổi. Co mạch sẽ dẫn đến giảm

độ bão hòa oxy và tăng biểu hiện của những yếu tố gây giảm oxy máu. Kết

quả là đẩy mạnh sự tăng sinh tế bào cơ trơn và tái cấu trúc mạch máu quá

mức [51]. Cuối cùng làm thay đổi cấu trúc không thể đảo ngược của mạch

máu phổi. Tổn thương phổi kẽ ở đây, bản chất là tổn thương mạch máu phổi

[8]. Các nguyên nhân khác của tổn thương phổi kẽ như hút thuốc lá, hít phải

các chất vô cơ như silic… lao phổi chúng tôi không ghi nhận được ở nhóm

đối tượng nghiên cứu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hệ số tương quan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×