Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
 Trong sách “Clinical Environmental Health and Toxic Exposures”,

 Trong sách “Clinical Environmental Health and Toxic Exposures”,

Tải bản đầy đủ - 0trang

52



A.M Obimakinde nghiên cứu cho thấy tuổi khởi phát trung bình của

RLCTH là 38,2±1,4, tuổi khởi phát trẻ nhất là 17, khởi phát trước 35 tuổi

chiếm 48,4% trong khi đó tuổi khởi phát sau tuổi 35 chiếm 51,7% [48]

4.1.1. Phân bố về giới tính

Kết quả nghiên cứu từ Biểu đồ 3.1 cho thấy trong tổng số 39 bệnh nhân đáp

ứng tiêu chuẩn bệnh nhân nghiên cứu, số bệnh nhân nữ là 24, chiếm tỷ lệ 62%, số

bệnh nhân nam là 15, chiếm tỷ lệ 38%, tỷ lệ nữ/nam xấp xỉ 1,63/1.

Theo nhiều tác giả trên thế giới trong nước và nước ngoài, RLCTH gặp ở

bệnh nhân nữ nhiều hơn bệnh nhân nam. Kết quả của chúng tôi phù hợp với Wool

và Barsky chỉ ra số bệnh nhân nữ mắc RLCTH cao gấp 1,47 lần nam [49].

Trong nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của 34 bệnh nhân RLCTH, tác giả Hà

An cho kết quả bệnh nhân nữ gấp 7 lần nam [42]. Kaplan và Sadock cũng

cho thấy tỉ lệ mắc RLCTH ở nữ cao gấp 5-20 lần so với ở nam, và tỷ lệ mắc

trong suốt cuộc đời của nữ là 1-2% [50]. Cloninger và cộng sự (1984) nhận

thấy ở 859 phụ nữ Thụy Điển có thấy 3% người mắc RLCTH [18]. Marvin

Swartz và cộng sự nghiên cứu trên bệnh nhân RLCTH cho kết quả tỷ lệ nữ

giới là 54,2% cao hơn tỷ lệ nam giới là 45,8% [14].

Có mợt sớ lý do có thể giải thích tại sao phụ nữ mắc rới loạn RLCTH

nhiều hơn nam giới. Đó là khả năng phụ nữ chịu những yếu tố nguy cơ như

lạm dụng tình dục và thể chất cao hơn gặp khó khăn nhiều hơn trong c̣c

sớng, xu hướng tìm kiếm sự quan tâm về y tế cao hơn, khả năng mắc các

RLTT trong đó có biểu hiện triệu chứng cơ thể lớn hơn, và cuối cùng là phụ

nữ quan tâm đến sức khỏe của bản thân nhiều hơn.

4.1.3. Nơi ở và tình trạng hơn nhân

Biểu đồ 3.2 cho biết tỷ lệ bệnh nhân sống vùng nông thôn, miền núi

(71,8%) cao hơn tỷ lệ bệnh nhân sống tại các vùng thành thị (28,2%).

Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của tác giả Hà An

(2006), tác giả cho kết quả số bệnh nhân sống ở nông thôn chiếm đa số với tỷ



53



lệ 77,5%, số bệnh nhân sống ở thành thị chỉ có 22,5% [42]. Ngược lại với kết

quả của chúng tôi, nghiên cứu của Robins Lee cho thấy những người sớng ở

vùng thành thị có biểu hiện RLCTH suốt đời cao hơn những người sống ở

vùng nông thôn, tuy nhiên mối liên quan này không chặt chẽ [51]. Swartz và

cộng sự nhận thấy một số đặc điểm của bệnh nhân RLCTH là da màu, độc

thân, ở nông thôn và có trình đợ văn hoá thấp [20]. Kaplan và Sadock cũng

chỉ ra tỷ lệ RLCTH thường gặp ở những đới tượng có trình đợ văn hóa kém

và thu nhập thấp [16]. Massimiliano Aragona và cộng sự nghiên cứu về ảnh

hưởng của giới tính và tình trạng hôn nhân đến các triệu chứng RLCTH ở

nhóm đới tượng nhập cư từ 4 vùng dân tộc khác nhau (Caucasians, Châu Á,

Trung Mỹ/Nam Mỹ, và Châu Phi) chỉ ra phụ nữ vùng Caucasians và Trung

Mỹ/Nam Mỹ có nguy cơ mắc RLCTH hơn [52]. Hay trong một nghiên cứu

trên đối tượng nhập cư khác của Massimiliano Aragona chỉ ra tỷ lệ RLTCH

cao hơn ở những người đến từ Nam Phi (30,1%) so với nhóm người đến từ

Châu Âu và Châu Á [53]. Trong cùng nghiên cứu này, Massimiliano Aragona

cho thấy người Italian mắc RLCTH cao hơn người di cư Châu Âu, sự khác

biệt này có thể do bệnh nhân Italian sớng trong điều kiện kinh tế xã hợi khó

khăn như thất nghiệp, vơ gia cư [53]. Như vậy, các nghiên cứu đều chỉ ra tỷ

lệ mắc RLCTH khác nhau ở mỗi vùng miền khác nhau và thường gặp ở

những nơi có điều kiện kinh tế văn hóa xã hợi thấp kém.

Biểu đồ 3.3 trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa số các bệnh

nhân ở trong tình trạng đã kết hôn chiếm 69,2%, chưa kết hôn chiếm 25,6%,

còn ly thân, li dị và góa bụa chỉ chiếm 2,6%. Qua nghiên cứu dựa trên BSI21- thang điểm đánh giá nguy cơ mắc rối loạn cơ thể hóa ở nhóm nhập cư,

Massimiliano Aragona và cợng sự cho kết quả ở những phụ nữ đã kết hơn có

sớ điểm cao hơn nam giới và những người chưa kết hôn [52]. Lee Robins chỉ

ra, ở cả hai giới đới tượng chưa kết hơn có tỷ lệ mắc RLCTH thấp nhất, tỷ lệ



54



mắc RLCTH tương đương ở nam giới ly thân/ly hơn và người góa vợ, ở nữ

giới RLTCH cao nhất ở người đã ly hôn/ly thân, tiếp đến là nữ giới góa chồng

và phụ nữ đã kết hôn [57]. Edward Shorter và cộng sự nghiên cứu cho thấy

tình trạng hôn nhân ở các bệnh nhân RLCTH bao gồm đã kết hơn, đã ly hơn/

ly thân, góa bụa, và chưa kết hôn chiếm tỷ lệ lần lượt là 57,5%, 11,6%, 9,3%,

21,6% [14].

Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng RLCTH thường gặp ở những bệnh nhân

đã lập gia đình. Điều này có thể lý giải là khi lập gia đình đòi hỏi các bệnh

nhân phải chịu áp lực nhiều hơn về mặt kinh tế, xã hợi nhiều hơn, góp phần

làm xuất hiện rối loạn này. Disorder in a Community Population

4.1.4. Trình độ văn hóa

Biểu đồ 3.4 trong nghiên cứu của chúng tơi chỉ ra có 7,7% sớ bệnh

nhân khơng biết chữ, bệnh nhân học tiểu học, trung học cơ sở và chiểm tỷ lệ

lần lượt là 10,3%, 38,5%. Bệnh nhân có trình đợ phổ thơng trung học,từ trung

cấp trở lên chiếm tỷ lệ 23,1% và 20,5%. Lee Robin chỉ ra tỷ lệ mắc RLCTH 1

năm và suốt đời ở nhóm có trình đợ dưới phổ thơng trung học cao hơn, và tỷ

lệ bệnh nhân có trình đợ văn hóa thấp cao gấp 4 lần [51]. Trong nghiên cứu

của tác giả Hà An (2006), kết quả cũng cho thấy gộp nhóm tiểu học và nhóm

trung học cho tỷ lệ cao hơn (57,5%) so với nhóm từ trung học phổ thơng trở

lên [42]. Tác giả Ashley M. Harris nghiên cứu và nhận thấy các bệnh nhân

RLCTH thường gặp ở nữ giới, khơng kết hơn, có trình đợ văn hóa thấp [20].

