Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hệ thống miễn dịch và chuyển hóa

Hệ thống miễn dịch và chuyển hóa

Tải bản đầy đủ - 0trang

31



thống miễn dịch, dẫn đến não sản xuất quá mức cytokines tiền viêm, đây có

thể ́u tớ gây ra triệu chứng đau [37].

Bên cạnh đó, tác giả Mika Hakala cũng tìm thấy ở những bệnh nhân

RLCTH có giảm chuyển hóa glucose ở các nhân đuôi, nhân putamen trái và

hồi trước trung tâm [37].

• Yếu tố nhân cách

Véronique De Gucht chỉ ra rằng cá thể có tính cách khơng ổn định là yếu

tố dự đoán dễ mắc RLCTH [38]. Trong nghiên cứu của Mika Hakala và cộng

sự nghiên cứu trên 10 phụ nữ RLCTH chỉ ra tính cách né tránh có liên quan

đến mức độ nặng của RLCTH [37]. Nghiên cứu phân tích tổng hợp của

Robert và cộng sự kết luận nhân cách chống đối xã hội, nhân cách ranh giới,

nhân cách kịch tính thường gặp ở bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa hơn các rới

loạn khác [39] .

1.3. Các nghiên cứu về rối loạn cảm giác đau trong RLCTH ở Việt Nam

và nước ngoài.

Trong nghiên cứu của Egloff N và cợng sự, bệnh nhân RLCTH có đợ

tuổi trung bình khoảng 30 tuổi, rối loạn này thường gặp ở nữ giới chiếm

62,9% [31]. Tác giả cũng chỉ ra tính chất đau của RLCTH rất đa dạng, thay

đổi. Cũng trong cùng nghiên cứu 62 bệnh nhân này, kết quả cho thấy vị trí

đau của bệnh nhân rất khác nhau : vị trí đau hay gặp nhất là đau lưng mạn tính

(n=16), đau cơ (n=14), đau ngực mạn (n=11).

Trong nghiên cứu của Kerson B.C Tan và cộng sự về mối liên quan của

rới loạn cơ thể hóa và triệu chứng đau ở 196 bệnh nhân, chỉ ra có mới tương

quan đồng biến giữa đau cơ, và đau khớp với số điểm rối loạn cơ thể hóa theo

SCL-90, với lần lượt r=0,41 [40].



32



Tác giả Niklaus Egloff và cộng sự nghiên cứu về sự tăng nhạy cảm và

tăng cảm giác đau ở bệnh nhân rối loạn dạng cơ thể, tác giả chỉ rõ hội chứng

đau chức năng được đặc trưng bởi sự tăng nhạy cảm đau. Kết quả thu được

cho thấy trong 67 bệnh nhân rới loạn dạng cơ thể có 41% sớ bệnh nhân có

đáp ứng tiêu chuẩn hợi chứng đau chức năng, và ở những bệnh nhân rới loạn

dạng cơ thể có sự tăng cảm giác đau [31].

Tác giả Edward Shorter nghiên cứu về điều trị nội trú ở 92 bệnh nhân

rối loạn cơ thể hóa chỉ ra rằng triệu chứng đau là triệu chứng nổi bật chiếm

46% tổng số các triệu chứng, trong các triệu chứng đau thì đau đầu là 27%,

còn lại là các triệu chứng đau ở vị trí khác. Tác giả cho thấy tính chất đau khu

trú chiếm 45%, 19 bệnh nhân có đau ở mợt bên cơ thể, 63% bệnh nhân than

phiền đau ở bên trái cơ thể [24]

Nghiên cứu về bản vẽ đau của Nikalaus Egloff và cợng sự chỉ ra rằng

bệnh nhân RLCTH có tính chất đau đới xứng và có tổng sớ điểm, sớ vùng đau

cao hơn hẳn nhóm khơng có RLCTH [31].

Trong nghiên cứu trên 43 bệnh nhân của Trần Nguyên Ngọc về đau

trong các rối loạn stress chỉ ra 65% trong số bệnh nhân RLDCT có tính chất

đau liên tục, và 35 % bệnh nhân có đau từng cơn. Cũng trong nghiên cứu này,

thì 75% bệnh nhân khởi phát đau là từ từ tăng dần, và đau được bệnh nhân mô

tả là cảm giác đau mơ hồ, có tính chất thay đổi. Trong đó, thì 73,2 % bệnh

nhân có cảm giác liên quan đến yếu tố cảm xúc [41].

Tác giả Trần Thị Hà An nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của rới loạn

cơ thể hóa đã chỉ ra vị trí đau thường gặp là vùng đầu, bụng, khớp. Và triệu

chứng đau này có thuyên giảm khi được điều trị bởi bác sĩ tâm thần [42].



33



Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu.

- Nghiên cứu được tiến hành tại: Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện

Bạch Mai.

- Thời gian nghiên cứu : tháng 8/ 2016 đến tháng 9/ 2017

2.2. Đối tượng nghiên cứu.

2.2.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu.

Các bệnh nhân nghiên cứu được chẩn đoán rới loạn cơ thể hóa và có triệu

chứng đau theo tiêu chuẩn ICD - 10F (1992) của Tổ chức Y tế Thế giới.

2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ.

+ Bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn dạng cơ thể nhưng có chấn

thương sọ não, có bệnh thực tổn não, nghiện rượu, có trạng thái nhiễm đợc ma

t hoặc các chất gây nghiện khác.

+ Bệnh nhân có triệu chứng đau trong các bệnh lý thực thể.

+ Bệnh nhân không tự nguyện tham gia nghiên cứu, các bệnh nhân khơng

có người nhà cung cấp tư liệu khách quan về tiền sử và bệnh sử có liên quan.

2.3. Phương pháp nghiên cứu.

2.3.1. Cỡ mẫu.

Cỡ mẫu được tính theo công thức “Ước tính một tỉ lệ trong quần thể”.



n=

Trong đó:

n: là cỡ mẫu nghiên cứu.



34



p: là tỷ lệ bệnh nhân theo nghiên cứu trước (theo nghiên cứu của

Margot W.M. De Waal 2004) là 16,1% [1].



α: ước tính trong nghiên cứu = 0,05 ứng với độ tin cậy là 95%.

Z2(1-α/2) : là hệ số tin cậy = 1,96 (với α = 0,05).

d: độ chính xác mong muốn = 12%

Thay vào tính được n = 37

Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên cỡ mẫu là 39 bệnh nhân

2.3.2. Thiết kế nghiên cứu.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo phương pháp mô tả lâm sàng cắt

ngang, có tham khảo diễn biến quá trình bệnh tật và các yếu tố liên quan

đến đau.

Các đối tượng được nghiên cứu theo một mẫu bệnh án thống nhất.

2.3.3. Các biến số và chỉ số.

- Các biến số độc lập: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình

trạng hôn nhân, tiền sử gia đình bị các bệnh lý tâm thần.

- Thời gian bị bệnh, thể bệnh, mức độ bệnh.

- Các biến số phụ thuộc:

+ Triệu chứng đau :

Thời gian đau

Khởi phát

Tính chất đau : đau nhói, đau thắt, đau nặng…

Vị trí đau : đầu mặt cổ, ngực, thắt lưng, bụng, cơ xương khớp…

Số lượng vị trí đau : 1 vị trí, 2 vị trí…

Sự thay đổi của đau

Đáp ứng với cảm giác đau với thuốc giảm đau.

+ Các sự kiện đời sống :



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hệ thống miễn dịch và chuyển hóa

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×