Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Sơ đồ đau trong rối loạn dạng cơ thể

b. Sơ đồ đau trong rối loạn dạng cơ thể

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



Đau chức năng dạng cơ

thể



a.

b.

c.

d.

e.

f.

g.

h.

i.

j.



Vành tai

Cơ ức đòn chum

Quanh ổ mắt

Cổ

Viền

Vạch ngang

Vạch dọc

Lan hoa

Điểm đau

Góc vng



Các điểm khơng đặc hiệu



k. Dấu vòng

l. Dấu oval

m. Dấu ngoài rìa

n. Dấu –X

o. Dấu gạch chéo



Sơ đồ 1.3. Sơ đồ đau

Kết quả thu được ≥ 779,5, giá trị này dự đoán đau do rối loạn dạng cơ

thể là 100%, còn khi kết quả ≤ 457,5 thì dự đoán đau do các bệnh cơ thể.

Trong nghiên cứu thuần tập trên bệnh nhân có triệu chứng đau cơ thể thì

phương pháp bản vẽ đau này có thể dự đoán đúng 91,9%.

1.2.2. Những yếu tố liên quan đến đau trong RLCTH

a. Học thuyết gắn kết trong RLCTH

Eva Neumann nghiên cứu trên 202 bệnh nhân ngoại trú đã chỉ ra có

mới liên quan giữa RLCTH và sự gắn kết không đảm bảo [32]. Trong nghiên

cứu của Maunder Md RG ở 292 trẻ cũng chỉ ra RLCTH có liên quan với sự

gắn kết không đảm bảo [29].



30



Thêm nữa, trong một vài nghiên cứu lớn ở những cơ sở chăm sóc y tế

ban đầu chỉ ra có mới tương quan đồng biến giữa số triệu chứng cơ thể với

những trải nghiệm đau buồn, sợ hãi lúc nhỏ, và ở những bệnh nhân có triệu

chứng khơng thể giải thích bằng y học thường có nhiều những trải nghiệm

khơng an toàn hơn những bệnh nhân có triệu chứng thực thể [34], [35].

Bệnh nhân RLCTH, đau lưng mạn tính, và đau cơ nhạy cảm hơn với

kích thích đau, ở họ có sự tăng quá trình xử lý đau trung ương trong vòng thụ

cảm đau- động cơ- cảm xúc, (ACC, insula), và trong vùng điều chỉnh cảm xúc

(mPFC), điều này được thể hiện trên nghiên cứu fMRI. Trong xét nghiệm

chụp PECT, kết quả cho thấy ở bệnh nhân đau trong RLCTH có sự thay đổi

dòng tuần hoàn não [34].

b. Các yếu tố bên trong

• Yếu tố di truyền



Svenn Torgersen nghiên cứu trên 14 cặp trẻ sinh đôi cùng trứng và 21

cặp trẻ sinh đôi khác trứng, tác giả không nghiên cứu cụ thể về RLCTH

nhưng ông chỉ ra tỷ lệ mắc RLDCT ở hai nhóm nghiên cứu lần lượt là 29% và

10%. Tác giả kết luận rằng các sang chấn tâm lý lúc nhỏ có liên quan đến

nguy cơ mắc rới loạn dạng cơ thể (F45) ở các cặp song sinh [36].

Robert Cloninger nghiên cứu về yếu tố gen và môi trường ở bệnh nhân

RLCTH cho biết hoàn cảnh mơi trường sau sinh có ảnh hưởng khơng nhỏ đến

nguy cơ mắc RLCTH[32].

• Hệ thống miễn dịch và chuyển hóa



Mika Hakala và cợng sự nghiên cứu về đặc điểm tính cách với RLCTH

cho thấy chỉ số protein tế bào Clara CC16 và các kháng cytokine tăng cao ở

những bệnh nhân RLCTH. Tác động của môi trường có thể ảnh hưởng đến hệ

thớng miễn dịch cơ thể. Nghiên cứu cho thấy nếu con người đang ở giai đoạn

phát triển thường xuyên tiếp xúc với nguy hiểm có thể kích thích đáp ứng hệ



31



thớng miễn dịch, dẫn đến não sản xuất quá mức cytokines tiền viêm, đây có

thể ́u tớ gây ra triệu chứng đau [37].

Bên cạnh đó, tác giả Mika Hakala cũng tìm thấy ở những bệnh nhân

RLCTH có giảm chuyển hóa glucose ở các nhân đi, nhân putamen trái và

hồi trước trung tâm [37].