Gupta Prerana nghiên cứu bệnh nhân RLCTH cho kết quả tỷ lệ mù chữ chiếm

41,54%, bệnh nhân có trình đợ tiểu học, phổ thông trung học chiếm tỷ lệ lần

lượt 27%, 10%, và có 1,54% sớ bệnh nhân đã tớt nghiệp đại học [54]. Như

vậy các nghiên cứu chỉ ra RLCTH thường gặp ở những người có trình đợ văn

hóa dưới trung học phổ thông.

4.1.5. Lý do vào viện



55



Trong bảng 3.2 của chúng tơi chỉ ra có 22 bệnh nhân vào viện với lý do là

đau, chiếm 56,4%, và 17 bệnh nhân vào viện với lý do khác, chiếm 43,6%.

Theo bảng 3.4, các bệnh nhân có than phiền triệu chứng đau ở các vị trí như

đau đầu, đau bụng, đau khớp với tỷ lệ cao hơn nhiều so với lý do vào viện vì

đau. Điều này có thể giải thích rằng bệnh nhân than phiền các triệu chứng cơ

thể khác không phải là đau nhiều hơn như mệt mỏi, buồn nôn, hiện tượng trào

ngược, hoặc là hồi hộp trống ngực, và đây cũng có thể là lý do họ đi khám,

điều trị nhiều lần ở các chuyên khoa khác như Tiêu hóa, Tim mạch. Sau mợt

thời gian điều trị khơng đỡ, bệnh nhân mới tìm đến chuyên khoa Tâm thần.



4.1.6. Hoàn cảnh khởi phát

Kết quả bảng 3.3 cho thấy đa số các bệnh nhân đều có hoàn cảnh khởi

phát sau mợt sang chấn ( 64,1%), trong đó sau sang chấn bệnh cơ thể, sau

sang chấn gia đình, sau sang chấn công việc, và sau sang chấn xã hội chiếm tỷ

lệ lần lượt là 15,4%, 35,9%, 5,1%, 7,7%.

Trong nhiều nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Hà An (2006) và tác

giả Trần Nguyễn Ngọc (2010) chỉ ra những bệnh nhân được chẩn đoán rới

loạn liên quan stress đều có mẫu th̃n trong gia đình [41], [42]. Tác giả

Wolfgang Hiller và cs tại nước Đức (2010) nghiên cứu về RLCTH lại chỉ ra

hoàn cảnh áp lực về kinh tế chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 21,4%. Điều này có

thể giải thích là do sự khác nhau về nhiều mặt của nước phát triển và nước

đang phát triển, khác nhau về văn hóa phương Tây và văn hóa phương

Đơng. Việt Nam là nước phương Đông, và con người Việt Nam luôn coi

trọng các mối quan hệ trong gia đình, những mẫu thuần trong gia đình có

thể ảnh hưởng đến tâm lý của họ. Đối với nước Đức, phát triển kinh tế luôn

kèm theo những áp lực công việc đòi hỏi con người phải có kỹ năng tớt,



56



đây cũng có thể là mợt trong những nguyên nhân tỷ lệ áp lực công việc tại

Đức chiếm tỷ lệ cao nhất.

4.2. Đặc điểm về triệu chứng đau

4.2.1. Vị trí đau

Bảng 3.4 chỉ ra các vị trí đau thường gặp gồm đau đầu (87,2%), đau cổ vai

gáy (56,4%), đau ngực (56,4%), đau bụng chiếm (59%), 21 bệnh nhân có đau

lưng- thắt lưng (53,8%), 22 bệnh nhân có đau khớp chiếm (56,4%).

Tác giả Hà An nghiên cứu cho thấy vị trí đau thường gặp ở nhóm bệnh

nhân RLCTH trong cả quá trình bệnh là đau đầu (77,5%); đau khớp (72,5%);

