Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.7 Tần suất xuất hiện đau

Bảng 3.7 Tần suất xuất hiện đau

Tải bản đầy đủ - 0trang

46



Khơng thường xun



13



33,3



Tổng



39



100



Nhận xét:

- Sớ bệnh nhân thường xun có than phiền đau chiếm tỷ lệ là 66,7%, có

33,3% sớ bệnh nhân có than phiền đau khơng thường xun



3.2.7. Cường độ đau theo thang điểm đau VAS

Bảng 3.8. Cường độ đau theo thang lượng giá đau VAS

Điểm số

1-3 điểm ( đau nhẹ)

4-7 điểm (đau TB)

8-10 điểm (đau nặng)

Tổng

± SD



n

0

29

10

39



Tỷ lệ %

0

74,4

25,6

100

6,59 ± 1,41



Nhận xét:

- Theo thang lượng giá đau VAS, tất cả các bệnh nhân có biểu hiện đau

với cường đợ đau từ mức trung bình trở lên, trong đó số bệnh nhân biểu

hiện đau mức độ trung bình chiếm tỷ lệ 74,4%, và sớ bệnh nhân có biểu

hiện đau nặng chiếm 25,6%.

3.2.8. Tính chất đối xứng

Bảng 3.9. Tính chất đối xứng



Khơng

Tổng

Nhận xét:



n

30

9

39



Tỷ lệ %

76,9

23,1

100



47



- Có 76,9% sớ bệnh nhân than phiền đau với tính chất đối xứng 2 bên cơ thể,

đau không đối xứng gặp ở 23,1% số bệnh nhân



3.2.9. Thời gian tồn tại của triệu chứng

Biểu đồ 3.7. Thời gian của triệu chứng đau

Nhận xét:

- Đa số các bệnh nhân có thời gian đau trên 2 năm, chiếm 59% sớ bệnh nhân

- Sớ bệnh nhân có thời gian đau từ 6 tháng đến 2 năm chiếm tỷ lệ 38,5%

- Có rất ít bệnh nhân có thời gian đau dưới 6 tháng, chiếm tỷ lệ 2,6%

3.2.10. Đánh giá đau theo sơ đồ đau

Bảng 3.10. Đánh giá đau theo sơ đồ đau

Số điểm



n

24

4



Tỷ lệ %

61,5

10,3

684,3 ± 225,5



≥ 779,5

≤ 457,5%

X ± SD

Nhận xét:

- Có 24 bệnh nhân có sớ điểm sơ đồ đau ≥ 779,5, chiếm tỷ lệ 61,5%,

- Còn lại, có 4 bệnh nhân có sớ điểm sơ đồ đau ≤ 457,5, chiếm 10,3%

3.2.11. Liên quan đau với giấc ngủ

Bảng 3.11. Liên quan đau với giấc ngủ



Khơng

Tổng

Nhận xét:



n

31

8

39



Tỷ lệ %

79,5

20,5

100



48



- Đau liên quan với giấc ngủ gặp ở 66,7% số bệnh nhân

- Có 20,5% sớ bệnh nhân có đau khơng liên quan với giấc ngủ

3.2.12. Điều trị hóa dược

Bảng 3.12. Điều trị hóa dược

Nhóm thuốc



n

12

17

6

4

39



%

30,8

43,6

15,4

10,3

100%



CTC

CTC+ATK

CTC+ATK+ BT

CTC+BT

Tổng

Nhận xét:

- Tất cả các bệnh nhân đều được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm

- Có 12 bệnh nhân dùng đơn trị liệu chớng trầm cảm, chiếm tỷ lệ là

30,8%

- Số bệnh nhân dùng phối hợp chống trầm cảm và an thần kinh là 17,

chiếm 43,6% sớ bệnh nhân

- Có 6 bệnh nhân dùng phối hợp chống trầm cảm, an thần kinh, và thuốc

bình thần, chiếm tỷ lệ 15,4%

- Chỉ có 4 bệnh nhân dùng chống trầm cảm và thuốc bình thần, chiếm tỷ

lệ 10,3%

3.2.13. Đáp ứng với điều trị chuyên khoa cơ thể

Bảng 3.12. Đáp ứng với điều trị chuyên khoa cơ thể

n



Tỷ lệ %



Có đáp ứng mợt phần



13



33,3



Khơng đáp ứng



26



66,7



Tổng



39



100



Nhận xét:

- Có 13 bệnh nhân có đáp ứng mợt phần với các chuyên khoa khác

- 26 bệnh nhân không đáp ứng điều trị ở chuyên khoa khác



49



3.2.14. Thời gian nằm viện

Bảng 3.14. Thời gian nằm viện

Ngắn nhất



7



Lâu nhất



48



X ± SD



18,15± 9,1



Nhận xét:

- Bệnh nhân phải chi trả thấp nhất để điều trị là 10 triệu

- Chi phí lớn nhất là 150 triệu

- Trung bình bệnh nhân phải chi trả là 39,54 ± 28,52



3.2.15. Chi phí

Bảng 3.14. Chi phí

Thấp nhất

Lớn nhất

X ± SD



10

150

39,54 ± 28,52



Nhận xét:

- Bệnh nhân phải chi trả thấp nhất để điều trị là 10 triệu

- Chi phí lớn nhất là 150 triệu

- Trung bình bệnh nhân phải chi trả là 39,54 ± 28,52



50



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Phân bố theo nhóm tuổi và tuổi khởi phát

 Phân bố theo nhóm tuổi

Theo Bảng 3.1 tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 44,69 ± 13,89,

trong đó lứa tuổi hay gặp nhất là từ 50 tuổi trở lên, chiếm 43,6%. Lứa tuổi từ

18 đến 29 tuổi, từ 30-39 tuổi, từ 40 đến 49 chiếm tỷ lệ lần lượt là 17,9%,

17,9%, 20,5%, 43,6%. Nhóm tuổi trẻ ít gặp: nhóm dưới 18 tuổi khơng có

bệnh nhân nào. Trần Hữu Bình khi nghiên cứu về RLCTH cũng thấy các rối

loạn này hay gặp nhất ở lứa tuổi 31 – 40 [43]. Trong nghiên cứu của tác giả

Hà An chỉ ra lứa tuổi từ 30-39 hay gặp nhất chiếm 40% [42]. Theo DSM IV

thì rới loạn cơ thể hóa ít gặp ở trẻ nhỏ, tuy nhiên cũng có mợt số nghiên cứu

RLCTH trên trẻ cho thấy tỷ lệ gặp ở trẻ khá thay đổi. Ví dụ, trong nghiên cứu



51



ở trẻ nhỏ và tuổi vị thành niên của Garber và cộng sự chỉ ra tỷ lệ gặp RLCTH

ở trẻ nhỏ là 1% [44]. Ewa Emich-Widera nhận định tỷ lệ RLCTH ở trẻ em và

tuổi thanh thiếu niên là 10-15% [45]. Edward Shorter nghiên cứu cho thấy

bệnh nhân RLCTH có đợ tuổi từ 15 đến 68 tuổi, và tuổi trung bình là 41,7

[46]. Marvin Swartz và cộng sự nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc RLCTH ở các

nhóm tuổi 18-30, 31-50, 51-70, và từ 71 tuổi lần lượt là 33,7%, 32,9%,

25,7%, 7,7%, 2,1% [14]. Marvin Swartz,

Như vậy, kết quả các nghiên cứu đều cho thấy hầu hết các bệnh nhân

trong độ tuổi lao đợng, cho nên tình trạng bệnh này có thể gây tổn thất về kinh

tế cho gia đình cho các bệnh nhân nói riêng và ngành y tế nói chung.



 Đặc điểm về tuổi khởi phát

Trong kết quả của chúng tôi, tuổi khởi phát trung bình của các bệnh

nhân là 41,13 ±14,25, đa sớ các bệnh nhân có tuổi khởi phát sau 30 tuổi chiếm

67,3%. Điều này khác với các nghiên cứu của các tác giả khác.

Tác giả Hà An (2006) nghiên cứu cho thấy đa số các bệnh nhân khởi

phát bệnh khi gần 30 tuổi (nhóm 26 – 30 tuổi có 31 bệnh nhân, chiếm 77,5%)

[42]. Theo Kaplan và Sadock, RLCTH khởi phát trước tuổi 30 và thường bắt

đầu ở tuổi vị thành niên [16]. Tác giả W. Curt La France chỉ ra triệu chứng

đầu tiên của RLCTH thường xuất hiện ở tuổi vị thành niên, và các bệnh nhân

đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán ở trước tuổi 25 tuổi.

Trong sách “Clinical Environmental Health and Toxic Exposures”,

John Burke Sullivan cho rằng, RLCTH cũng giống như rối loạn stress sau

sang chấn thường có tỷ lệ cao kết hợp với các sang chấn tâm lý thời thơ ấu

như bị lạm dụng. Tác giả cũng chỉ ra các bệnh nhân khởi phát triệu chứng

RLCTH sau 30 tuổi có tiền sử thể chất và tâm thần lúc nhỏ tốt và các triệu

chứng xuất hiện sau khi họ sống ở trong mơi trường có ơ nhiễm [47].



52



A.M Obimakinde nghiên cứu cho thấy tuổi khởi phát trung bình của

RLCTH là 38,2±1,4, tuổi khởi phát trẻ nhất là 17, khởi phát trước 35 tuổi

chiếm 48,4% trong khi đó tuổi khởi phát sau tuổi 35 chiếm 51,7% [48]

4.1.1. Phân bố về giới tính

Kết quả nghiên cứu từ Biểu đồ 3.1 cho thấy trong tổng số 39 bệnh nhân đáp

ứng tiêu chuẩn bệnh nhân nghiên cứu, số bệnh nhân nữ là 24, chiếm tỷ lệ 62%, số

bệnh nhân nam là 15, chiếm tỷ lệ 38%, tỷ lệ nữ/nam xấp xỉ 1,63/1.

