Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV, triệu chứng đau đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán rối loạn cơ thể hóa.

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV, triệu chứng đau đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán rối loạn cơ thể hóa.

Tải bản đầy đủ - 0trang

27



Kiểu đau: R.G.J.Alfven nghiên cứu về đặc điểm đau do yếu tố tâm lý ở

những trẻ này cho rằng cảm giác đau có thể gặp như co thắt ở đầu và chân, cơn

đau ngực ngắn như là bị đâm. Triệu chứng đau thường có đặc điểm của đau phần

cơ và mơ liên kết, cũng có trường hợp khó phân biệt với đau nội tạng [25].

Trong tổng quan về triệu chứng đau do nguyên nhân tâm lý cho thấy

khó có thể mơ tả chính xác kiểu đau. Tuy nhiên có thể mơ tả đau nhói như bị

dao cắt, đau âm ỉ như có vật đè nặng, đau bỏng rát và đau xé. Các triệu chứng

đau thực thể trong quá khứ có thể là nền tảng cho triệu chứng đau do nguyên

nhân tâm lý sau này, ví dụ bệnh nhân than phiền đau tai thì họ có tiền sử viêm

tai giữa trong quá khứ, bệnh nhân than phiền đau họng có tiền sử áp xe quanh

họng, hay bệnh nhân có triệu chứng đau khi đi tiểu do từng bị viêm đài bể

thận trước đây [25].

Tác giả R.G.J.Alfven chỉ ra rằng hệ thống cơ rất nhạy cảm với các

stress. Stress có thể cảm ứng gây đau khu trú và gây cảm giác căng cơ, như ở

cổ và vai. Có nghiên cứu cho thấy có mới liên quan giảm ngưỡng đau ở vùng

thái dương và đau đầu khi có stress [25].

Cường đợ đau: Có bằng chứng về biểu hiện khác nhau qua nét mặt ở

trẻ em và người lớn bị RLCTH trong phản ứng đau. Theo tác giả Elizabete M.

Rocha thì cách phản ứng đau là yếu tố chỉ điểm của rối loạn cơ thể hóa. Tác

giả chỉ ra với những trẻ có sự thích ứng kém hay có trải nghiệm quá khứ đau

buồn hay có tiền sử bệnh lý thường có phản ứng đau mạnh hơn [26] .

Yếu tố liên quan:

+ Giấc ngủ: Trong nghiên cứu của Volker Busch khơng có kết ḷn cụ thể về

triệu chứng mất ngủ ở bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra

ở những bệnh nhân rới loạn dạng cơ thể nói chung có ngưỡng cảm giác đau đè

nặng và đau nhiệt khơng thay đổi trong giai đoạn mất ngủ, nhưng sau khi hồi



28



phục giấc ngủ thì ngưỡng đau này tăng lên, các triệu chứng đau sẽ thuyên

giảm [27] .

b. Sơ đồ đau trong rối loạn dạng cơ thể

Sơ đồ được sử dụng rộng rãi để ghi nhận những triệu chứng cơ thể một

cách khách quan. Cùng với khám bệnh lâm sàng tỉ mỉ, các xét nghiệm cận

lâm sàng thì sơ đồ đau góp phần giúp chẩn đoán phân biệt mợt vài hợi chứng

đau cục bộ, ví dụ đau thắt lung, đau vai mạn tính đau thần kinh , và đau đầu

[28], [29], [30]. Các bệnh nhân được sử dụng bút vẽ lên mô hình cơ thể dài

105 mm. Biểu đồ biểu thị 4 phương diện của cơ thể : mặt trước, mặt sau, mặt

phải, mặt trái.

Biểu đồ bao gồm: hình dạng ( đường, đánh bóng, vòng tròn, hình chữ

nhật ), hướng ( đường nằm ngang, tính đối xứng), vị trí đau theo viền cơ thể

( các đường viền cơ thể, các điểm đánh dấu vượt ngoài biểu đồ cơ thể ), và số

lượng vị trí đau ( ví dụ số lượng phần tư được đánh dấu, số vùng đau, số điểm

khác nhau ), cũng như kích thước của các vùng đau ( dấu dài nhất ). Nghiên

cứu chỉ ra những bệnh nhân có nhiều điểm đau, đau theo hình thái đới xứng

và kích thước đau lớn, thường là triệu chứng đau cơ thể. Niklaus Egloff và

cộng sự đã nghiên cứu trên những bệnh nhân có triệu chứng đau khơng thể

giải thích được theo cấu trúc giải phẫu thần kinh và tổn thương bệnh lý thần

kinh, tác giả đưa ra công thức dự đoán nguyên nhân đau theo công thức: [28]

55 x Tổng số vùng đau + 32,5 x số vạch đau dài ( ít nhất 5 mm) + 187 (

nếu đau có tính chất đối xứng ) [31]



29



Đau chức năng dạng cơ

thể



a.

b.

c.

d.

e.

f.

g.

h.

i.

j.



Vành tai

Cơ ức đòn chum

Quanh ổ mắt

Cổ

Viền

Vạch ngang

Vạch dọc

Lan hoa

Điểm đau

Góc vuông



Các điểm không đặc hiệu



k. Dấu vòng

l. Dấu oval

m. Dấu ngoài rìa

n. Dấu –X

o. Dấu gạch chéo



Sơ đồ 1.3. Sơ đồ đau

Kết quả thu được ≥ 779,5, giá trị này dự đoán đau do rối loạn dạng cơ

thể là 100%, còn khi kết quả ≤ 457,5 thì dự đoán đau do các bệnh cơ thể.