đau bụng (67,5%) và đau ngực (62,5%) [42]. Niklaus Egloff nghiên cứu cho

thấy các bệnh nhân F45 cho thấy vị trí đau gặp nhiều nhất là đau lưng mạn

tính (n=16), đau cơ (n=14), đau ngực mạn (n=11) [55]. Tiêu chuẩn chẩn đoán

RLCTH trong DSM – IV đòi hỏi có ít nhất 8 triệu chứng bao gồm 4 triệu

chứng đau, 2 triệu chứng dạ dày - ruột, 1 triệu chứng về hoạt động tình dục và

sinh sản và 1 triệu chứng giả thần kinh [12]. Hầu hết các nghiên đều chỉ ra

bệnh nhân RLCTH có biểu hiện đau ở các vị trí khác nhau. Ewa EmichWidera nghiên cứu trên trẻ em RLCTH cho thấy trẻ có biểu hiện đau ở các vị

trí như đau đầu 10-30%, đau dạ dày 10-25%, đau các chi 10-20%, đau ngực

7-15% [56]. Trong nghiên cứu trên bệnh nhân F45 của Capucine Marquis, kết

quả cho thấy đau cơ xương khớp gặp ở 10% số trẻ bị bạo hành , và 7% số trẻ

không bị bạo hành [57]. Indra Mohan nghiên cứu trên bệnh nhân F45 cho

thấy các vị trí đau hay gặp là đau ngực chiếm 43%, đau đầu chiếm 40%, cảm

giác đau nóng rát thượng vị chiếm 35% [58]. Edward shorter nghiên cứu trên

bệnh nhân RLCTH chi ra triệu chứng đau là triệu chứng gặp nhiều nhất chiếm

46%, trong đó than phiền đau đầu chiếm 27% trong các triệu chứng đau [46].

Tác giả Trần Nguyễn Ngọc chỉ ra các vị trí đau hay gặp nhất ở các bệnh

nhân có rới loạn liên quan stress là đau vùng đầu-mặt-cổ: 77,8%; tiếp theo là



57



đau ngực: 67,8%, đau lưng - thắt lưng: 53,6%; đau các khớp: 44,6% và đau

bụng: 33,9% [41]

Như vậy, từ các nghiên cứu trên các đối tượng ở các độ tuổi khác nhau

chúng tôi nhận thấy RLCTH ở người lớn thường gặp triệu chứng đau đầu, và

ở trẻ độ tuổi thanh thiếu niên thường hay than phiền đau cơ xương khớp hơn.

4.2.2 Số vị trí đau

Biểu đồ 3.5 của chúng tôi cho thấy đa số các bệnh nhân có từ 4 vị trí đau

trở lên, chiếm 61,5%, sớ bệnh nhân có 1 vị trí đau chiếm 5,1 %, sớ bệnh nhân

có 2 vị trí đau chiếm 20,5 %, sớ bệnh nhân có 3 vị trí đau chiếm 12,8%, số vị

trí đau trung bình là 4,21 ± 1,92.

Trong DSM-IV-R, chẩn đoán RLCTH đòi hỏi ít nhất 4 vị trí đau ở các vị

trí khác nhau như đau đầu, đau bụng, đau lưng, đau khớp, đau các chi, đau

ngực, đau trực tràng, đau kinh nguyệt, đau lúc đi tiểu, đau khi giao hợp) [12].

Keson B. C. Tan và cợng sự (2004) nghiên cứu cho thấy có tương quan giữa

mức đợ cơ thể hóa dựa trên thang SCL-90 và số vị trí đau cơ [59]. Trần

Nguyễn Ngọc nghiên cứu cho thấy ở các bệnh nhân rối loạn liên quan stress

có 1 vị trí đau, 2 vị trí đau, trên 2 vị trí đau chiếm tỷ lệ lần lượt là 10,7%,

30,4%, 58,9% [41]. Theo Nguyễn Văn Tuấn, các biểu hiện lâm sàng của rới

loạn tḥc F45 có thể chia thành 2 nhóm, trong đó nhóm thứ 2 gồm mợt hay

nhiều triệu chứng xuất hiện thuộc về các cơ quan khác nhau mà không do

bệnh lý thực thể. Than phiền triệu chứng đau trong nhóm thứ 2 này có thể là ở

vùng trước tim, vùng bụng, đau thắt lưng, đau cơ bắp [60].

Như vậy, bệnh nhân RLCTH có các biểu hiện đau nhiều vị trí khác

nhau, ở nhiều cơ quan. Đây cũng có thể là lý do tại sao bệnh nhân thường hay

tìm đến nhiều chuyên khoa khác nhau trước khi đến điều trị tại chuyên khoa

tâm thần.