Theo nhiều tác giả trên thế giới trong nước và nước ngoài, RLCTH gặp ở

bệnh nhân nữ nhiều hơn bệnh nhân nam. Kết quả của chúng tôi phù hợp với Wool

và Barsky chỉ ra số bệnh nhân nữ mắc RLCTH cao gấp 1,47 lần nam [49].

Trong nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của 34 bệnh nhân RLCTH, tác giả Hà

An cho kết quả bệnh nhân nữ gấp 7 lần nam [42]. Kaplan và Sadock cũng

cho thấy tỉ lệ mắc RLCTH ở nữ cao gấp 5-20 lần so với ở nam, và tỷ lệ mắc

trong suốt cuộc đời của nữ là 1-2% [50]. Cloninger và cộng sự (1984) nhận

thấy ở 859 phụ nữ Thụy Điển có thấy 3% người mắc RLCTH [18]. Marvin

Swartz và cợng sự nghiên cứu trên bệnh nhân RLCTH cho kết quả tỷ lệ nữ

giới là 54,2% cao hơn tỷ lệ nam giới là 45,8% [14].

Có mợt sớ lý do có thể giải thích tại sao phụ nữ mắc rối loạn RLCTH

nhiều hơn nam giới. Đó là khả năng phụ nữ chịu những yếu tố nguy cơ như

lạm dụng tình dục và thể chất cao hơn gặp khó khăn nhiều hơn trong cuộc

sống, xu hướng tìm kiếm sự quan tâm về y tế cao hơn, khả năng mắc các

RLTT trong đó có biểu hiện triệu chứng cơ thể lớn hơn, và cuối cùng là phụ

nữ quan tâm đến sức khỏe của bản thân nhiều hơn.

4.1.3. Nơi ở và tình trạng hơn nhân

Biểu đồ 3.2 cho biết tỷ lệ bệnh nhân sống vùng nông thôn, miền núi

(71,8%) cao hơn tỷ lệ bệnh nhân sống tại các vùng thành thị (28,2%).

Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của tác giả Hà An

(2006), tác giả cho kết quả số bệnh nhân sống ở nông thôn chiếm đa số với tỷ



53



lệ 77,5%, sớ bệnh nhân sớng ở thành thị chỉ có 22,5% [42]. Ngược lại với kết

quả của chúng tôi, nghiên cứu của Robins Lee cho thấy những người sống ở

vùng thành thị có biểu hiện RLCTH śt đời cao hơn những người sống ở

vùng nông thôn, tuy nhiên mối liên quan này không chặt chẽ [51]. Swartz và

cộng sự nhận thấy một số đặc điểm của bệnh nhân RLCTH là da màu, đợc

thân, ở nơng thơn và có trình đợ văn hoá thấp [20]. Kaplan và Sadock cũng

chỉ ra tỷ lệ RLCTH thường gặp ở những đới tượng có trình đợ văn hóa kém

và thu nhập thấp [16]. Massimiliano Aragona và cộng sự nghiên cứu về ảnh

hưởng của giới tính và tình trạng hơn nhân đến các triệu chứng RLCTH ở

nhóm đối tượng nhập cư từ 4 vùng dân tộc khác nhau (Caucasians, Châu Á,

Trung Mỹ/Nam Mỹ, và Châu Phi) chỉ ra phụ nữ vùng Caucasians và Trung

Mỹ/Nam Mỹ có nguy cơ mắc RLCTH hơn [52]. Hay trong một nghiên cứu

trên đối tượng nhập cư khác của Massimiliano Aragona chỉ ra tỷ lệ RLTCH

cao hơn ở những người đến từ Nam Phi (30,1%) so với nhóm người đến từ

Châu Âu và Châu Á [53]. Trong cùng nghiên cứu này, Massimiliano Aragona

cho thấy người Italian mắc RLCTH cao hơn người di cư Châu Âu, sự khác

biệt này có thể do bệnh nhân Italian sớng trong điều kiện kinh tế xã hợi khó

khăn như thất nghiệp, vô gia cư [53]. Như vậy, các nghiên cứu đều chỉ ra tỷ

lệ mắc RLCTH khác nhau ở mỗi vùng miền khác nhau và thường gặp ở

những nơi có điều kiện kinh tế văn hóa xã hợi thấp kém.

Biểu đồ 3.3 trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa số các bệnh

nhân ở trong tình trạng đã kết hôn chiếm 69,2%, chưa kết hôn chiếm 25,6%,

còn ly thân, li dị và góa bụa chỉ chiếm 2,6%. Qua nghiên cứu dựa trên BSI21- thang điểm đánh giá nguy cơ mắc rới loạn cơ thể hóa ở nhóm nhập cư,

Massimiliano Aragona và cộng sự cho kết quả ở những phụ nữ đã kết hơn có

sớ điểm cao hơn nam giới và những người chưa kết hôn [52]. Lee Robins chỉ

ra, ở cả hai giới đối tượng chưa kết hơn có tỷ lệ mắc RLCTH thấp nhất, tỷ lệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.7 Tần suất xuất hiện đau

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×