• ́u tố nhân cách

Véronique De Gucht chỉ ra rằng cá thể có tính cách khơng ổn định là ́u

tớ dự đoán dễ mắc RLCTH [38]. Trong nghiên cứu của Mika Hakala và cộng

sự nghiên cứu trên 10 phụ nữ RLCTH chỉ ra tính cách né tránh có liên quan

đến mức đợ nặng của RLCTH [37]. Nghiên cứu phân tích tổng hợp của

Robert và cộng sự kết luận nhân cách chống đối xã hội, nhân cách ranh giới,

nhân cách kịch tính thường gặp ở bệnh nhân rới loạn cơ thể hóa hơn các rối

loạn khác [39] .

1.3. Các nghiên cứu về rối loạn cảm giác đau trong RLCTH ở Việt Nam

và nước ngồi.

Trong nghiên cứu của Egloff N và cợng sự, bệnh nhân RLCTH có đợ

tuổi trung bình khoảng 30 tuổi, rới loạn này thường gặp ở nữ giới chiếm

62,9% [31]. Tác giả cũng chỉ ra tính chất đau của RLCTH rất đa dạng, thay

đổi. Cũng trong cùng nghiên cứu 62 bệnh nhân này, kết quả cho thấy vị trí

đau của bệnh nhân rất khác nhau : vị trí đau hay gặp nhất là đau lưng mạn tính

(n=16), đau cơ (n=14), đau ngực mạn (n=11).

Trong nghiên cứu của Kerson B.C Tan và cộng sự về mối liên quan của

rối loạn cơ thể hóa và triệu chứng đau ở 196 bệnh nhân, chỉ ra có mới tương

quan đồng biến giữa đau cơ, và đau khớp với sớ điểm rới loạn cơ thể hóa theo

SCL-90, với lần lượt r=0,41 [40].



32



Tác giả Niklaus Egloff và cộng sự nghiên cứu về sự tăng nhạy cảm và

tăng cảm giác đau ở bệnh nhân rối loạn dạng cơ thể, tác giả chỉ rõ hội chứng

đau chức năng được đặc trưng bởi sự tăng nhạy cảm đau. Kết quả thu được

cho thấy trong 67 bệnh nhân rối loạn dạng cơ thể có 41% sớ bệnh nhân có

đáp ứng tiêu chuẩn hội chứng đau chức năng, và ở những bệnh nhân rới loạn

dạng cơ thể có sự tăng cảm giác đau [31].

Tác giả Edward Shorter nghiên cứu về điều trị nợi trú ở 92 bệnh nhân

rới loạn cơ thể hóa chỉ ra rằng triệu chứng đau là triệu chứng nổi bật chiếm

46% tổng số các triệu chứng, trong các triệu chứng đau thì đau đầu là 27%,

còn lại là các triệu chứng đau ở vị trí khác. Tác giả cho thấy tính chất đau khu

trú chiếm 45%, 19 bệnh nhân có đau ở mợt bên cơ thể, 63% bệnh nhân than

phiền đau ở bên trái cơ thể [24]

Nghiên cứu về bản vẽ đau của Nikalaus Egloff và cộng sự chỉ ra rằng

bệnh nhân RLCTH có tính chất đau đới xứng và có tổng sớ điểm, sớ vùng đau

cao hơn hẳn nhóm khơng có RLCTH [31].

Trong nghiên cứu trên 43 bệnh nhân của Trần Nguyên Ngọc về đau

trong các rối loạn stress chỉ ra 65% trong sớ bệnh nhân RLDCT có tính chất

đau liên tục, và 35 % bệnh nhân có đau từng cơn. Cũng trong nghiên cứu này,

thì 75% bệnh nhân khởi phát đau là từ từ tăng dần, và đau được bệnh nhân mô

tả là cảm giác đau mơ hồ, có tính chất thay đổi. Trong đó, thì 73,2 % bệnh

nhân có cảm giác liên quan đến ́u tớ cảm xúc [41].

Tác giả Trần Thị Hà An nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của rới loạn

cơ thể hóa đã chỉ ra vị trí đau thường gặp là vùng đầu, bụng, khớp. Và triệu

chứng đau này có thuyên giảm khi được điều trị bởi bác sĩ tâm thần [42].



33



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu.

- Nghiên cứu được tiến hành tại: Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện

Bạch Mai.

- Thời gian nghiên cứu : tháng 8/ 2016 đến tháng 9/ 2017

2.2. Đối tượng nghiên cứu.

2.2.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu.

Các bệnh nhân nghiên cứu được chẩn đoán rối loạn cơ thể hóa và có triệu

chứng đau theo tiêu chuẩn ICD - 10F (1992) của Tổ chức Y tế Thế giới.

2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ.