4.2.3. Kiểu đau



58



Nghiên cứu của chúng tôi ở biểu đồ 3.6 chỉ ra đa sớ bệnh nhân có cảm giác

đau mơ hồ, chiếm 41%, sớ bệnh nhân có đau b́t hay nhói chiếm 30,8%, đau

bỏng rát chiếm 15,4%, và đau như thít chặt, đè nặng chiếm 12,8%.

Ít có tài liệu mơ tả kiểu đau trong RLCTH một cách cụ thể. Trong DSM

IV-TR chỉ ra bệnh nhân RLCTH thường có đau bụng với tính chất mơ hồ khó

xác định được vị trí chính xác, hay ở vị trí trực tràng và âm đạo đôi khi có

cảm giác đau nóng rát [12]. A.M. Obimakinde nghiên cứu mợt cách cụ thể

cho thấy có 80% sớ bệnh nhân có cảm giác đau đè nặng ngực, 40% sớ bệnh

nhân có cảm giác đau rát bỏng lan tỏa, và sớ bệnh nhân có cảm giác đau nhói

bên trong chiếm 5%, có đến 40% bệnh nhân có than phiền đau rát vùng đáy

chậu [48]. Theo S.F.Dworkin, các triệu chứng của RLCTH trong đó có triệu

chứng đau xuất hiện có thể do giảm ngưỡng cảm giác, đau tái đi tái lại là triệu

chứng than phiền phổ biến nhất. Dựa trên tính chất sinh lý của đau như cường

độ đau, thời gian đau, kiểu đau, và vị trí đau (đau nhẹ, đau vừa, đau âm ỉ, đau

nhói, đau thoáng qua, đau theo cơn), triệu chứng đau của RLCTH có thể xuất

hiện do sai cảm giác [61]. Trần Nguyễn Ngọc chỉ ra kiểu đau hay gặp nhất

trong các rối loạn liên quan đến stress là đau mơ hồ, chiếm 41% [41]. Tác giả

R.G.J.Alfven chỉ ra rằng hệ thống cơ rất nhạy cảm với các stress. Stress có thể

cảm ứng gây đau khu trú và gây cảm giác căng cơ, như ở cổ và vai. Có nghiên

cứu cho thấy có mới liên quan giảm ngưỡng đau ở vùng thái dương và đau

đầu khi có stress [25]. R.G.J.Alfven nghiên cứu về đặc điểm đau do yếu tố tâm

lý ở trẻ cho rằng cảm giác đau thường có đặc điểm của đau phần cơ và mơ liên

kết, cũng có trường hợp rất khó phân biệt với đau nội tạng [25]. Các triệu chứng

đau thực thể trong quá khứ có thể là nền tảng cho triệu chứng đau do nguyên

nhân tâm lý sau này, ví dụ bệnh nhân than phiền đau tai có thể có tiền sử viêm

tai giữa trong quá khứ, bệnh nhân than phiền đau họng có tiền sử áp xe quanh



59



họng, hay bệnh nhân có triệu chứng đau khi đi tiểu do từng bị viêm đài bể

thận trước đây [25].

Như vậy, khơng có kiểu đặc thù nào cho triệu chứng đau trong RLCTH.

Bệnh nhân có thể có những giảm ngưỡng cảm giác hay sai cảm giác, đây là

nền tảng xuất hiện cảm giác đau khác nhau.

4.2.4. Tính chất luân chuyển của đau

Nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.6 cho thấy phần lớn các triệu chứng

đau khơng có tính ln chuyển. Tính chất ln chuyển đau được hiểu là khi

đau xuất hiện ở vị trí mới thì đau ở vị trí cũ không còn nữa. Theo biểu đồ 3.5,

có tới 61,5% sớ bệnh nhân có than phiền đau ở ít nhất 4 vị trí trên cơ thể.

Nhiều tác giả cũng ghi nhận rằng bệnh nhân mắc RLCTH có nhiều vị trí đau

trên cơ thể. Điều này có thể làm cho tính chất luân chuyển của đau trong

RLCTH khó xác định, và bệnh nhân có thể nhầm giữa tính chất có ln

chuyển và khơng ln chuyển.