Trong nghiên cứu thuần tập trên bệnh nhân có triệu chứng đau cơ thể thì

phương pháp bản vẽ đau này có thể dự đoán đúng 91,9%.

1.2.2. Những yếu tố liên quan đến đau trong RLCTH

a. Học thuyết gắn kết trong RLCTH

Eva Neumann nghiên cứu trên 202 bệnh nhân ngoại trú đã chỉ ra có

mới liên quan giữa RLCTH và sự gắn kết không đảm bảo [32]. Trong nghiên

cứu của Maunder Md RG ở 292 trẻ cũng chỉ ra RLCTH có liên quan với sự

gắn kết khơng đảm bảo [29].



30



Thêm nữa, trong một vài nghiên cứu lớn ở những cơ sở chăm sóc y tế

ban đầu chỉ ra có mới tương quan đồng biến giữa sớ triệu chứng cơ thể với

những trải nghiệm đau buồn, sợ hãi lúc nhỏ, và ở những bệnh nhân có triệu

chứng khơng thể giải thích bằng y học thường có nhiều những trải nghiệm

khơng an toàn hơn những bệnh nhân có triệu chứng thực thể [34], [35].

Bệnh nhân RLCTH, đau lưng mạn tính, và đau cơ nhạy cảm hơn với

kích thích đau, ở họ có sự tăng quá trình xử lý đau trung ương trong vòng thụ

cảm đau- động cơ- cảm xúc, (ACC, insula), và trong vùng điều chỉnh cảm xúc

(mPFC), điều này được thể hiện trên nghiên cứu fMRI. Trong xét nghiệm

chụp PECT, kết quả cho thấy ở bệnh nhân đau trong RLCTH có sự thay đổi

dòng tuần hoàn não [34].

b. Các yếu tố bên trong

• Yếu tố di truyền



Svenn Torgersen nghiên cứu trên 14 cặp trẻ sinh đôi cùng trứng và 21

cặp trẻ sinh đôi khác trứng, tác giả không nghiên cứu cụ thể về RLCTH

nhưng ông chỉ ra tỷ lệ mắc RLDCT ở hai nhóm nghiên cứu lần lượt là 29% và

10%. Tác giả kết luận rằng các sang chấn tâm lý lúc nhỏ có liên quan đến

nguy cơ mắc rối loạn dạng cơ thể (F45) ở các cặp song sinh [36].

Robert Cloninger nghiên cứu về yếu tố gen và môi trường ở bệnh nhân

RLCTH cho biết hoàn cảnh mơi trường sau sinh có ảnh hưởng khơng nhỏ đến

nguy cơ mắc RLCTH[32].

• Hệ thống miễn dịch và chuyển hóa



Mika Hakala và cộng sự nghiên cứu về đặc điểm tính cách với RLCTH

cho thấy chỉ số protein tế bào Clara CC16 và các kháng cytokine tăng cao ở

những bệnh nhân RLCTH. Tác đợng của mơi trường có thể ảnh hưởng đến hệ

thống miễn dịch cơ thể. Nghiên cứu cho thấy nếu con người đang ở giai đoạn

phát triển thường xuyên tiếp xúc với nguy hiểm có thể kích thích đáp ứng hệ



31



thống miễn dịch, dẫn đến não sản xuất quá mức cytokines tiền viêm, đây có

thể ́u tớ gây ra triệu chứng đau [37].

Bên cạnh đó, tác giả Mika Hakala cũng tìm thấy ở những bệnh nhân

RLCTH có giảm chuyển hóa glucose ở các nhân đi, nhân putamen trái và

hồi trước trung tâm [37].

• Yếu tố nhân cách

Véronique De Gucht chỉ ra rằng cá thể có tính cách khơng ổn định là yếu

tố dự đoán dễ mắc RLCTH [38]. Trong nghiên cứu của Mika Hakala và cộng

sự nghiên cứu trên 10 phụ nữ RLCTH chỉ ra tính cách né tránh có liên quan

đến mức đợ nặng của RLCTH [37]. Nghiên cứu phân tích tổng hợp của

Robert và cộng sự kết luận nhân cách chống đối xã hội, nhân cách ranh giới,

nhân cách kịch tính thường gặp ở bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa hơn các rới

loạn khác [39] .

1.3. Các nghiên cứu về rối loạn cảm giác đau trong RLCTH ở Việt Nam

và nước ngoài.

Trong nghiên cứu của Egloff N và cợng sự, bệnh nhân RLCTH có đợ

tuổi trung bình khoảng 30 tuổi, rối loạn này thường gặp ở nữ giới chiếm

62,9% [31]. Tác giả cũng chỉ ra tính chất đau của RLCTH rất đa dạng, thay

đổi. Cũng trong cùng nghiên cứu 62 bệnh nhân này, kết quả cho thấy vị trí

đau của bệnh nhân rất khác nhau : vị trí đau hay gặp nhất là đau lưng mạn tính

(n=16), đau cơ (n=14), đau ngực mạn (n=11).

Trong nghiên cứu của Kerson B.C Tan và cộng sự về mối liên quan của

rới loạn cơ thể hóa và triệu chứng đau ở 196 bệnh nhân, chỉ ra có mới tương

quan đồng biến giữa đau cơ, và đau khớp với số điểm rới loạn cơ thể hóa theo

SCL-90, với lần lượt r=0,41 [40].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV, triệu chứng đau đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán rối loạn cơ thể hóa.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×