+ Bệnh nhân được chẩn đoán rới loạn dạng cơ thể nhưng có chấn

thương sọ não, có bệnh thực tổn não, nghiện rượu, có trạng thái nhiễm độc ma

tuý hoặc các chất gây nghiện khác.

+ Bệnh nhân có triệu chứng đau trong các bệnh lý thực thể.

+ Bệnh nhân không tự nguyện tham gia nghiên cứu, các bệnh nhân khơng

có người nhà cung cấp tư liệu khách quan về tiền sử và bệnh sử có liên quan.

2.3. Phương pháp nghiên cứu.

2.3.1. Cỡ mẫu.

Cỡ mẫu được tính theo công thức “Ước tính một tỉ lệ trong quần thể”.



n=

Trong đó:

n: là cỡ mẫu nghiên cứu.



34



p: là tỷ lệ bệnh nhân theo nghiên cứu trước (theo nghiên cứu của

Margot W.M. De Waal 2004) là 16,1% [1].



α: ước tính trong nghiên cứu = 0,05 ứng với độ tin cậy là 95%.

Z2(1-α/2) : là hệ số tin cậy = 1,96 (với α = 0,05).

d: độ chính xác mong muốn = 12%

Thay vào tính được n = 37

Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên cỡ mẫu là 39 bệnh nhân

2.3.2. Thiết kế nghiên cứu.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo phương pháp mơ tả lâm sàng cắt

ngang, có tham khảo diễn biến quá trình bệnh tật và các yếu tố liên quan

đến đau.

Các đối tượng được nghiên cứu theo một mẫu bệnh án thống nhất.

2.3.3. Các biến số và chỉ số.

- Các biến số độc lập: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình

trạng hôn nhân, tiền sử gia đình bị các bệnh lý tâm thần.

- Thời gian bị bệnh, thể bệnh, mức độ bệnh.

- Các biến số phụ thuộc:

+ Triệu chứng đau :

Thời gian đau

Khởi phát

Tính chất đau : đau nhói, đau thắt, đau nặng…

Vị trí đau : đầu mặt cổ, ngực, thắt lưng, bụng, cơ xương khớp…

Số lượng vị trí đau : 1 vị trí, 2 vị trí…

Sự thay đổi của đau

Đáp ứng với cảm giác đau với thuốc giảm đau.

+ Các sự kiện đời sống :



35



2.3.4. Kỹ thuật thu thập thông tin.

2.3.4.1. Khám lâm sàng tâm thần

+ Tìm hiểu tiền sử, bệnh sử về sức khoẻ tâm thần.

+ Khám để phát hiện các triệu chứng đau: sự xuất hiện, diễn biến, mối

liên quan

Thang đánh giá đau (VAS)

Sử dụng sơ đồ đau.

+ Khám để phát hiện các triệu chứng rối loạn tâm thần, sự xuất hiện,

diễn biến, cụ thể:

- Biểu hiện chung: thông qua việc quan sát trang phục, thái độ tiếp xúc,

cử chỉ, nét mặt, tác phong của bệnh nhân.

- ý thức: đánh giá các năng lực định hướng về thời gian, không gian,

bản thân và xung quanh.

- Tư duy: đánh giá về hình thức và nội dung tư duy.

- Cảm giác, tri giác: phát hiện các loại rối loạn cảm giác (tăng hay giảm

cảm giác, loạn cảm giác bản thể...).

- Cảm xúc: đánh giá về khí sắc, phản ứng, cảm xúc, tâm trạng, ý tưởng

và hành vi tự sát.

- Trí nhớ: đánh giá trí nhớ ngắn hạn và dài hạn thông qua việc hỏi các

sự kiện có liên quan đến bệnh nhân.

- Chú ý: đánh giá sự tập trung chú ý bằng nghiệm pháp 100 - 7.

- Hoạt đợng:

• Hoạt đợng có ý chí: qua việc hỏi bệnh và quan sát hành vi tác phong

bệnh nhân.

• Hoạt động bản năng: ăn uống, tình dục, giấc ngủ.



36



2.3.4.2. Khám lâm sàng thần kinh, nội khoa

+ Khám toàn diện về nội khoa: Khám toàn thân, khám các bộ phận:

Tim mạch, hô hấp, tiết niệu sinh dục, cơ xương khớp...

+ Khám lâm sàng về thần kinh: ý thức, vận động, cảm giác, phản xạ,

các dây thần kinh sọ, các dấu hiệu thần kinh khu trú, các hội chứng thần kinh

chức năng khác...

2.3.4.3. Các xét nghiệm cận lâm sàng: Các xét nghiệm thường quy như

cơng thức máu, máu lắng, sinh hóa máu.