Theo biểu đồ 3.6, đa sớ các bệnh nhân có kiểu đau mơ hồ. Khi bệnh

nhân than phiền kiểu đau mơ hồ khiến họ khó có thể xác định được tính chất

lan chuyển của đau

4.2.5. Tần suất cơn đau

Trong kết quả ở bảng 3.7 của chúng tôi chỉ ra tính chất đau theo cơn

gặp ở 66,7% số bệnh nhân, 33,3% sớ bệnh nhân có tính chất đau liên tục.

Angana Mukherjee nghiên cứu tính chất đau RLCTH ở trẻ em chỉ ra trẻ

thường xuyên có cảm giác đau căng đầu, ngược lại, đau nửa đầu thỉnh thoảng

diễn ra, và than phiền đau đầu hay gặp ở trẻ nữ hơn trẻ nam [61]. Theo nghiên

cứu, tác giả Trần Nguyễn Ngọc cho kết quả đa sớ các bệnh nhân F45 có biểu

hiện đau liên tục chiếm 65% [41].

Kiểu đau hay gặp nhất ở bệnh nhân RLCTH là đau mơ hồ, bệnh nhân

cũng khó xác định được tính chất đau theo cơn hay đau liên tục. Hơn nữa,



60



biểu hiện lâm sàng của RLCTH có tính chất dao động, sự khởi phát, duy trì,

mức độ nặng của các triệu chứng có thể liên quan đến các yếu tố tâm lý, cho

nên tần suất triệu chứng đau thay đổi theo.

4.2.5 Cường độ đau theo thang điểm VAS

Bảng 3.8 của chúng tơi chỉ ra khơng có bệnh nhân nào có mức đợ đau nhẹ,

có 74,4% sớ bệnh nhân có biểu hiện đau mức đợ vừa, sớ bệnh nhân có biểu

hiện đau nặng chiếm tỷ lệ 25,6%. Điểm trung bình đau theo thang VAS là

6,59 ± 1,41.

Angana Mukherjee nghiên cứu RLCTH ở trẻ em từ 3 đến 15 tuổi chỉ ra có

60,9% trẻ có than phiền đau đầu mức đợ nhẹ, 36,5% sớ trẻ có đau đầu mức đợ

vừa, và 2,6% sớ trẻ có đau mức đợ nặng. Sự khác nhau về tỷ lệ mức độ đau

trong kết quả của chúng tơi và Angana Mukherjee có thể do ngưỡng chịu đau

của trẻ thấp, cho nên chỉ cần cảm thấy có thay đổi nhỏ trên cơ thể cũng khiến

trẻ khó chịu và than phiền ngay lập tức [62].

Theo tác giả Elizabete M. Rocha chỉ ra với những trẻ RLCTH có sự thích

ứng kém, có trải nghiệm quá khứ đau buồn hoặc có tiền sử bệnh lý thường có

biểu hiện mức độ đau mạnh hơn [26]. Niklaus Egloff nghiên cứu đau trên

bệnh nhân F45 chỉ ra mức độ đau trung bình của các bệnh nhân theo thang

điểm từ 1 đến 10 là 6,4 ±2,2. Kết quả này phù hợp với kết quả của chúng tôi.

Như vậy, mặc dù bệnh nhân RLCTH khơng có tổn thương thực thể tương

xứng, nhưng cảm nhận đau ở mức đợ trung bình có thể làm bệnh nhân giảm

khả năng duy trì sự tập trung trong cơng việc và ảnh hưởng đến chất lượng

c̣c sớng.

4.2.6 Tính chất đối xứng

Bảng 3.9 trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 76,9% sớ bệnh

nhân có triệu chứng đau đối xứng hai bên.

Angana Mukherjee nghiên cứu ở trẻ RLCTH nhận định kiểu đau đầu

như ép chặt, nặng đầu thường có tính chất đới xứng ở hai bên, thường liên



61



quan với những căng thẳng ở nhà hay ở trường. Tác giả cũng cho kết quả 53%

sớ trẻ có đau vùng trán, 29,6% trẻ có đau cả hai bên đầu.

Trong nghiên cứu của Edward shorter chỉ ra 45% bệnh nhân có đau ở 1

bên cơ thể, trong đó biểu hiện đau bên trái chiếm 63% [46]. Nghiên cứu của

Niklaus Egloff có kết quả là đa sớ các bệnh nhân có biểu hiện đau kiểu đối

xứng hai bên, chiếm 75,8% [55].