2.3.4.4. Thang lượng giá đau VAS sử dụng trong nghiên cứu:

Thang nhìn VAS (Visual Analogue Scale) lần đầu tiên được tác giả

Aitken thiết kế trong lĩnh vực tâm thần nhằm khảo sát nhiều loại cảm giác chủ

quan của người bệnh, trong đó có cảm giác đau. Theo Bech và cợng sự

(1986), đây là thang đánh giá có đợ tin cậy cao và có ý nghĩa khi sử dụng cho

quần thể bệnh nhân tâm thần. Thang lượng giá đau VAS là một công cụ nhằm

đánh giá tình trạng đau và cường đợ đau trên lâm sàng ở những bệnh nhân có

triệu chứng đau. Thang có dạng là mợt đường ngang 10 cm định hướng từ trái

sang phải. Ở một mặt, bệnh nhân tự đánh dấu vào mợt điểm trên đường ngang

đó nhằm biểu thị mức độ đau của mình trong mối liên quan giữa hai thái cực

là không đau ở đầu bên trái và đau dữ dội không thể chịu nổi ở đầu bên phải.

Ở mặt bên kia, tương ứng với vị trí đánh dấu của người bệnh, bác sỹ sẽ xác

định điểm lượng giá đau theo thang điểm từ 1 đến 10. Từ 0-3 điểm: đau mức

độ nhẹ. Từ 4 đến 7 điểm: đau mức độ trung bình. Từ 8 đến 10 điểm: đau mức

đợ nặng.

Thang có đợ nhạy và độ đặc hiệu cao, được ứng dụng rộng rãi trong

thực hành lâm sàng. Thang VAS có ưu điểm là đơn giản dễ thực hiện, có thể

sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần để so sánh, do vậy hữu ích cho việc đánh giá



37



đáp ứng của điều trị đau. Tuy nhiên thang VAS có nhược điểm là chỉ lượng

giá mợt chiều mà không xét đến các yếu tố đa chiều có thể ảnh hưởng tới đau.



38



2.3.4.5. Sơ đồ đau.

Đánh giá kết quả thu được ≥ 779,5, giá trị có ý nghĩa dự đoán đau do

rối loạn dạng cơ thể là 100%, còn khi kết quả ≤ 457,5% thì dự đoán đau do

thụ cảm đau cơ thể. Trong nghiên cứu thuần tập trên bệnh nhân đau dạng cơ

thể thì phương pháp bản vẽ đau này có thể dự đoán đúng 91,9% .

2.3.5. Xử lý số liệu

Số liệu thu thập được phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS.16

Số liệu được trình bày theo số lượng và tỷ lệ %, thuật toán so sánh χ2 và

t (student) được sử dụng.

2.3.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được sự đồng ý của bộ môn tâm thần trường Đại học Y

Hà Nội, lãnh đạo VSKTT và các khoa phòng liên quan.

- Được sự đồng ý của thân nhân, người nhà bệnh nhân hợp tác cung cấp

thông tin phục vụ nghiên cứu.

- Đảm bảo những thông tin mà bệnh nhân và người nhà cung cấp được

giữ bí mật, đảm bảo riêng tư.

- Bệnh nhân và người nhà tự nguyện tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân

và người nhà có quyền rút khỏi nghiên cứu không cần giải thích.

- Khi tiến hành công bố kết quả nghiên cứu chỉ công bố chỉ số, tỷ lệ,

không công bố đích danh những người tham gia nghiên cứu.



39



Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Tuổi

Bảng 3.1 Tuổi



Nhóm tuổi



Dưới 18

Từ 18 đến 29

Từ 30 đến 39

Từ 40 đến 49

Trên 50



Tổng

X ± SD

Dưới 30

Tuổi khởi phát Từ 30 trở lên

X ± SD



n

0

7

7

8

17



Tỷ lệ (%)

0

17,9

17,9

20,5

43,6



39

100

44,69 ± 13,89

n

Tỷ lệ (%)

13

33,3

26

67,3

41,13 ±14,25



Nhận xét:

- Nhóm tuổi hay gặp nhất là trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ là

43,6%, khơng có bệnh nhân nào dưới 18 tuổi, nhóm tuổi

18-29, và 30-39 chiếm tỷ lệ là 17,9%. Tuổi trung bình của

đới tượng nghiên cứu là 44,69 ± 13,89.

- Nhóm tuổi khởi phát từ 30 tuổi trở lên chiếm 67,3 %,

nhóm tuổi khởi phát dưới 30 tuổi chiếm 33,3 %. Tuổi khởi

phát trung bình của đối tượng nghiên cứu là 41,13 ±14,25

3.1.2. Giới tính



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Sơ đồ đau trong rối loạn dạng cơ thể

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×