Các nghiên cứu đều chỉ ra triệu chứng đau trong RLCTH không theo

chi phới của thần kinh, và thường có biểu hiện lan tỏa hai bên, khơng có tính

chất khu trú.

4.2.7 Thời gian triệu chứng đau

Biểu đồ 3.7 của chúng tôi chỉ ra sớ bệnh nhân có thời gian đau dưới 6

tháng chiếm 2,6%, bệnh nhân có thời gian đau từ 6 tháng đến 2 năm chiếm

38,5%, 59% sớ bệnh nhân có thời gian đau trên 2 năm. Các bệnh nhân

RLCTH có biểu hiện mạn tính, thường kéo dài nhiều năm.

DSM-IV-TR chỉ ra triệu chứng của hội chứng Briquet đa dạng và

thường nặng ở những năm đầu của người trưởng thành, và kéo dài mạn tính

với tính chất dao động lúc tăng lúc giảm [12]. Theo tác giả Gupta Prerana

nghiên cứu bệnh nhân RLCTH dựa trên DSM-IV-TR cho thấy thời gian biểu

hiện các triệu chứng có liên quan với mợt sớ ́u tớ. Thời gian biểu hiện bệnh

có mới tương quan dương tính với số điểm dựa trên thang đánh giá lo âu

HAM-A, tuổi càng lớn thời gian bệnh càng kéo dài, bệnh nhân mù chữ có thời

gian bị bệnh dài hơn. Đồng thời, tác giả cũng chi ra thời gian mắc bệnh khơng

có sự khác biệt giữa nam và nữ, giữa bệnh nhân ở nông thôn và thành thị,

giữa các tình trạng hơn nhân, và tình trạng thất nghiệp khơng có liên quan

thời gian mắc bệnh [63]. Christoph Pieh, nghiên cứu chỉ ra thời gian đau

kéo dài trung bình là 8 năm [64].



62



Như vậy, đặc điểm lâm sàng đau trong RLCTH có tính chất dai dẳng,

triệu chứng thay đổi, kéo dài trong nhiều năm.

4.2.8. Số điểm sơ đồ đau

Trong nghiên cứu ở bảng 3.10 của chúng tơi có 24 bệnh nhân có sớ

điểm sơ đồ đau ≥ 779,5, chiếm 61,5%, và 4 bệnh nhân có sớ điểm sơ đồ đau <

457,5, chiếm 10,3%. Kết quả này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu

của Niklaus Egloff, có 69,3% bệnh nhân rối loạn chức năng đau

chức năng có số điểm 779,5%. Tác giả Niklaus Egloff cũng

nhấn mạnh sơ đồ đau có giá trị cao trong phân biệt triệu

chứng đau do nguyên nhân tâm lý và triệu chứng đau thực

thể. Tác giả nhận định sơ đồ đau khơng có giá trị chẩn đốn,

tuy nhiên sơ đồ đau có thể góp phần giúp các nhà lâm sàng

phân biệt đau do bệnh cơ thể và đau trong nguyên nhân tâm



4.2.9. Liên quan giấc ngủ và triệu chứng đau

Trong bảng 3.11 cho thấy

• Giấc ngủ: có 79,5% sớ bệnh nhân có biểu hiện đau liên quan đến giấc ngủ.

Volker Busch nghiên cứu giấc ngủ ở các bệnh nhân F45 cho thấy cảm

nhận đau tăng lên sau một đêm mất ngủ, và trở lại như ban đầu sau khi

giấc ngủ được hồi phục [65].

4.2.10 Đáp ứng với chun khoa khác

Bảng 3.12 cho thấy có tới 33,3% sớ bệnh nhân có đáp ứng điều trị ở

các chuyên khoa khác, và 26 bệnh nhân chiếm 66,7% khơng có đáp ứng. Đa

số các bệnh nhân đã khám các chuyên khoa khác nhau trức khi vào vên SKTT

4.2.10. Điều trị

Bảng 3.13 của chúng tôi cho thấy đa số các bệnh nhân được điều trị

bằng hóa dược đơn trị liệu. Stuart L.Kurlansik nhận định có thể sử dụng liệu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

 Trong sách “Clinical Environmental Health and Toxic Exposures”,

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×